Chủ nhật 14/06/2026 16:42
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện các quy định về chế tài trách nhiệm của Ủy ban nhân dân trong pháp luật Việt Nam

Bài viết này khái lược, phân tích các quy định của pháp luật từ năm 1945 đến nay về trách nhiệm và chế tài trách nhiệm của tập thể Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân, các thành viên khác của Ủy ban nhân dân; từ đó đề xuất các giải pháp góp ý cho việc sửa đổi Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.

Điều 114 Hiến pháp năm 2013 quy định, Ủy ban nhân dân (UBND) ở cấp chính quyền địa phương do Hội đồng nhân dân (HĐND) cùng cấp bầu là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước HĐND và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên; Điều 8 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định, UBND do HĐND cùng cấp bầu, là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương, HĐND cùng cấp và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên. Như vậy, UBND mang hai tư cách pháp lý: (i) Là cơ quan chấp hành của HĐND cùng cấp; (ii) Là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. UBND vừa là cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, vừa chấp hành các nhiệm vụ do HĐND cùng cấp và các nhiệm vụ do cơ quan hành chính nhà nước (UBND) cấp trên giao và chịu sự lãnh đạo thống nhất của Chính phủ. Từ đây, tác giả diễn giải trách nhiệm của UBND bao hàm cả hai nghĩa chủ động và bị động (nhưng thiên về nghĩa bị động), được hiểu là hậu quả bất lợi trên các phương diện chính trị, pháp lý và đạo đức mà UBND phải gánh chịu khi trong nhiệm vụ, quyền hạn quy định mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đủ nghị quyết của HĐND cùng cấp, các văn bản pháp luật, chỉ đạo của cơ quan hành chính nhà nước cấp trên, tựu trung là toàn bộ hậu quả trong hoạt động chấp hành, điều hành của UBND. Nói cách khác, trách nhiệm UBND với nghĩa tiêu cực ở đây được xuất phát từ việc thực hiện thẩm quyền của UBND[1]. Để có thể khái quát và rút ra kết luận về trách nhiệm của UBND theo khái niệm nêu trên, trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ tập trung phân tích những quy định của pháp luật liên quan đến trách nhiệm của UBND qua các giai đoạn từ năm 1945 đến nay, nhất là vấn đề chế tài trách nhiệm, để thấy rõ được sự kế thừa, phát triển của các quy phạm liên quan cũng như mức độ quan tâm của các nhà làm luật về vấn đề này, đồng thời góp ý cho dự thảo Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sửa đổi).

1. Các giai đoạn phát triển pháp luật về trách nhiệm của Ủy ban nhân dân

Tác giả cho rằng, sự phát triển về chế tài trách nhiệm của Ủy ban nhân dân nên được phân chia thành 04 giai đoạn như sau:

1.1. Giai đoạn từ Sắc lệnh số 63-SL ngày 22/11/1945 đến năm 1958

Giai đoạn này có 04 văn bản quan trọng: Sắc lệnh số 63-SL ngày 22/11/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa về tổ chức chính quyền nhân dân ở các địa phương (Sắc lệnh số 63-SL); Sắc lệnh số 77-SL ngày 21/12/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa về việc tổ chức chính quyền nhân dân ở các thành phố, khu phố (Sắc lệnh số 77-SL); Hiến pháp năm 1946 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 1958.

Sắc lệnh số 63-SL là Sắc lệnh đầu tiên “để thực hiện chính quyền nhân dân địa phương trong nước Việt Nam”. Mặc dù trong điều kiện nước ta vừa thực hiện thắng lợi cách mạng tháng 8/1945, giành được độc lập và còn rất nhiều khó khăn nhưng Sắc lệnh này vẫn có nhiều quy định rất tiến bộ, có giá trị. Theo quy định của Sắc lệnh số 63-SL, chính quyền địa phương bao gồm 02 cơ quan là HĐND và Ủy ban hành chính (UBHC), được tổ chức ở 04 cấp (kỳ, tỉnh, huyện, xã), riêng tại cấp kỳ và huyện chỉ có UBHC. UBHC cấp kỳ có nhiệm kỳ 03 năm, còn lại đều là 02 năm nhưng khóa (nhiệm kỳ) đầu thì đều chỉ được 01 năm. Về chế tài trách nhiệm của UBHC, Sắc lệnh đã có những quy định rất hiện đại như:

- Trách nhiệm tập thể: Nếu một phần ba số hội viên HĐND xã/huyện/tỉnh yêu cầu phúc quyết UBHC xã/huyện/tỉnh thì UBHC xã/huyện/tỉnh phải triệu tập ngay HĐND cùng cấp để bỏ phiếu tín nhiệm. Nếu quá nửa tổng số hội viên HĐND xã/huyện/tỉnh bỏ phiếu không tín nhiệm UBHC thì UBHC bắt buộc phải từ chức (các điều thứ 18, 28, 48); UBHC cấp kỳ cũng phải thực hiện từ chức nếu việc bỏ phiếu bất tín nhiệm được thực hiện (Điều thứ 59). Ngoài ra, UBHC các cấp cũng phải bị UBHC cấp trên giải tán nếu “không tuân lệnh trên” (các điều thứ 19, 29, 49), UBHC kỳ có thể bị Hội đồng Chính phủ giải tán (Điều thứ 60). Khi UBHC phải từ chức hay bị giải tán thì UBHC cấp trên (hoặc Hội đồng Chính phủ) tổ chức bầu UBHC mới (các điều thứ 21, 31, 51, 62).

- Trách nhiệm cá nhân: Khi một ủy viên UBHC phạm lỗi trong lúc thừa hành chức vụ, thì UBHC cấp trên 2 bậc sẽ khiển trách hoặc cách chức theo đề nghị của UBHC cùng cấp hay UBHC cấp trên trực tiếp hoặc bị truy tố nếu vi phạm luật hình. Những người “bị cách chức sẽ mất tư cách hội viên” HĐND cùng cấp (các điều thứ 20, 30, 50, 61)[2].

Đồng thời, để đảm bảo tư cách chính trị của những ủy viên UBHC theo từng cách thức chịu trách nhiệm tương xứng, Sắc lệnh số 63-SL quy định những ủy viên UBHC “phải từ chức vẫn giữ tư cách hội viên” HĐND xã (các điều thứ 18, 28, 48, 59), trong khi những ủy viên UBHC “bị giải tán đồng thời mất luôn tư cách hội viên” HĐND cùng cấp (các điều thứ 19, 29, 49, 60). Điều này đồng nghĩa với việc coi trọng tính chất chấp hành hơn điều hành (không chấp hành cấp trên thì buộc phải giải tán, điều hành không được tín nhiệm của HĐND cùng cấp chỉ phải từ chức cho UBHC khác thay thế); đồng thời cho thấy sự độc lập của UBHC với HĐND cùng cấp qua chế độ bỏ phiếu tín nhiệm và tính dân chủ trong cách thực hiện chế độ trách nhiệm giữa 02 thiết chế này vì mặc dù được HĐND bầu ra nhưng UBHC chỉ thực hiện “từ chức” chứ không phải là bị HĐND cùng cấp “bãi miễn”.

Đối với Sắc lệnh số 77-SL, cách thức chịu trách nhiệm của UBHC thành phố tương tự như quy định tại Sắc lệnh số 63-SL[3].

Có thể nói, Sắc lệnh số 63-SL và Sắc lệnh số 77-SL là những điểm sáng rất đáng chú ý trong các quy định về chế tài trách nhiệm của UBHC cũng như các thành viên của UBHC.

Hiến pháp năm 1946 có 02 điều liên quan về vai trò của UBHC là Điều thứ 59 và Điều thứ 60, trong đó có Điều thứ 59 quy định về nhiệm vụ của UBND. Trách nhiệm của UBHC được quy định tại Điều thứ 60: “UBHC chịu trách nhiệm đối với cấp trên và đối với HĐND địa phương mình”. Bên cạnh đó, tại Điều thứ 61 Hiến pháp năm 1946, tuy không đề cập trực tiếp đến trách nhiệm cá nhân thành viên UBHC nhưng ý nghĩa quy định đã gián tiếp nói đến, đó là “nhân viên HĐND và UBHC có thể bị bãi miễn”. Rất tiếc là trong giai đoạn ngay sau đó, do kháng chiến chống Pháp bùng nổ nên chúng ta không có điều kiện để đưa Hiến pháp ra thi hành và cũng không có văn bản luật nào quy định thêm về trách nhiệm của UBHC.

Ngày 29/4/1958, Quốc hội thông qua Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật này có 23 điều quy định về UBHC (từ Điều 23 đến Điều 35) và Điều 24 vẫn quy định về vai trò chung: UBHC các cấp chịu trách nhiệm và báo cáo công tác với HĐND cùng cấp, với cơ quan hành chính cấp trên trực tiếp và đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Chính phủ. Điểm sáng của văn bản luật này là đã quy định rõ 16 nhiệm vụ của UBHC các cấp (ngoài thẩm quyền triệu tập hội nghị HĐND tại Điều 10) và lần đầu tiên đưa ra nguyên tắc làm việc của UBHC là “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 1958 vẫn quy định một cách chung nhất là “HĐND các cấp có quyền bãi miễn ủy viên UBHC do mình bầu ra” (Điều 8).

1.2. Giai đoạn từ Hiến pháp năm 1959 đến trước Hiến pháp năm 1980

Giai đoạn này có 02 văn bản quan trọng là Hiến pháp năm 1959 và Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp năm 1962.

Hiến pháp năm 1959 có 05 điều quy định chung về UBHC (từ Điều 87 đến Điều 91) và 05 điều quy định về UBHC ở các khu vực tự trị (từ Điều 92 đến Điều 96). Tuy nhiên, cũng như Hiến pháp năm 1946 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 1958, vấn đề trách nhiệm chỉ được đề cập tại Điều 91 một cách rất chung chung: “UBHC các cấp chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND cấp mình và trước cơ quan hành chính cấp trên trực tiếp”. Hiến pháp năm 1959 tiếp tục kế thừa Hiến pháp năm 1946 trong khẳng định “HĐND bầu ra UBHC và có quyền bãi miễn các thành viên của UBHC” (Điều 84).

Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp năm 1962 tiếp tục khẳng định nguyên tắc làm việc “tập thể lãnh đạo, phân công phụ trách” và lần đầu tiên đưa ra quy định về chịu trách nhiệm của cá nhân thành viên UBHC: Mỗi thành viên của UBHC chịu trách nhiệm chung về công tác của UBHC và “chịu trách nhiệm riêng” về phần công tác của mình (đoạn 2 Điều 53). Có thể khẳng định đây là điểm mốc ghi dấu về sự ra đời của nguyên tắc “chịu trách nhiệm cá nhân” của thành viên UBHC trong các quy định của pháp luật[4].

1.3. Giai đoạn từ Hiến pháp năm 1980 đến trước Hiến pháp năm 1992

Giai đoạn này có rất nhiều văn bản pháp luật quan trọng quy định về trách nhiệm của UBND.

Hiến pháp 1980: Lúc này tên gọi UBHC đã được đổi thành UBND. Đây là lần đầu tiên Hiến pháp ghi nhận nguyên tắc chịu trách nhiệm cá nhân của thành viên UBND, ngoài nguyên tắc chịu trách nhiệm tập thể tại Điều 121.

Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 1983: Luật đề cao nguyên tắc làm việc tập thể của UBND bằng quy định: UBND làm việc theo chế độ tập thể (đoạn 2 Điều 52) và ghi nhận: Mỗi thành viên của UBND chịu trách nhiệm cá nhân về phần công tác của mình trước HĐND, UBND cùng cấp và cùng với các thành viên khác chịu trách nhiệm tập thể về hoạt động của UBND trước HĐND cấp mình và trước cấp trên (đoạn 3 Điều 52).

Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 1989: Luật đã xóa bỏ vai trò của UBND với tư cách là thường trực HĐND cùng cấp, tách bạch UBND ra khỏi HĐND, cũng là cơ sở quan trọng để xem xét trách nhiệm của UBND với tính chất là cơ quan chấp hành của HĐND chứ không phải là cơ quan thường trực của HĐND như trước đây.

1.4. Giai đoạn từ Hiến pháp năm 1992 đến Hiến pháp năm 2013

Hiến pháp năm 1992: Trong 08 điều của Chương IX về HĐND và UBND thì UBND chỉ được quy định trong 02 điều (Điều 123, Điều 124) và trách nhiệm vẫn là trách nhiệm chung. Tuy vậy, Hiến pháp đã quy định trách nhiệm của UBND trong phạm vi “hẹp” hơn so với các văn bản trước, đó là UBND “chịu trách nhiệm chấp hành” Hiến pháp, pháp luật, các văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND” (Điều 123). Đến ngày 25/12/2001, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992, các nội dung liên quan đến UBND vẫn giữ nguyên, không có gì thay đổi.

Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 1994: Thực hiện chủ trương đổi mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền nêu ra tại Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, Luật này đã có nhiều điểm mới so với các văn bản pháp luật trước đây về UBND. Với 12 điều (từ Điều 41 đến Điều 52), Luật đã quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch UBND (Điều 52) và đưa ra những quy định về trách nhiệm của Chủ tịch và các thành viên khác của UBND tại Điều 51.

Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003: Với 46 điều quy định về UBND (từ Điều 82 đến Điều 127) nhưng về cơ bản, các quy định về chịu trách nhiệm của UBND, Chủ tịch UBND và các thành viên khác của UBND tại Điều 126 không có gì thay đổi so với Điều 51 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 1994. Nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch UBND từ 5 (Điều 52 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 1994) đã nâng lên thành 7 (Điều 127 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003), chứng tỏ thẩm quyền và tính chủ động của Chủ tịch UBND ngày càng mở rộng hơn.

Ngày 15/11/2008, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 26/2008/QH12 về thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường, theo đó có 67 huyện, 32 quận và 483 phường của 10 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương triển khai thí điểm thực hiện theo quy định mới. Đương nhiên, lúc này do HĐND không được tổ chức nên việc chịu trách nhiệm của UBND và thành viên UBND có khác so với Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003[5].

Từ Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 cho đến nay: Các quy định về trách nhiệm của UBND không có thay đổi nhiều so với Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001).

Luật Cán bộ, công chức năm 2008 cũng chỉ quy định 04 hình thức kỷ luật đối với cá nhân cán bộ (khiển trách, cảnh cáo, cách chức, bãi nhiệm - Điều 78) và 06 hình thức kỷ luật đối với công chức (khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc - Điều 79), không có quy định trách nhiệm kỷ luật đối với tập thể. Hơn nữa, bãi nhiệm - hình thức mang tính chính trị lại được xem là hình thức kỷ luật cán bộ cũng cần phải nghiên cứu để điều chỉnh lại cho hợp lý với tính chất hình thành của tập thể UBND và cá nhân Chủ tịch UBND.

Từ thực trạng các quy định pháp luật về trách nhiệm của UBND như đã khái quát nêu trên, tác giả cho rằng, những quy định về trách nhiệm tập thể UBND và Chủ tịch UBND, các thành viên khác của UBND còn chưa hoàn thiện, thiếu chặt chẽ về lý luận và yếu về cơ sở pháp lý. Trách nhiệm chủ yếu mới chỉ đề cập ở việc chủ động thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn, chưa quan tâm nhiều đến hậu quả phải gánh chịu khi UBND, Chủ tịch UBND và các thành viên khác không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nhiệm vụ trong thẩm quyền của mình, trách nhiệm của Chủ tịch UBND quy định còn mờ nhạt; chế tài về trách nhiệm của tập thể UBND hoàn toàn bị bỏ lửng, điều này đồng nghĩa với việc không có cơ sở xử lý trách nhiệm tập thể UBND từ cả 02 phía HĐND cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên; thiếu chế tài xử lý trách nhiệm đối với Chủ tịch UBND cũng như các thành viên khác của UBND. Vấn đề trách nhiệm (theo nghĩa tiêu cực) của UBND thực tế đã được lưu tâm nhưng dường như vẫn còn “lúng túng” trong việc tìm đường hướng giải quyết thích hợp; trải qua nhiều giai đoạn lịch sử thì các quy định về sau này mặc dù có cụ thể hơn nhưng không kế thừa, phát triển được những quy định tinh hoa của Sắc lệnh số 63-SL và Sắc lệnh số 77-SL.

Trong giai đoạn hiện nay, quá trình xem xét sửa đổi Luật Tổ chức chính quyền địa phương không thể thiếu những quy định về trách nhiệm cũng như chế tài trách nhiệm của tập thể UBND, Chủ tịch UBND, các thành viên khác của UBND, vì các quy định này sẽ đóng vai trò như là một cơ chế phân công, phối hợp gắn với kiểm soát quyền lực của UBND, đảm bảo cho thiết chế này luôn hoạt động với tính chất chủ động vốn có nhưng phải dám chịu trách nhiệm, đặc biệt là trong yêu cầu xây dựng Chính phủ kỷ cương, liêm chính, kiến tạo, hành động, phục vụ, hiệu quả nhằm tạo dựng một “chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân”[6].

2. Đề xuất giải pháp sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương

- Cần thiết quy định cụ thể về chế tài trách nhiệm đối với tập thể UBND và Chủ tịch UBND, các thành viên khác của UBND, tiếp thu tinh hoa của các Sắc lệnh số 63-SL và Sắc lệnh số 77-SL.

- Không đưa bãi nhiệm là hình thức kỷ luật đối với cán bộ như quy định tại Điều 78 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 do đây là trách nhiệm chính trị, không phải là trách nhiệm pháp lý; có thể xem xét đưa bãi nhiệm thành chế tài trách nhiệm đối với tập thể UBND và Chủ tịch UBND, các thành viên khác của UBND.

- Sửa đổi, bổ sung quy định về hoạt động của UBND theo hướng: Quy định rõ hơn về các hoạt động cần thông qua tập thể UBND, đồng thời quy định tăng thêm nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch UBND để tăng tính chủ động của Chủ tịch UBND trong thực hiện công vụ (hiện nay đang được quy định “cứng” tại các điều 22, 29, 36, 43, 50, 57, 64, 71 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 và một số quy định liên quan), để qua đó xác định rõ hơn thẩm quyền và trách nhiệm cá nhân người đứng đầu và thành viên UBND, vì rõ ràng càng tăng thẩm quyền cá nhân thì càng xác định rõ trách nhiệm, tránh tình trạng khi xảy ra sai phạm thì đổ lỗi cho tập thể, biến tập thể UBND trở thành “nơi trú ẩn trách nhiệm”, còn trách nhiệm cá nhân thì hoàn toàn mờ nhạt.

- Bổ sung quy định về mối quan hệ giữa UBND cấp trên với HĐND cấp dưới để xác định rõ hơn tính chất mối quan hệ trách nhiệm giữa 02 thiết chế này.

Vũ Đức Nhuần

Chánh Văn phòng HĐND và UBND huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng

Vũ Quang Tuấn

Tổng cục Thi hành án Dân sự, Bộ Tư pháp


[1] Tác giả đồng ý với quan điểm cho rằng thẩm quyền của UBND bao gồm thẩm quyền của tập thể UBND và của chủ tịch UBND - Nguyễn Cửu Việt (chủ biên), Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010, tr. 208. Tuy vậy, bài viết này chỉ đưa ra khái niệm chung nhất về trách nhiệm của UBND.

[2] Tuy vậy, để đảm bảo cho UBHC hoạt động thông suốt, có thể bổ sung ngay thành viên khi thiếu, Sắc lệnh số 63-SL cho phép UBHC các cấp đều có 02 ủy viên dự khuyết (các điều thứ 12, 22, 42, 52).

[3] Xem các điều thứ 35, 36, 49, 50 Sắc lệnh số 77-SL.

[4] Ngày 20/3/1969, Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư số 06-NV hướng dẫn nguyên tắc phân công và lề lối làm việc của UBHC huyện, xã. Tại Phần 2 Thông tư dành riêng quy định về chế độ trách nhiệm của ủy viên UBHC huyện, xã. Tuy vậy, khái niệm chế độ trách nhiệm tại Thông tư này thực chất là các nhiệm vụ cũng như cách thức để thực hiện thẩm quyền của chủ tịch, các ủy viên UBND, không phải là trách nhiệm do phải gánh chịu hậu quả trong quá trình thực hiện công vụ.

[5] Theo Nghị quyết số 725/2009/UBTVQH12 ngày 16/01/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội điều chỉnh nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của UBND huyện, quận, phường nơi không tổ chức HĐND huyện, quận, phường, thì nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Chủ tịch UBND huyện, quận được bổ sung (chủ yếu là các nhiệm vụ trước đây của HĐND huyện, quận, phường); sự phân công công việc và chịu trách nhiệm của Chủ tịch UBND huyện, quận, phường dường như cũng rõ ràng hơn (xem quy định tại khoản 1 Điều 11, Điều 12 Nghị quyết số 725/2009/UBTVQH12).

[6] Lời nói đầu Hiến pháp năm 1946.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: