Thứ ba 09/06/2026 08:17
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện các quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả đăng ký hoạt động phát hành xuất bản phẩm điện tử

Hoạt động phát hành XBPĐT được hiểu là quá trình cung cấp các sản phẩm xuất bản trong định dạng điện tử cho khách hàng hoặc độc giả và quá trình này thường được thực hiện thông qua các nền tảng trực tuyến như các trang web, ứng dụng di động hoặc các kênh phân phối điện tử khác thay vì các kênh phát hành truyền thống như trao đổi mua bán trực tiếp.

1. Khái niệm đănghoạt động phát hành xuất bản phẩm điện tử

Khái niệm xuất bản phẩm điện tử (XBPĐT) được quy định cụ thể trong Luật Xuất bản năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2018 (sau đây gọi tắt là Luật Xuất bản), theo đó: XBPĐT là xuất bản phẩm dưới các hình thức như: Sách in, sách chữ nổi, tranh, ảnh, bản đồ, áp-phích, tờ rời, tờ gấp, các loại lịch, bản ghi âm, ghi hình có nội dung thay sách hoặc minh họa cho sách… được định dạng số và đọc, nghe, nhìn bằng phương tiện điện tử[1]. Hoạt động phát hành XBPĐT được hiểu là quá trình cung cấp các sản phẩm xuất bản trong định dạng điện tử cho khách hàng hoặc độc giả và quá trình này thường được thực hiện thông qua các nền tảng trực tuyến như các trang web, ứng dụng di động hoặc các kênh phân phối điện tử khác thay vì các kênh phát hành truyền thống như trao đổi mua bán trực tiếp.

Đăng ký hoạt động phát hành XBPĐT là một thủ tục pháp lý mà theo đó cơ sở hoạt động phát hành phải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc cơ sở đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện để hoạt động phát hành xuất bản phẩm theo đúng quy định của pháp luật. Đồng thời, cơ sở được Nhà nước đồng ý bằng việc cấp Giấy xác nhận đăng ký hoạt động phát hành XBPĐT, đây được xem là bằng chứng pháp lý bảo đảm chủ thể đủ điều kiện tiến hành hoạt động phát hành XBPĐT một cách hợp pháp và nhận được sự bảo hộ của pháp luật. Điều này nghĩa là cơ sở hoạt động phát hành XBPĐT được Nhà nước thừa nhận về mặt pháp luật, có quyền thực hiện các hoạt động phát hành XBPĐT như đã đăng ký với cơ quan có thẩm quyền. Mặt khác, đăng ký hoạt động phát hành XBPĐT cũng chính là cơ sở bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho hoạt động phát hành XBPĐT của cơ sở hoạt động phát hành.

2. Hạn chế và bất cập của pháp luật về đăng ký hoạt động phát hành xuất bản phẩm điện tử

2.1. Pháp luật chưa theo kịp sự phát triển xã hội

Trong thời đại Cách mạng công nghiệp 4.0, khi mà công nghệ dần trở thành một thứ không thể thiếu trong cuộc sống chúng ta, người dân dần tiệm cận hơn với công nghệ, theo đó, nhu cầu tìm đọc, sử dụng sách, báo, tài liệu… trên thiết bị điện tử ngày càng nhiều hơn nhưng các văn bản pháp luật quy định về XBPĐT ở nước ta vẫn còn nhiều hạn chế. Luật Xuất bản dành một chương để quy định về XBPĐT[2]. Trong môi trường công nghệ số, XBPĐT xuất hiện với đa dạng các loại hình khác nhau, được tích hợp trên các phương tiện điện tử khác nhau, kết hợp với nhiều tính năng hiện đại. Theo đó, cách thức, mô hình phát hành XBPĐT sẽ ngày càng phức tạp hơn. Thực tế nhìn nhận rằng, pháp luật liên quan đến XBPĐT ở Việt Nam vẫn chưa hoàn chỉnh, chưa ghi nhận và phản ánh toàn diện sự thay đổi của XBPĐT hiện nay, trong đó có cả những quy định về đăng ký hoạt động phát hành XBPĐT. Một số quy định về XBPĐT vẫn còn mơ hồ và chung chung, gây khó khăn cho các đơn vị phát hành. Các quy định liên quan đến đăng ký hoạt động phát hành XBPĐT vẫn chưa được định nghĩa rõ ràng và chi tiết, dẫn đến sự khó khăn trong việc thực hiện đăng ký. Số lượng các điều luật quy định về hoạt động phát hành XBPĐT quá hạn chế, đa số các điều luật quy định về hoạt động phát hành XBPĐT không có quy định cụ thể hoặc khi áp dụng phải thông qua một cách gián tiếp với các quy định về phát hành xuất bản phẩm mà chưa có một quy định cụ thể trực tiếp về các vấn đề của XBPĐT, ví dụ như điều kiện về chủ thể đăng ký hoạt động phát hành XBPĐT, trong khi để chủ thể được cấp Giấy xác nhận đăng ký hoạt động phát hành XBPĐT cần nhiều các quy định chi tiết mang tầm nhìn xa, bắt kịp xu hướng phát triển của công nghệ và sát với thực tiễn hơn thế. Nhiều vấn đề lý luận mới được đặt ra trong giai đoạn “công nghệ với phát triển của XBPĐT” chưa được nghiên cứu và làm rõ. Từ đó, những giải pháp quản lý nhà nước chưa được đưa ra kịp thời, thực tiễn hoạt động sẽ mang đến nhiều rủi ro, tạo ra lỗ hổng của pháp luật như phát sinh nhiều trường hợp không nằm trong sự quản lý, giám sát của cơ quan nhà nước. Hơn thế nữa, điều này có thể dẫn đến những hệ quả nghiêm trọng như tình trạng “lách luật” gia tăng hoặc thậm chí là vi phạm pháp luật. Đây được xem là bất cập lớn nhất của quy định pháp luật về hoạt động phát hành XBPĐT.

2.2. Quy định về chủ thể đăng ký hoạt động phát hành xuất bản phẩm điện tử

Trong mọi quan hệ pháp luật, việc xác định chủ thể luôn là yếu tố được quan tâm hàng đầu, tuy nhiên, chủ thể trong đăng ký hoạt động phát hành XBPĐT chưa có một văn bản pháp luật hay điều luật nào quy định một cách rõ ràng. Điều 36 Luật Xuất bản quy định về chủ thể hoạt động phát hành xuất bản phẩm để xác định chủ thể (cơ sở) hoạt động phát hành XBPĐT, theo đó: “Cơ sở phát hành xuất bản phẩm bao gồm doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập, hộ kinh doanh xuất bản phẩm (sau đây gọi chung là cơ sở phát hành)”[3].

Theo quy định tại Điều 36 Luật Xuất bản thì cơ sở hoạt động phát hành xuất bản điện tử được hiểu bao gồm các cơ quan, tổ chức. Tuy nhiên, khoản 2 Điều 45 Luật Xuất bản quy định về điều kiện đăng ký hoạt động phát hành XBPĐT bên cạnh chủ thể hoạt động phát hành XBPĐT là cơ quan, tổ chức thì xuất hiện thêm một chủ thể mới là “cá nhân”[4] được thực hiện hoạt động phát hành XBPĐT. Từ quy định này chúng ta có thể nhận thấy rằng, đã có sự bất cập trong quy định về chủ thể đăng ký hoạt động phát hành XBPĐT, vì cả Điều 36 và Điều 45 Luật Xuất bản chưa có sự nhất quán trong quy định về chủ thể. Quy định về chủ thể hoạt động phát hành XBPĐT chưa được quy định một cách cụ thể, thống nhất. Bất cập này ảnh hưởng trực tiếp đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân mong muốn đăng ký hoạt động phát hành XBPĐT và cơ quan có thẩm quyền giải quyết hồ sơ, theo đó, chính cơ quan có thẩm quyền sẽ gặp khó khăn trong việc xác định chủ thể có thẩm quyền đăng ký hoạt động phát hành XBPĐT.

2.3. Quy định về điều kiện đối với chủ thể đăng ký hoạt động phát hành xuất bản phẩm điện tử

Điều kiện đối với từng chủ thể khi đăng ký hoạt động phát hành XBPĐT vẫn còn mơ hồ, hiện nay căn cứ quy định tại Điều 36 Luật Xuất bản để xác định điều kiện đối với chủ thể khi đăng ký hoạt động phát hành XBPĐT. Theo đó, dựa vào điều kiện đăng ký hoạt động phát hành xuất bản phẩm của cơ sở phát hành để xác định điều kiện của cơ sở hoạt động đăng ký phát hành XBPĐT. Vậy nên, để hoạt động phát hành XBPĐT thì chủ cơ sở phải có địa chỉ thường trú tại Việt Nam, phải có văn bằng, chứng chỉ kiến thức, nghiệp vụ về phát hành xuất bản phẩm đúng quy định của pháp luật, giấy tờ chứng minh tư cách pháp lý của cơ sở, có địa điểm kinh doanh cụ thể[5].

Tuy nhiên, tại Điều 36 Luật Xuất bản chỉ mới quy định về điều kiện hoạt động phát hành xuất bản phẩm đối với cơ sở phát hành là cơ quan, tổ chức. Trong khi đó, tại Điều 45 Luật Xuất bản quy định về điều kiện hoạt động XBPĐT xuất hiện thêm chủ thể “cá nhân”. Theo đó, Điều 36 chưa quy định bao quát điều chỉnh về điều kiện đối với cá nhân hoạt động phát hành XBPĐT. Ngoài ra, Luật Xuất bản và các văn bản hướng dẫn liên quan chưa có một quy định nào đề cập điều kiện đối với chủ thể là “cá nhân” đăng ký hoạt động phát hành XBPĐT. Như vậy, việc xác định điều kiện về chủ thể hoạt động phát hành XBPĐT theo Điều 36 Luật Xuất bản là chưa hợp lý. Từ đó thấy rằng, điều kiện đối với từng chủ thể đăng ký hoạt động phát hành XBPĐT hiện nay chưa được quy định trực tiếp, rõ ràng tại một điều luật cụ thể trong Luật Xuất bản và các văn bản pháp luật có liên quan. Theo đó, nếu “cá nhân” được xem là một trong các chủ thể có quyền đăng ký hoạt động phát hành XBPĐT thì việc pháp luật chưa có quy định nào về điều kiện đối với chủ thể “cá nhân” sẽ dẫn đến một số tác động tiêu cực như cơ quan có thẩm quyền giải quyết hồ sơ sẽ không có căn cứ pháp lý để xác định điều kiện đối với chủ thể “cá nhân” dẫn đến làm cản trở việc thực thi pháp luật, đồng thời “cá nhân” sẽ không chịu sự ràng buộc của pháp luật về điều kiện đối với chủ thể, điều nay làm tăng rủi ro trong hoạt động phát hành XBPĐT.

3. Thực tiễn đăng ký hoạt động phát hành xuất bản phẩm điện tử

3.1. Khó khăn trong việc đáp ứng các điều kiện đăng ký về máy móc, công nghệ, kỹ thuật và cơ sở hạ tầng không đáp ứng

Có thể nhận thấy rằng, quy mô và trình độ phát triển của XBPĐT hiện nay ở nước ta vẫn còn khá nhỏ. Để phát hành và phân phối XBPĐT, cần phải có cơ sở hạ tầng kỹ thuật đủ mạnh để hỗ trợ việc lưu trữ, truyền tải và phân phối sản phẩm điện tử. Thực tế cho thấy, thị phần hoạt động phát hành XBPĐT đa số thuộc về các doanh nghiệp có trình độ cao về công nghệ, các công ty kinh doanh trên các nền tảng Internet như các công ty kinh doanh trên các sàn thương mại điện tử[6]. Theo đó, có rất ít cơ sở hoạt động phát hành XBPĐT như các nhà xuất bản hay các công ty không chuyên về công nghệ đáp ứng đầy đủ các điều kiện để được cấp Giấy xác nhận hoạt động phát hành XBPĐT. Trong đó, rào cản về điều kiện công nghệ, trình độ và cơ sở hạ tầng là nguyên nhân chủ yếu. Đối với các chủ thể hoạt động phát hành XBPĐT là nhà xuất bản thì do trình độ năng lực về công nghệ còn hạn chế, nền tảng cơ sở hạ tầng công nghệ tại các nhà xuất bản cũ kỹ, lỗi thời, các điều kiện về công nghệ và máy móc chưa đưa được đầu tư một cách chỉnh chu, chất lượng chưa cao, đội ngũ nhân lực am hiểu về công nghệ còn hạn chế. Đối với chủ thể hoạt động phát hành XBPĐT là doanh nghiệp thì nguyên nhân xuất phát từ việc đáp ứng các điều kiện về công nghệ đặc biệt là các cơ sở ở những địa phương có cơ sở hạ tầng công nghệ thấp, các chính sách ban hành của Nhà nước trong việc phát triển hoạt động phát hành XBPĐT còn hạn chế, nguồn nhân lực có trình độ cao trong việc xử lý các yêu cầu kỹ thuật phát hành chưa cao. Chính vì vậy, một số cơ sở hoạt động phát hành XBPĐT đã phải thu hẹp quy mô phát triển hoặc thậm chí là tạm ngừng hoạt động và rời thị trường phát hành XBPĐT. Ngoài ra, việc thu thập, xử lý và chuyển đổi tài liệu sang dạng điện tử vẫn là một thách thức bởi việc này đòi hỏi sự đầu tư về công nghệ, nhân lực và vốn để có thể phát hành ra sản phẩm điện tử chất lượng cao và đa dạng.

3.2. Khó khăn trong việc nộp hồ sơ

Quy định thành phần hồ sơ được thực hiện bằng các văn bản giấy và việc giải quyết hồ sơ đăng ký hoạt động phát hành XBPĐT trực tiếp đến cơ quan thẩm quyền giải quyết hồ sơ là Cục Xuất bản, In và Phát hành - Bộ Thông tin và Truyền thông chưa theo kịp sự phát triển của chuyển đổi số. Điều này có nghĩa là, các chủ thể đăng ký hoạt động phát hành XBPĐT phải chuẩn bị tất cả hồ sơ đăng ký đều bằng các văn bản giấy và khi nộp hồ sơ cho Cục Xuất bản, In và Phát hành thì chỉ có thể nộp hồ sơ văn bản giấy đó bằng cách chủ thể đến trực tiếp tại cơ quan hoặc gửi bằng đường bưu điện đến, trong khi đó trụ sở của Cục Xuất bản, In và Phát hành ở thủ đô Hà Nội. Nhận thấy rằng, điều này sẽ gây một số khó khăn cho các cơ sở hoạt động phát hành XBPĐT nếu các cơ sở này ở các tỉnh, thành phố khác như hồ sơ có thể bị thất lạc và hư hỏng trên quá trình vận chuyển. Hơn thế nữa, thủ tục đăng ký hoạt động phát hành XBPĐT nhiều, hồ sơ phức tạp, đơn cử là quá trình thẩm định đề án từ Cục Xuất bản, In và Phát hành và hồ sơ đề án hoạt động phát hành xuất bản điện tử, do đó không thể tránh việc hồ sơ được sửa đổi, bổ sung và được gửi đi gửi lại nhiều lần. Quy định này tốn nhiều chi phí và thời gian của chủ thể đăng ký và cả Cục Xuất bản, In và Phát hành dẫn đến việc giải quyết thủ tục hồ sơ chậm, ảnh hưởng đến hoạt động của cơ sở phát hành XBPĐT.

3.3. Bất cập trong công tác quản lý nhà nước

Để hoạt động phát hành XBPĐT tăng trưởng thì trách nhiệm và sự quan tâm của cơ quan nhà nước là một điều không thể bỏ qua. Theo đó Luật Xuất bản quy định Nhà nước phải ban hành các chính sách để hỗ trợ, phát triển hoạt động phát hành XBPĐT[7]. Điều này có nghĩa là Nhà nước phải có trách nhiệm hỗ trợ kinh phí xây dựng cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, các ứng dụng công nghệ để tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của hoạt động phát hành XBPĐT. Tuy nhiên, trên thực tế, số lượng các chính sách được Nhà nước ban hành nhằm mục đích hỗ trợ đầu tư phát triển quá hạn chế, chưa có sự quan tâm đúng mức cho lĩnh vực tiềm năng này. Công tác quản lý nhà nước trong việc đăng ký phát hành XBPĐT chưa thực sự đạt được hiệu quả. Ngoài ra, các chỉ thị áp dụng chuyển đổi số được ban hành theo đó đòi hỏi quy trình xử lý tiếp nhận hồ sơ và trình độ của đội ngũ cán bộ nhân viên có thẩm quyền xem xét, giải quyết thủ tục đăng ký hoạt động phát hành XBPĐT cần phải theo kịp sự phát triển của công nghệ. Thực tiễn cho thấy, hiện nay chưa có thủ tục giải quyết hồ sơ đăng ký hoạt động phát hành XBPĐT trực tuyến, điều này đang lạc hậu so với xu hướng phát triển của thế giới. Công nghệ phát triển, theo đó các cách thức phát hành XBPĐT sẽ ngày càng đa dạng hóa và phức tạp, do đó yêu cầu cao về trình độ chuyên môn của cán bộ xử lý, xem xét, thẩm định hồ sơ là một điều quan trọng. Thế nhưng, thực tế hiện nay đa số các các bộ có thẩm quyền xử lý hồ sơ đăng ký vẫn còn gặp khó khăn trong các việc kiểm tra đáp ứng các điều kiện về máy móc, công nghệ, kỹ thuật của các cơ sở đăng ký hoạt động phát hành XBPĐT, chưa có sự am hiểu tường tận về chuyên môn lĩnh vực công nghệ thông tin, các quy trình xử lý kỹ thuật. Ngoài ra, tại một số địa phương chưa có cơ quan chuyên môn về đăng ký phát hành XBPĐT, vì vậy, công tác tiến hành xem xét, kiểm tra việc đáp ứng điều kiện hoạt động phát hành XBPĐT của các cơ sở sẽ gặp nhiều khó khăn, dẫn đến chất lượng và hiệu quả không cao.

4. Một số giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động phát hành xuất bản phẩm điện tử

Thứ nhất, rà soát, kiểm tra tính thực tế của Luật Xuất bản hiện hành và các văn bản hướng dẫn. Xem xét mức độ thực thi của các quy định pháp luật về đăng ký hoạt động phát hành XBPĐT, từ đó, nắm rõ những hạn chế và bất cập của pháp luật, sau đó, đề xuất phương hướng giải quyết đáp ứng kịp thời sự phát triển của xã hội, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật một cách chi tiết, minh bạch về cách thức hoạt động phát hành, phương thức phát hành trên internet với các sàn thương mại điện tử, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, cách thức quản lý... Bên cạnh đó, cần ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết về XBPĐT, từ đó, hướng đến xây dựng và ban hành Luật về XBPĐT.

Thứ hai, cần có sự thống nhất trong quy định về chủ thể hoạt động phát hành XBPĐT. Theo đó, nếu cá nhân không được xem là chủ thể có quyền thì xem xét xóa cụm từ “cá nhân” tại khoản 2 Điều 45 Luật Xuất bản về điều kiện phát hành XBPĐT; nếu “cá nhân” được xem là chủ thể có quyền thì cần có quy định về điều kiện đối với chủ thể là “cá nhân”. Vì vậy, để bảo đảm việc áp dụng pháp luật và sự nhất quán nội dung giữa các quy định pháp luật, tác giả kiến nghị cần đưa ra quy định chi tiết về chủ thể hoạt động phát hành XBPĐT và điều kiện đối với chủ thể hoạt động phát hành XBPĐT tại những điều luật cụ thể để tránh sự lúng túng trong quá trình áp dụng pháp luật và nâng cao hiệu quả trong việc quản lý nhà nước.

Thứ ba, cải cách thủ tục hành chính về đăng ký hoạt động phát hành XBPĐT theo định hướng chuyển đổi số. Đối với thủ tục hồ sơ đăng ký hoạt động phát hành XBPĐT, nên thay thế hình thức nộp hồ sơ trực tiếp tại Cục Xuất bản, In và Phát hành bằng hình thức nộp hồ sơ trực tuyến bằng cách khai báo trên cổng thông tin điện tử của Cục Xuất bản, In và Phát hành, các hồ sơ đăng ký hoạt động phát hành XBPĐT theo đó sẽ được đính kèm bằng file scan tại trang website đã khai báo. Mọi thao tác đều được thực hiện trên máy tính, hình thức vừa theo kịp với sự phát triển của công nghệ vừa nhanh chóng, tiết kiệm được chi phí, thời gian của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và cơ sở hoạt động phát hành XBPĐT. Ngoài ra, Nhà nước cần xem xét hồ sơ đăng ký hoạt động phát hành XBPĐT theo hướng tinh gọn hơn, mẫu đề án đăng ký hiện nay yêu cầu trình bày khá phức tạp, do đó cần có giải pháp điều chỉnh theo hướng đơn giản hơn để phù hợp với thực tiễn cuộc sống.

Hơn thế nữa, cơ quan chuyên môn giải quyết thủ tục đăng ký hoạt động phát hành XBPĐT là Cục Xuất bản, In và Phát hành - Bộ Thông tin và Truyền thông ở Hà Nội, do đó, thực tiễn quá trình giám sát, kiểm tra các cơ sở tại các tỉnh, thành phố đáp ứng điều kiện về máy móc, công nghệ, kỹ thuật gặp nhiều khó khăn. Vậy nên, cần chú trọng phối hợp quản lý chặt chẽ giữa Cục Xuất bản, In và Phát hành và các cơ quan địa phương trong công tác chỉ đạo, thanh tra, hướng dẫn để bảo đảm chất lượng và đạt hiệu quả cao. Ngoài ra, tổ chức bộ máy quản lý cần được điều chỉnh theo hướng chuyên môn hóa, lưu ý xác định rõ trách nhiệm, thẩm quyền của từng cá nhân, đơn vị.

Thứ tư, xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng và công nghệ thông tin. Hoạt động phát hành XBPĐT trong môi trường công nghệ số yêu cầu phải có hệ thống cơ sở hạ tầng cao và nền tảng kỹ thuật, công nghệ thông tin đủ mạnh. Trước hết, Nhà nước phải có sự quan tâm đúng mức cho lĩnh vực này bằng cách ban hành các chính sách hỗ trợ đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng, hệ thống mạng lưới công nghệ thông tin ở những tỉnh, thành phố chưa phát triển. Nâng cấp trang thiết bị kỹ thuật, hệ thống mạng lưới thông tin trên cả nước, tạo điều kiện cho người sử dụng dễ dàng tiếp cận XBPĐT, mà điều này cũng giúp cho các cơ sở hoạt động phát hành XBPĐT dễ dàng đáp ứng đủ các điều kiện về máy móc, công nghệ kỹ thuật để phát hành. Thêm vào đó, việc phát triển cơ sở hạ tầng, công nghệ sẽ giúp các chủ thể phát hành dễ dàng hơn trong việc cải tiến các trang website, ứng dụng, nền tảng phát hành, từ đó, nâng cao chất lượng XBPĐT được phát hành ra thị trường. Ngoài ra, đối với các cơ sở phát hành XBPĐT là các nhà xuất bản thì các cơ quan chủ quản nên xem xét hỗ trợ nguồn kinh phí hợp lý để nâng cấp cơ sở hạ tầng tại nhà xuất bản, xây dựng hệ thống kỹ thuật, công nghệ thông tin hiện đại theo kịp với xu hướng phát triển, thay thế hệ thống máy móc lỗi thời.  

Thứ năm, nâng cao trình độ chuyên môn của nguồn nhân lực tại cơ sở xuất bản phẩm điện tử, bảo đảm theo kịp sự phát triển của công nghệ. Để cơ sở thực hiện phát hành XBPĐT, ngoài yếu tố về công nghệ thì yếu tố nguồn nhân lực có kiến thức chuyên môn cao cũng được chú trọng. Trước sự phát triển như vũ bão của công nghệ, hàng loạt kiến thức mới được du nhập, hàng loạt các thiết bị máy móc được cải tiến, ra đời. Công nghệ phát triển, theo đó, XBPĐT cũng được “tô điểm” lên nhiều hình thức khác nhau, cách thức phát hành cũng phong phú bắt kịp xu hướng công nghệ hơn, theo đó nhân lực kỹ thuật tại các cơ sở phát hành XBPĐT phải có năng lực chuyên môn đủ cao theo kịp sự phát triển không ngừng của xã hội. Thực tế, nếu một cơ sở luôn theo tư duy lối mòn, không cải tiến, không nắm bắt được nhu cầu cuộc sống thì xã hội sẽ đào thải chính doanh nghiệp đó. Vì vậy, để bảo đảm, các nhân lực kỹ thuật của các cơ sở hoạt động phát hành xuất phẩm điện tử cần chủ động học hỏi, nâng cao năng lực chuyên môn, đổi mới tư duy công nghệ, thường xuyên cập nhật và áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật trong quá trình hoạt động phát hành XBPĐT.

Thứ sáu, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng của cán bộ chuyên môn. Nhà nước cần thường xuyên tạo điều kiện cho đội ngũ chuyên trách bồi dưỡng và nâng cao kiến thức chuyên môn để đáp ứng nhu cầu thực tiễn. Không những vậy, chính đội ngũ cán bộ chuyên môn cũng cần chủ động học hỏi và tìm hiểu các biện pháp kỹ thuật, tiếp cận công nghệ hiện đại để nâng cao nghiệp vụ. Cần có chiến lược đào tạo lâu dài để có nguồn nhân lực chất lượng với chuyên độ chuyên môn cao đáp ứng được sự phát triển của xã hội.

Thứ bảy, tăng cường tổ chức các chương trình, hội thảo về hoạt động phát hành XBPĐT. Hiện nay, quy mô và trình độ của các cơ sở hoạt động phát hành XBPĐT ở nước ta vẫn còn khá nhỏ. Một số cơ sở vẫn còn mới, chưa có điều kiện tiếp xúc với nền tảng công nghệ hiện đại. Do đó, Nhà nước cần thường xuyên tổ chức các buổi hội thảo, chương trình tạo liên kết giữa các cơ sở hoạt động phát hành XBPĐT với nhau, theo đó tại các buổi hội thảo, các cơ quan, tổ chức, cá nhân sẽ có điều kiện tiếp cận với công nghệ mới, mô hình mới, chính sách mới được Nhà nước ban hành. Hơn nữa, tại các chương trình này, các cơ sở sẽ có cơ hội chia sẻ những bài học kinh nghiệm thực tế, trao đổi với nhau về công nghệ, cơ sở vật chất, cơ hội mới tiềm năng, các mục tiêu, định hướng phát triển của tương lai hoạt động phát hành XBPĐT. Ngoài ra, việc này còn hỗ trợ hợp tác, xây dựng mạng lưới giữa các cơ sở với nhau, tạo điều kiện để hoạt động phát hành XBPĐT phát triển. Mặt khác, việc tổ chức các chương trình, hội thảo còn tạo cơ hội để các cơ quan có thẩm quyền được lắng nghe ý kiến từ các cơ sở, dễ dàng nắm bắt được tình hình xu hướng chung, những ưu và nhược điểm trong quá trình thực tiễn hoạt động của các cơ sở. Gần đây, các chương trình về phát triển hoạt động phát hành XBPĐT dần được quan tâm tổ chức, đơn cử là hội thảo với chủ đề “Giới thiệu các nền tảng số hỗ trợ cho xuất bản và phát hành XBPĐT” vào ngày 18/01/2023 do Cục Xuất bản, In và Phát hành - Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức. Tại buổi hội thảo này các doanh nghiệp hoạt động phát hành XBPĐT đã giới thiệu các nền tảng công nghệ phát hành XBPĐT theo xu hướng chuyển đổi số, góp ý định hướng phát triển của tương lai hoạt động phát hành XBPĐT và được lắng nghe ý kiến chỉ đạo của cơ quan ban ngành[8].

Thứ tám, cần có các chính sách kinh tế phát triển khuyến khích đầu tư trong và ngoài nước. Thực tế cho thấy, thị trường hoạt động phát hành XBPĐT hiện nay trong cơ cấu nền kinh tế nước ta chiếm tỷ trọng nhỏ, vai trò của hoạt động phát hành vẫn còn mờ nhạt, ít người biết đến và chưa nhận được nhiều sự đầu tư, quan tâm đúng với tiềm năng. Vì vậy, nên xem xét ban hành các chính sách kinh tế “cởi trói” những hạn chế vốn có và khuyến khích các doanh nghiệp tham gia thị trường hoạt động phát hành XBPĐT. Các sở, bộ, ngành liên quan nên có sự phối hợp, đưa ra các giải pháp thu hút đầu tư trong và ngoài nước tạo điều kiện mở rộng thị trường để XBPĐT vươn lên phát triển tương xứng như một ngành kinh tế đầy cơ hội./.

Huỳnh Thị Mỹ Vi

Sinh viên Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng


[1] Khoản 9 Điều 4 Luật Xuất bản năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2018).

[2] Xem: Chương V. Luật Xuất bản năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2018 (từ Điều 45 đến Điều 52).

[3] Khoản 1 Điều 36 Luật Xuất bản năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2018).

[4] Khoản 2 Điều 45 Luật Xuất bản năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2018).

[5] Khoản 3 Điều 36 Luật Xuất bản năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2018).

[6] Đặng Thành Lê, Phát triển xuất bản phẩm điện tử tại Việt Nam. Tạp chí Quản lý nhà nước, https://www.quanlynhanuoc.vn/2022/02/24/phat-trien-xuat-ban-pham-dien-tu-tai-viet-nam/, truy cập ngày 11/9/2023.

[7] Khoản 5 Điều 7 Luật Xuất bản năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2018).

[8] Nguyên Pháp, (2023, 2 18), Cần phát triển xuất bản phẩm điện tử theo cách tiếp cận mới, https://tuoitrethudo.com.vn/can-phat-trien-xuat-ban-pham-dien-tu-theo-cach-tiep-can-moi-217683.html, truy cập ngày 11/9/2023.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: