Thứ sáu 16/01/2026 09:22
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện các quy định về chế tài trách nhiệm của Ủy ban nhân dân trong pháp luật Việt Nam

Bài viết này khái lược, phân tích các quy định của pháp luật từ năm 1945 đến nay về trách nhiệm và chế tài trách nhiệm của tập thể Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân, các thành viên khác của Ủy ban nhân dân; từ đó đề xuất các giải pháp góp ý cho việc sửa đổi Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.

Điều 114 Hiến pháp năm 2013 quy định, Ủy ban nhân dân (UBND) ở cấp chính quyền địa phương do Hội đồng nhân dân (HĐND) cùng cấp bầu là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước HĐND và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên; Điều 8 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định, UBND do HĐND cùng cấp bầu, là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương, HĐND cùng cấp và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên. Như vậy, UBND mang hai tư cách pháp lý: (i) Là cơ quan chấp hành của HĐND cùng cấp; (ii) Là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. UBND vừa là cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, vừa chấp hành các nhiệm vụ do HĐND cùng cấp và các nhiệm vụ do cơ quan hành chính nhà nước (UBND) cấp trên giao và chịu sự lãnh đạo thống nhất của Chính phủ. Từ đây, tác giả diễn giải trách nhiệm của UBND bao hàm cả hai nghĩa chủ động và bị động (nhưng thiên về nghĩa bị động), được hiểu là hậu quả bất lợi trên các phương diện chính trị, pháp lý và đạo đức mà UBND phải gánh chịu khi trong nhiệm vụ, quyền hạn quy định mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đủ nghị quyết của HĐND cùng cấp, các văn bản pháp luật, chỉ đạo của cơ quan hành chính nhà nước cấp trên, tựu trung là toàn bộ hậu quả trong hoạt động chấp hành, điều hành của UBND. Nói cách khác, trách nhiệm UBND với nghĩa tiêu cực ở đây được xuất phát từ việc thực hiện thẩm quyền của UBND[1]. Để có thể khái quát và rút ra kết luận về trách nhiệm của UBND theo khái niệm nêu trên, trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ tập trung phân tích những quy định của pháp luật liên quan đến trách nhiệm của UBND qua các giai đoạn từ năm 1945 đến nay, nhất là vấn đề chế tài trách nhiệm, để thấy rõ được sự kế thừa, phát triển của các quy phạm liên quan cũng như mức độ quan tâm của các nhà làm luật về vấn đề này, đồng thời góp ý cho dự thảo Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sửa đổi).

1. Các giai đoạn phát triển pháp luật về trách nhiệm của Ủy ban nhân dân

Tác giả cho rằng, sự phát triển về chế tài trách nhiệm của Ủy ban nhân dân nên được phân chia thành 04 giai đoạn như sau:

1.1. Giai đoạn từ Sắc lệnh số 63-SL ngày 22/11/1945 đến năm 1958

Giai đoạn này có 04 văn bản quan trọng: Sắc lệnh số 63-SL ngày 22/11/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa về tổ chức chính quyền nhân dân ở các địa phương (Sắc lệnh số 63-SL); Sắc lệnh số 77-SL ngày 21/12/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa về việc tổ chức chính quyền nhân dân ở các thành phố, khu phố (Sắc lệnh số 77-SL); Hiến pháp năm 1946 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 1958.

Sắc lệnh số 63-SL là Sắc lệnh đầu tiên “để thực hiện chính quyền nhân dân địa phương trong nước Việt Nam”. Mặc dù trong điều kiện nước ta vừa thực hiện thắng lợi cách mạng tháng 8/1945, giành được độc lập và còn rất nhiều khó khăn nhưng Sắc lệnh này vẫn có nhiều quy định rất tiến bộ, có giá trị. Theo quy định của Sắc lệnh số 63-SL, chính quyền địa phương bao gồm 02 cơ quan là HĐND và Ủy ban hành chính (UBHC), được tổ chức ở 04 cấp (kỳ, tỉnh, huyện, xã), riêng tại cấp kỳ và huyện chỉ có UBHC. UBHC cấp kỳ có nhiệm kỳ 03 năm, còn lại đều là 02 năm nhưng khóa (nhiệm kỳ) đầu thì đều chỉ được 01 năm. Về chế tài trách nhiệm của UBHC, Sắc lệnh đã có những quy định rất hiện đại như:

- Trách nhiệm tập thể: Nếu một phần ba số hội viên HĐND xã/huyện/tỉnh yêu cầu phúc quyết UBHC xã/huyện/tỉnh thì UBHC xã/huyện/tỉnh phải triệu tập ngay HĐND cùng cấp để bỏ phiếu tín nhiệm. Nếu quá nửa tổng số hội viên HĐND xã/huyện/tỉnh bỏ phiếu không tín nhiệm UBHC thì UBHC bắt buộc phải từ chức (các điều thứ 18, 28, 48); UBHC cấp kỳ cũng phải thực hiện từ chức nếu việc bỏ phiếu bất tín nhiệm được thực hiện (Điều thứ 59). Ngoài ra, UBHC các cấp cũng phải bị UBHC cấp trên giải tán nếu “không tuân lệnh trên” (các điều thứ 19, 29, 49), UBHC kỳ có thể bị Hội đồng Chính phủ giải tán (Điều thứ 60). Khi UBHC phải từ chức hay bị giải tán thì UBHC cấp trên (hoặc Hội đồng Chính phủ) tổ chức bầu UBHC mới (các điều thứ 21, 31, 51, 62).

- Trách nhiệm cá nhân: Khi một ủy viên UBHC phạm lỗi trong lúc thừa hành chức vụ, thì UBHC cấp trên 2 bậc sẽ khiển trách hoặc cách chức theo đề nghị của UBHC cùng cấp hay UBHC cấp trên trực tiếp hoặc bị truy tố nếu vi phạm luật hình. Những người “bị cách chức sẽ mất tư cách hội viên” HĐND cùng cấp (các điều thứ 20, 30, 50, 61)[2].

Đồng thời, để đảm bảo tư cách chính trị của những ủy viên UBHC theo từng cách thức chịu trách nhiệm tương xứng, Sắc lệnh số 63-SL quy định những ủy viên UBHC “phải từ chức vẫn giữ tư cách hội viên” HĐND xã (các điều thứ 18, 28, 48, 59), trong khi những ủy viên UBHC “bị giải tán đồng thời mất luôn tư cách hội viên” HĐND cùng cấp (các điều thứ 19, 29, 49, 60). Điều này đồng nghĩa với việc coi trọng tính chất chấp hành hơn điều hành (không chấp hành cấp trên thì buộc phải giải tán, điều hành không được tín nhiệm của HĐND cùng cấp chỉ phải từ chức cho UBHC khác thay thế); đồng thời cho thấy sự độc lập của UBHC với HĐND cùng cấp qua chế độ bỏ phiếu tín nhiệm và tính dân chủ trong cách thực hiện chế độ trách nhiệm giữa 02 thiết chế này vì mặc dù được HĐND bầu ra nhưng UBHC chỉ thực hiện “từ chức” chứ không phải là bị HĐND cùng cấp “bãi miễn”.

Đối với Sắc lệnh số 77-SL, cách thức chịu trách nhiệm của UBHC thành phố tương tự như quy định tại Sắc lệnh số 63-SL[3].

Có thể nói, Sắc lệnh số 63-SL và Sắc lệnh số 77-SL là những điểm sáng rất đáng chú ý trong các quy định về chế tài trách nhiệm của UBHC cũng như các thành viên của UBHC.

Hiến pháp năm 1946 có 02 điều liên quan về vai trò của UBHC là Điều thứ 59 và Điều thứ 60, trong đó có Điều thứ 59 quy định về nhiệm vụ của UBND. Trách nhiệm của UBHC được quy định tại Điều thứ 60: “UBHC chịu trách nhiệm đối với cấp trên và đối với HĐND địa phương mình”. Bên cạnh đó, tại Điều thứ 61 Hiến pháp năm 1946, tuy không đề cập trực tiếp đến trách nhiệm cá nhân thành viên UBHC nhưng ý nghĩa quy định đã gián tiếp nói đến, đó là “nhân viên HĐND và UBHC có thể bị bãi miễn”. Rất tiếc là trong giai đoạn ngay sau đó, do kháng chiến chống Pháp bùng nổ nên chúng ta không có điều kiện để đưa Hiến pháp ra thi hành và cũng không có văn bản luật nào quy định thêm về trách nhiệm của UBHC.

Ngày 29/4/1958, Quốc hội thông qua Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật này có 23 điều quy định về UBHC (từ Điều 23 đến Điều 35) và Điều 24 vẫn quy định về vai trò chung: UBHC các cấp chịu trách nhiệm và báo cáo công tác với HĐND cùng cấp, với cơ quan hành chính cấp trên trực tiếp và đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Chính phủ. Điểm sáng của văn bản luật này là đã quy định rõ 16 nhiệm vụ của UBHC các cấp (ngoài thẩm quyền triệu tập hội nghị HĐND tại Điều 10) và lần đầu tiên đưa ra nguyên tắc làm việc của UBHC là “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 1958 vẫn quy định một cách chung nhất là “HĐND các cấp có quyền bãi miễn ủy viên UBHC do mình bầu ra” (Điều 8).

1.2. Giai đoạn từ Hiến pháp năm 1959 đến trước Hiến pháp năm 1980

Giai đoạn này có 02 văn bản quan trọng là Hiến pháp năm 1959 và Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp năm 1962.

Hiến pháp năm 1959 có 05 điều quy định chung về UBHC (từ Điều 87 đến Điều 91) và 05 điều quy định về UBHC ở các khu vực tự trị (từ Điều 92 đến Điều 96). Tuy nhiên, cũng như Hiến pháp năm 1946 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 1958, vấn đề trách nhiệm chỉ được đề cập tại Điều 91 một cách rất chung chung: “UBHC các cấp chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND cấp mình và trước cơ quan hành chính cấp trên trực tiếp”. Hiến pháp năm 1959 tiếp tục kế thừa Hiến pháp năm 1946 trong khẳng định “HĐND bầu ra UBHC và có quyền bãi miễn các thành viên của UBHC” (Điều 84).

Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp năm 1962 tiếp tục khẳng định nguyên tắc làm việc “tập thể lãnh đạo, phân công phụ trách” và lần đầu tiên đưa ra quy định về chịu trách nhiệm của cá nhân thành viên UBHC: Mỗi thành viên của UBHC chịu trách nhiệm chung về công tác của UBHC và “chịu trách nhiệm riêng” về phần công tác của mình (đoạn 2 Điều 53). Có thể khẳng định đây là điểm mốc ghi dấu về sự ra đời của nguyên tắc “chịu trách nhiệm cá nhân” của thành viên UBHC trong các quy định của pháp luật[4].

1.3. Giai đoạn từ Hiến pháp năm 1980 đến trước Hiến pháp năm 1992

Giai đoạn này có rất nhiều văn bản pháp luật quan trọng quy định về trách nhiệm của UBND.

Hiến pháp 1980: Lúc này tên gọi UBHC đã được đổi thành UBND. Đây là lần đầu tiên Hiến pháp ghi nhận nguyên tắc chịu trách nhiệm cá nhân của thành viên UBND, ngoài nguyên tắc chịu trách nhiệm tập thể tại Điều 121.

Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 1983: Luật đề cao nguyên tắc làm việc tập thể của UBND bằng quy định: UBND làm việc theo chế độ tập thể (đoạn 2 Điều 52) và ghi nhận: Mỗi thành viên của UBND chịu trách nhiệm cá nhân về phần công tác của mình trước HĐND, UBND cùng cấp và cùng với các thành viên khác chịu trách nhiệm tập thể về hoạt động của UBND trước HĐND cấp mình và trước cấp trên (đoạn 3 Điều 52).

Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 1989: Luật đã xóa bỏ vai trò của UBND với tư cách là thường trực HĐND cùng cấp, tách bạch UBND ra khỏi HĐND, cũng là cơ sở quan trọng để xem xét trách nhiệm của UBND với tính chất là cơ quan chấp hành của HĐND chứ không phải là cơ quan thường trực của HĐND như trước đây.

1.4. Giai đoạn từ Hiến pháp năm 1992 đến Hiến pháp năm 2013

Hiến pháp năm 1992: Trong 08 điều của Chương IX về HĐND và UBND thì UBND chỉ được quy định trong 02 điều (Điều 123, Điều 124) và trách nhiệm vẫn là trách nhiệm chung. Tuy vậy, Hiến pháp đã quy định trách nhiệm của UBND trong phạm vi “hẹp” hơn so với các văn bản trước, đó là UBND “chịu trách nhiệm chấp hành” Hiến pháp, pháp luật, các văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND” (Điều 123). Đến ngày 25/12/2001, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992, các nội dung liên quan đến UBND vẫn giữ nguyên, không có gì thay đổi.

Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 1994: Thực hiện chủ trương đổi mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền nêu ra tại Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, Luật này đã có nhiều điểm mới so với các văn bản pháp luật trước đây về UBND. Với 12 điều (từ Điều 41 đến Điều 52), Luật đã quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch UBND (Điều 52) và đưa ra những quy định về trách nhiệm của Chủ tịch và các thành viên khác của UBND tại Điều 51.

Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003: Với 46 điều quy định về UBND (từ Điều 82 đến Điều 127) nhưng về cơ bản, các quy định về chịu trách nhiệm của UBND, Chủ tịch UBND và các thành viên khác của UBND tại Điều 126 không có gì thay đổi so với Điều 51 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 1994. Nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch UBND từ 5 (Điều 52 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 1994) đã nâng lên thành 7 (Điều 127 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003), chứng tỏ thẩm quyền và tính chủ động của Chủ tịch UBND ngày càng mở rộng hơn.

Ngày 15/11/2008, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 26/2008/QH12 về thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường, theo đó có 67 huyện, 32 quận và 483 phường của 10 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương triển khai thí điểm thực hiện theo quy định mới. Đương nhiên, lúc này do HĐND không được tổ chức nên việc chịu trách nhiệm của UBND và thành viên UBND có khác so với Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003[5].

Từ Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 cho đến nay: Các quy định về trách nhiệm của UBND không có thay đổi nhiều so với Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001).

Luật Cán bộ, công chức năm 2008 cũng chỉ quy định 04 hình thức kỷ luật đối với cá nhân cán bộ (khiển trách, cảnh cáo, cách chức, bãi nhiệm - Điều 78) và 06 hình thức kỷ luật đối với công chức (khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc - Điều 79), không có quy định trách nhiệm kỷ luật đối với tập thể. Hơn nữa, bãi nhiệm - hình thức mang tính chính trị lại được xem là hình thức kỷ luật cán bộ cũng cần phải nghiên cứu để điều chỉnh lại cho hợp lý với tính chất hình thành của tập thể UBND và cá nhân Chủ tịch UBND.

Từ thực trạng các quy định pháp luật về trách nhiệm của UBND như đã khái quát nêu trên, tác giả cho rằng, những quy định về trách nhiệm tập thể UBND và Chủ tịch UBND, các thành viên khác của UBND còn chưa hoàn thiện, thiếu chặt chẽ về lý luận và yếu về cơ sở pháp lý. Trách nhiệm chủ yếu mới chỉ đề cập ở việc chủ động thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn, chưa quan tâm nhiều đến hậu quả phải gánh chịu khi UBND, Chủ tịch UBND và các thành viên khác không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nhiệm vụ trong thẩm quyền của mình, trách nhiệm của Chủ tịch UBND quy định còn mờ nhạt; chế tài về trách nhiệm của tập thể UBND hoàn toàn bị bỏ lửng, điều này đồng nghĩa với việc không có cơ sở xử lý trách nhiệm tập thể UBND từ cả 02 phía HĐND cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên; thiếu chế tài xử lý trách nhiệm đối với Chủ tịch UBND cũng như các thành viên khác của UBND. Vấn đề trách nhiệm (theo nghĩa tiêu cực) của UBND thực tế đã được lưu tâm nhưng dường như vẫn còn “lúng túng” trong việc tìm đường hướng giải quyết thích hợp; trải qua nhiều giai đoạn lịch sử thì các quy định về sau này mặc dù có cụ thể hơn nhưng không kế thừa, phát triển được những quy định tinh hoa của Sắc lệnh số 63-SL và Sắc lệnh số 77-SL.

Trong giai đoạn hiện nay, quá trình xem xét sửa đổi Luật Tổ chức chính quyền địa phương không thể thiếu những quy định về trách nhiệm cũng như chế tài trách nhiệm của tập thể UBND, Chủ tịch UBND, các thành viên khác của UBND, vì các quy định này sẽ đóng vai trò như là một cơ chế phân công, phối hợp gắn với kiểm soát quyền lực của UBND, đảm bảo cho thiết chế này luôn hoạt động với tính chất chủ động vốn có nhưng phải dám chịu trách nhiệm, đặc biệt là trong yêu cầu xây dựng Chính phủ kỷ cương, liêm chính, kiến tạo, hành động, phục vụ, hiệu quả nhằm tạo dựng một “chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân”[6].

2. Đề xuất giải pháp sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương

- Cần thiết quy định cụ thể về chế tài trách nhiệm đối với tập thể UBND và Chủ tịch UBND, các thành viên khác của UBND, tiếp thu tinh hoa của các Sắc lệnh số 63-SL và Sắc lệnh số 77-SL.

- Không đưa bãi nhiệm là hình thức kỷ luật đối với cán bộ như quy định tại Điều 78 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 do đây là trách nhiệm chính trị, không phải là trách nhiệm pháp lý; có thể xem xét đưa bãi nhiệm thành chế tài trách nhiệm đối với tập thể UBND và Chủ tịch UBND, các thành viên khác của UBND.

- Sửa đổi, bổ sung quy định về hoạt động của UBND theo hướng: Quy định rõ hơn về các hoạt động cần thông qua tập thể UBND, đồng thời quy định tăng thêm nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch UBND để tăng tính chủ động của Chủ tịch UBND trong thực hiện công vụ (hiện nay đang được quy định “cứng” tại các điều 22, 29, 36, 43, 50, 57, 64, 71 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 và một số quy định liên quan), để qua đó xác định rõ hơn thẩm quyền và trách nhiệm cá nhân người đứng đầu và thành viên UBND, vì rõ ràng càng tăng thẩm quyền cá nhân thì càng xác định rõ trách nhiệm, tránh tình trạng khi xảy ra sai phạm thì đổ lỗi cho tập thể, biến tập thể UBND trở thành “nơi trú ẩn trách nhiệm”, còn trách nhiệm cá nhân thì hoàn toàn mờ nhạt.

- Bổ sung quy định về mối quan hệ giữa UBND cấp trên với HĐND cấp dưới để xác định rõ hơn tính chất mối quan hệ trách nhiệm giữa 02 thiết chế này.

Vũ Đức Nhuần

Chánh Văn phòng HĐND và UBND huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng

Vũ Quang Tuấn

Tổng cục Thi hành án Dân sự, Bộ Tư pháp


[1] Tác giả đồng ý với quan điểm cho rằng thẩm quyền của UBND bao gồm thẩm quyền của tập thể UBND và của chủ tịch UBND - Nguyễn Cửu Việt (chủ biên), Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010, tr. 208. Tuy vậy, bài viết này chỉ đưa ra khái niệm chung nhất về trách nhiệm của UBND.

[2] Tuy vậy, để đảm bảo cho UBHC hoạt động thông suốt, có thể bổ sung ngay thành viên khi thiếu, Sắc lệnh số 63-SL cho phép UBHC các cấp đều có 02 ủy viên dự khuyết (các điều thứ 12, 22, 42, 52).

[3] Xem các điều thứ 35, 36, 49, 50 Sắc lệnh số 77-SL.

[4] Ngày 20/3/1969, Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư số 06-NV hướng dẫn nguyên tắc phân công và lề lối làm việc của UBHC huyện, xã. Tại Phần 2 Thông tư dành riêng quy định về chế độ trách nhiệm của ủy viên UBHC huyện, xã. Tuy vậy, khái niệm chế độ trách nhiệm tại Thông tư này thực chất là các nhiệm vụ cũng như cách thức để thực hiện thẩm quyền của chủ tịch, các ủy viên UBND, không phải là trách nhiệm do phải gánh chịu hậu quả trong quá trình thực hiện công vụ.

[5] Theo Nghị quyết số 725/2009/UBTVQH12 ngày 16/01/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội điều chỉnh nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của UBND huyện, quận, phường nơi không tổ chức HĐND huyện, quận, phường, thì nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Chủ tịch UBND huyện, quận được bổ sung (chủ yếu là các nhiệm vụ trước đây của HĐND huyện, quận, phường); sự phân công công việc và chịu trách nhiệm của Chủ tịch UBND huyện, quận, phường dường như cũng rõ ràng hơn (xem quy định tại khoản 1 Điều 11, Điều 12 Nghị quyết số 725/2009/UBTVQH12).

[6] Lời nói đầu Hiến pháp năm 1946.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.

Theo dõi chúng tôi trên: