Thứ ba 28/07/2026 17:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện cơ chế tổ chức theo dõi thi hành pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Hoạt động theo dõi thi hành pháp luật phải giúp đánh giá toàn diện, đầy đủ, khách quan và khoa học về tình hình thi hành pháp luật, qua đó, thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm sử dụng hợp lý, hiệu quả, nhanh chóng, thiết thực các kết quả của hoạt động theo dõi thi hành pháp luật trong hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật và thực thi luật pháp.

1. Về thể chế theo dõi thi hành pháp luật
Để khắc phục những bất cập, hạn chế trong công tác theo dõi thi hành pháp luật trên thực tiễn, việc đổi mới, hoàn thiện pháp luật về theo dõi thi hành pháp luật cần phải được đặt trong tinh thần của Hiến pháp năm 2013 và bối cảnh Đảng ta chuyển hướng chỉ đạo chiến lược trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật. Theo dõi thi hành pháp luật phải là một “kênh” quan trọng để kiểm soát quyền lực nhà nước, góp phần bảo đảm thực thi quyền con người, quyền công dân trong đời sống xã hội. Hoạt động theo dõi thi hành pháp luật phải giúp đánh giá toàn diện, đầy đủ, khách quan và khoa học về tình hình thi hành pháp luật, qua đó, thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm sử dụng hợp lý, hiệu quả, nhanh chóng, thiết thực các kết quả của hoạt động theo dõi thi hành pháp luật trong hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật và thực thi luật pháp.

Trên cơ sở rà soát, đánh giá toàn diện các quy định của pháp luật về theo dõi thi hành pháp luật (Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ về theo dõi tình hình thi hành pháp luật và các văn bản pháp luật liên quan) cho thấy, chúng ta cần tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế pháp luật trong hoạt động theo dõi thi hành pháp luật nhằm xác định rõ ràng, cụ thể phạm vi, đối tượng, nội dung, phương thức theo dõi cũng như trách nhiệm cụ thể của các bộ, ngành, địa phương, các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác trong công tác theo dõi thi hành pháp luật; xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành của các cơ quan ngoài hệ thống hành pháp để Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện tốt công việc tổ chức thi hành Hiến pháp và pháp luật. Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp cần đẩy mạnh việc nghiên cứu, xây dựng và trình Chính phủ ban hành nghị định thay thế Nghị định số 59/2012/NĐ-CP để quy định đầy đủ, toàn diện các nội dung liên quan đến việc theo dõi thi hành pháp luật trên tinh thần thể chế hóa quy định tại Điều 99 Hiến pháp năm 2013. Theo đó, nghị định cần xác định rõ các chủ thể, đối tượng, phạm vi và hình thức theo dõi cũng như trình tự, các bước để tiến hành theo dõi thi hành pháp luật; quy định rõ cơ chế phối hợp, cơ chế huy động sự tham gia hơn nữa của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong hoạt động theo dõi tình hình thi hành pháp luật; thẩm quyền xử lý cũng như chế tài trong hoạt động theo dõi thi hành pháp luật; cơ chế phối hợp với Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cũng như cơ chế tham gia thực chất của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức khác trong hoạt động theo dõi thi hành pháp luật... Bên cạnh đó, công tác theo dõi thi hành pháp luật cần được đổi mới theo hướng xây dựng, hoàn thiện các tiêu chí theo dõi, đánh giá tình hình thi hành pháp luật một cách khách quan, khoa học; quy định đầy đủ các nội dung chi và mức chi dành cho công tác này.

Về lâu dài, để khắc phục các hạn chế, bất cập của pháp luật về theo dõi thi hành pháp luật cần phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu xây dựng, ban hành một đạo luật về theo dõi thi hành pháp luật nhằm điều chỉnh đầy đủ, toàn diện các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động theo dõi thi hành pháp luật ở Việt Nam hiện nay hoặc xây dựng, ban hành đạo luật về tổ chức thi hành pháp luật, trong đó có chế định về theo dõi thi hành pháp luật nhằm luật hóa những quy định cơ bản, nền tảng cho công tác theo dõi thi hành pháp luật.

Theo chúng tôi, việc nghiên cứu xây dựng Luật Theo dõi thi hành pháp luật hoặc Luật Tổ chức thi hành pháp luật, cần xác định rõ một số nội dung sau:

Một là, quy định rõ chủ thể và đối tượng theo dõi thi hành pháp luật

Nhìn từ góc độ mở rộng và phát huy dân chủ trong quản lý nhà nước và xã hội, cần quy định toàn diện địa vị pháp lý của từng chủ thể là các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và mọi công dân trong việc tổ chức thi hành và theo dõi tình hình thi hành pháp luật. Trong đó, xác định rõ chủ thể theo dõi thi hành pháp luật là các thiết chế nhà nước, các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, các thiết chế phi nhà nước và cá nhân trong xã hội. Đồng thời, để phù hợp với nguyên tắc mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân đều phải nghiêm chỉnh thi hành pháp luật của Nhà nước pháp quyền, cần quy định rõ đối tượng theo dõi là hoạt động của các cơ quan và người có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước (bao gồm cả hoạt động của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án, Viện kiểm sát). Điều này có nghĩa là cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền vừa là chủ thể theo dõi, nhưng cũng là đối tượng bị theo dõi thi hành pháp luật. Nhân dân với tư cách là chủ thể của quyền lực nhà nước sẽ thực hiện các quyền theo dõi, giám sát thi hành pháp luật đối với đối tượng nêu trên.

Hai là, phạm vi theo dõi thi hành pháp luật

Phạm vi theo dõi thi hành pháp luật chỉ nên xác định ở việc xem xét, đánh giá hoạt động thi hành pháp luật của các cơ quan trong bộ máy nhà nước và người có thẩm quyền, không nên mở rộng phạm vi theo dõi hoạt động thi hành pháp luật đối với các thiết chế ngoài nhà nước và các tổ chức, cá nhân và công dân, vì phạm vi quá rộng, dàn trải và không đủ nguồn lực để thực hiện. Bên cạnh đó, xét trên phương diện khoa học pháp lý, nếu mở rộng phạm vi theo dõi thi hành pháp luật đối với các chủ thể này sẽ dẫn đến trùng chéo với hoạt động giám sát, thanh tra việc chấp hành pháp luật. Các thiết chế bên ngoài nhà nước, ngoài sự giám sát, thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước theo thẩm quyền còn thực hiện chức năng tự giám sát, tự kiểm tra việc thi hành pháp luật, nội quy, quy chế, điều lệ đối với hoạt động của cơ quan, đơn vị mình và các tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý. Đối với cá nhân, công dân, việc xem xét, đánh giá hoạt động thi hành pháp luật chủ yếu ở việc đánh giá về tính tuân thủ pháp luật, vì vậy có thể được thực hiện thông qua việc xem xét, đánh giá hiệu quả hoạt động thi hành pháp luật của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền, như thông qua việc phân tích, tổng hợp số liệu xử lý vi phạm hành chính về an toàn giao thông, có thể đánh giá được mức độ tuân thủ pháp luật của người dân khi tham gia giao thông trên địa bàn…

Ba là, về hình thức, phương pháp, trình tự, thủ tục theo dõi thi hành pháp luật

Tùy theo chủ thể khác nhau mà có những hình thức, phương pháp, trình tự, thủ tục theo dõi thi hành pháp luật khác nhau. Theo dõi thi hành pháp luật trên phương diện là hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước, cần có các hình thức, phương pháp, trình tự, thủ tục thực hiện phù hợp với các chủ thể và đối tượng theo dõi, được luật hóa một cách rõ ràng, minh bạch, để các thiết chế trong bộ máy nhà nước và các thiết chế bên ngoài nhà nước có thể dễ dàng tiếp cận và thực hiện quyền theo dõi thi hành pháp luật của mình. Việc quy định cụ thể về hình thức, phương pháp theo dõi thi hành pháp luật đối với chủ thể không mang tính quyền lực nhà nước như hoạt động theo dõi, giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, của các tổ chức, cá nhân, công dân được thực hiện dưới hình thức phản ánh, kiến nghị về tình hình thi hành pháp luật thì cần có những quy định về trình tự, thủ tục tiếp nhận, xử lý cụ thể, rõ ràng, dễ thực hiện. Đối với các chủ thể mang tính quyền lực nhà nước như cơ quan quản lý nhà nước cấp trên thực hiện kiểm tra tình hình thi hành pháp luật của cơ quan nhà nước cấp dưới thì cần phải quy định rõ quy trình, các bước thực hiện để bảo đảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động tổ chức thi hành và theo dõi thi hành pháp luật.

2. Hoàn thiện thiết chế tổ chức theo dõi thi hành pháp luật

Thứ nhất, về vai trò lãnh đạo của Đảng trong công tác tổ chức theo dõi thi hành pháp luật

Hiện nay, bộ máy của Đảng được tổ chức song song với bộ máy nhà nước từ trung ương xuống địa phương, trên thực tế việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của cơ quan Đảng và cơ quan nhà nước có nhiều lúc bị trùng chéo gây tốn kém, lãng phí về ngân sách và làm cho bộ máy trở nên cồng kềnh, nhiều tầng nấc, hoạt động kém hiệu quả. Vì vậy, cần thiết phải có sự sắp xếp thu gọn đầu mối các cơ quan chuyên môn của Đảng và Nhà nước, thực hiện nhất thể hóa các cơ quan Đảng, Nhà nước có cùng tính chất, chức năng, nhiệm vụ cũng như nhất thể hóa một số chức danh lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ở trung ương và cơ sở.

Thứ hai, đối với Quốc hội, Hội đồng nhân dân

Để có thể thực hiện công tác tổ chức theo dõi thi hành pháp luật trong bộ máy của Quốc hội/Hội đồng nhân dân, có thể nghiên cứu thành lập cơ quan thanh tra của Quốc hội/Hội đồng nhân dân hoặc giao cho cơ quan, đơn vị có chức năng pháp chế của Quốc hội/Hội đồng nhân dân thực hiện chức năng theo dõi thi hành pháp luật đối với hệ thống các cơ quan thuộc Quốc hội/Hội đồng nhân dân nhằm giúp Quốc hội/Hội đồng nhân dân theo dõi, đánh việc thi hành pháp luật của các cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền thuộc cơ cấu, tổ chức bộ máy hành chính của Quốc hội và Hội đồng nhân dân (các Ủy ban của Quốc hội/Hội đồng nhân dân, Văn phòng Quốc hội/Hội đồng nhân dân, các đại biểu Quốc hội/Hội đồng nhân dân).

Thứ ba, đối với Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân

Thiết chế Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân là chủ thể quan trọng trong việc theo dõi, giám sát việc thi hành pháp luật của các cơ quan tổ chức và cá nhân. Cũng giống như Quốc hội và Hội đồng nhân dân, có thể nghiên cứu giao chức năng tổ chức theo dõi thi hành pháp luật đối với các cơ quan trong hệ thống Tòa án, Viện kiểm sát cho đơn vị thanh tra, pháp chế của Ngành Tòa án, Ngành Kiểm sát.

Thứ tư, đối với Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các cấp

Có nhiều phương án để hoàn thiện các thiết chế về theo dõi thi hành pháp luật. Tuy nhiên, trong điều kiện trước mắt, nên tiếp tục giữ nguyên mô hình tổ chức của thiết chế theo dõi thi hành pháp luật hiện có theo hướng tiếp tục kiện toàn bộ phận chuyên trách về theo dõi thi hành pháp luật trong các cơ quan, tổ chức bộ, ngành và địa phương.

Về lâu dài, cần chú ý tới vai trò của cơ quan thanh tra, là thiết chế rất quan trọng trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước và có điều kiện để thực hiện hiệu quả việc tổ chức theo dõi thi hành pháp luật. Vì vậy, trong xu thế cải cách hành chính nhà nước với quan điểm “bộ tinh, tỉnh gọn, huyện toàn diện, xã bám cơ sở”, có thể nghiên cứu, hoàn thiện thiết chế tổ chức theo dõi thi hành pháp luật theo hướng sau đây:

- Tại Bộ Tư pháp: Trên phương diện là cơ quan giúp Chính phủ về công tác tổ chức theo dõi thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp hiện có cơ quan chuyên trách giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp thực hiện nhiệm vụ này, đó là Cục Quản lý xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật. Sắp tới, cần thiết tiếp tục nghiên cứu, kiện toàn về tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Cục theo hướng tăng cường hoạt động kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm trong công tác theo dõi thi hành pháp luật và thực thi công vụ trong xử lý vi phạm hành chính, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả, nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà nước trong theo dõi thi hành pháp luật và quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

- Tại các bộ, cơ quan ngang bộ: Thực hiện sáp nhập cơ quan pháp chế và cơ quan thanh tra làm một, gọi là Cơ quan Thanh tra - Pháp chế (Ví dụ: Cơ quan Thanh tra - Pháp chế, Bộ Nội vụ) thực hiện chức năng nhiệm vụ thanh tra, pháp chế trước đây theo quy định của pháp luật.

Tương tự như vậy, ở các đơn vị thuộc Bộ, cơ quan ngang bộ có thể sáp nhập bộ phận thanh tra và bộ phận pháp chế để bảo đảm tinh gọn bộ máy, có thể gọi là Ban Thanh tra - Pháp chế thuộc Cục, Tổng cục.

- Tại Ủy ban nhân dân: Thực hiện sáp nhập các đơn vị có chức năng pháp chế và thanh tra trong các sở, ngành chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là Phòng Thanh tra - Pháp chế; đối với các đơn vị chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã thì bố trí ít nhất một cán bộ, công chức chuyên trách thực hiện công tác tổ chức theo dõi thi hành pháp luật.

Thứ năm, đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội, xã hội - nghề nghiệp trong tổ chức theo dõi thi hành pháp luật

Đây là những chủ thể theo dõi, giám sát thi hành pháp luật từ bên ngoài đối với hoạt động thi hành pháp luật của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền. Việc hoàn thiện các thiết chế này chủ yếu là tạo cơ chế để nhân dân trong vai trò là chủ thể của quyền lực nhà nước, thông qua các tổ chức đại diện cho mình thực hiện quyền giám sát, theo dõi, kiểm tra việc thi hành pháp luật của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền.

3. Hoàn thiện các điều kiện bảo đảm thực hiện cơ chế tổ chức theo dõi thi hành pháp luật

Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền về vị trí, vai trò của công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật, từ đó tạo chuyển biến căn bản trong nhận thức và hành động của đội ngũ lãnh đạo cấp ủy, chính quyền, đội ngũ cán bộ, công chức trong quá trình tổ chức thực thi các quy định của pháp luật, thực hiện nhiệm vụ công vụ được giao.

Theo tinh thần của Quyết định số 242/QĐ-TTg ngày 26/02/2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “Đề án Đổi mới, nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật giai đoạn 2018 - 2022”, một trong những giải pháp quan trọng trong thời gian tới là nghiên cứu xây dựng, trình Ban Cán sự Đảng Chính phủ để xem xét, trình Ban Bí thư ban hành “Chỉ thị về tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp trong công tác tổ chức thi hành pháp luật”.

Hai là, tiếp tục nghiên cứu, sắp xếp, kiện toàn và đổi mới về tổ chức, bộ máy, biên chế làm công tác tổ chức theo dõi thi hành pháp luật

Về lâu dài, cần nghiên cứu, thành lập cơ quan theo dõi thi hành pháp luật theo hướng tinh gọn, hiệu quả từ trung ương xuống địa phương. Giai đoạn hiện nay, các bộ, ngành ở trung ương cần bố trí sắp xếp bảo đảm có cán bộ chuyên trách về tổ chức và theo dõi thi hành pháp luật tại Vụ Pháp chế, trong khi các địa phương cần tổ chức thực hiện đầy đủ, nghiêm túc, có hiệu quả Quyết định số 242/QĐ-TTg ngày 26/02/2018 của Thủ tướng Chính phủ về kiện toàn tổ chức pháp chế các bộ, ngành; bố trí biên chế pháp chế chuyên trách tại các sở, ngành chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để thực hiện nhiệm vụ công tác pháp chế nói chung và làm đầu mối công tác tổ chức thi hành pháp luật nói riêng.

Ba là, tăng cường năng lực đội ngũ làm công tác tổ chức theo dõi thi hành pháp luật

Mục tiêu chung là xây dựng được đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức theo dõi thi hành pháp luật có năng lực chuyên môn và bản lĩnh, phẩm chất chính trị, nghề nghiệp vững vàng. Để thực hiện được mục tiêu này thì một trong những vấn đề có tính then chốt là Chính phủ, trước tiên là Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp và các bộ, ngành, địa phương cần phải xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, xây dựng chương trình khung đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn và dài hạn, nâng cao trình độ chuyên môn cho lực lượng cán bộ công chức làm công tác tổ chức theo dõi thi hành pháp luật tại các bộ, ngành, địa phương.

Bên cạnh việc tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng, Nhà nước cần có những chính sách thỏa đáng về cơ chế, chế độ ưu tiên, thu hút đối với những người làm công tác tổ chức và theo dõi thi hành pháp luật, đồng thời, cần có sự đầu tư đầy đủ, toàn diện về cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại, là điều kiện cần và đủ trong tổ chức theo dõi thi hành pháp luật, tạo ra môi trường thuận lợi trong việc triển khai hoạt động tổ chức theo dõi thi hành pháp luật trong thực tiễn.

Bốn là, bố trí đầy đủ kinh phí cho công tác tổ chức theo dõi thi hành pháp luật

Để hoạt động tổ chức theo dõi thi hành pháp luật được triển khai đồng bộ, toàn diện, đáp ứng mục tiêu đặt ra thì cần thiết phải có sự quan tâm của lãnh đạo, thủ trưởng cơ quan, đơn vị trong việc bố trí nguồn kinh phí thực hiện. Vì vậy, Nhà nước cần quy định đầy đủ, rõ ràng và cụ thể các mục chi và định mức chi cho công tác này để các bộ, ngành và địa phương có căn cứ, cơ sở lập dự toán triển khai các hoạt động theo dõi thi hành pháp luật như tiếp nhận, thu thập và xử lý thông tin; kiểm tra, điều tra, khảo sát, xử lý kết quả theo dõi thi hành pháp luật. Bên cạnh đó, để thu hút, huy động sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động theo dõi thi hành pháp luật, cần xây dựng các định mức chi và nội dung chi cho việc sử dụng cộng tác viên theo dõi thi hành pháp luật.

Năm là, đổi mới về cơ chế phối hợp trong hoạt động tổ chức theo dõi thi hành pháp luật

Chính phủ với vai trò là chủ thể tổ chức thi hành pháp luật cần thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ với các chủ thể khác trong hệ thống chính trị như Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các tổ chức xã hội khác trong quá trình triển khai thực hiện chức năng, nhiệm vụ tổ chức theo dõi thi hành pháp luật. Các ngành, các cấp cần chủ động xây dựng quy chế phối hợp trong hoạt động theo dõi thi hành pháp luật của cơ quan, đơn vị mình. Theo chúng tôi, cần xây dựng cơ chế phối hợp bên trong và cơ chế phối hợp bên ngoài, cụ thể là:

- Xây dựng và hoàn thiện các quy định về việc phối hợp giữa các đơn vị có chức năng tham mưu, giúp Bộ, ngành và địa phương tổ chức thực hiện công tác theo dõi thi hành pháp luật (cơ chế phối hợp bên trong);

- Xây dựng, hoàn thiện quy định về phối hợp theo dõi thi hành pháp luật giữa Bộ, ngành, địa phương với cơ quan giám sát, cơ quan tiến hành tố tụng, các cơ quan khác trong việc cung cấp thông tin về tình hình thi hành pháp luật (cơ chế phối hợp bên ngoài).

Sáu là, xây dựng bộ công cụ hỗ trợ hoạt động tổ chức theo dõi thi hành pháp luật

Một trong những khó khăn, thách thức lớn đối với công tác tổ chức theo dõi thi hành pháp luật ở Việt Nam những năm qua là chưa có một bộ công cụ hoàn chỉnh giúp cho việc theo dõi, đánh giá hiệu quả, chính xác tình hình thi hành pháp luật ở các cấp độ, phạm vi khác nhau. Vì vậy, việc sớm nghiên cứu, xây dựng khung theo dõi thi hành pháp luật và hệ thống thu thập dữ liệu thông tin về thi hành pháp luật với các tiêu chí, nội dung cụ thể là một mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng đặt ra trong giai đoạn hiện nay.

Đẩy mạnh áp dụng công nghệ thông tin trong việc thu thập, lưu trữ dữ liệu về tình hình thi hành pháp luật nói chung và báo cáo theo dõi thi hành pháp luật nói riêng nhằm đảm bảo nguồn dữ liệu đa dạng, đầy đủ, sẵn có, mang tính tích hợp, giảm gánh nặng xây dựng các báo cáo theo dõi thi hành pháp luật; hướng đến việc xây dựng một phần mềm giúp theo dõi, đánh giá tình hình thi hành pháp luật một cách thường xuyên, kịp thời, khách quan.

Bảy là, tăng cường huy động sự tham gia, phối hợp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động theo dõi thi hành pháp luật

Cần xây dựng cơ chế huy động, bảo đảm quyền tham gia hoạt động theo dõi thi hành pháp luật của các tổ chức xã hội, xã hội - nghề nghiệp và mọi công dân. Theo đó, tổ chức nghiên cứu, xây dựng quy trình tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của nhân dân về tình hình thi hành pháp luật một cách thống nhất, có hệ thống, cụ thể và minh bạch theo hướng xác lập, quy định trình tự, thủ tục thực hiện quyền; hình thức tiếp nhận ý kiến, địa chỉ tiếp nhận; trách nhiệm tiếp nhận, giải trình của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Tám là, tăng cường tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức pháp luật của nhân dân trong việc tham gia vào theo dõi, giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước

Tổ chức thực hiện thường xuyên các hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật, đặc biệt là các quy định liên quan đến quyền con người, quyền công dân đối với các tầng lớp nhân dân bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú, dễ hiểu, dễ tiếp cận các quy định pháp luật.

ThS. Đặng Thanh Sơn

Cục trưởng Cục Quản lý XLVPHC và theo dõi THPL

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: