Thứ bảy 17/10/2026 12:53
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện cơ chế tổ chức theo dõi thi hành pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Hoạt động theo dõi thi hành pháp luật phải giúp đánh giá toàn diện, đầy đủ, khách quan và khoa học về tình hình thi hành pháp luật, qua đó, thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm sử dụng hợp lý, hiệu quả, nhanh chóng, thiết thực các kết quả của hoạt động theo dõi thi hành pháp luật trong hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật và thực thi luật pháp.

1. Về thể chế theo dõi thi hành pháp luật
Để khắc phục những bất cập, hạn chế trong công tác theo dõi thi hành pháp luật trên thực tiễn, việc đổi mới, hoàn thiện pháp luật về theo dõi thi hành pháp luật cần phải được đặt trong tinh thần của Hiến pháp năm 2013 và bối cảnh Đảng ta chuyển hướng chỉ đạo chiến lược trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật. Theo dõi thi hành pháp luật phải là một “kênh” quan trọng để kiểm soát quyền lực nhà nước, góp phần bảo đảm thực thi quyền con người, quyền công dân trong đời sống xã hội. Hoạt động theo dõi thi hành pháp luật phải giúp đánh giá toàn diện, đầy đủ, khách quan và khoa học về tình hình thi hành pháp luật, qua đó, thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm sử dụng hợp lý, hiệu quả, nhanh chóng, thiết thực các kết quả của hoạt động theo dõi thi hành pháp luật trong hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật và thực thi luật pháp.

Trên cơ sở rà soát, đánh giá toàn diện các quy định của pháp luật về theo dõi thi hành pháp luật (Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ về theo dõi tình hình thi hành pháp luật và các văn bản pháp luật liên quan) cho thấy, chúng ta cần tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế pháp luật trong hoạt động theo dõi thi hành pháp luật nhằm xác định rõ ràng, cụ thể phạm vi, đối tượng, nội dung, phương thức theo dõi cũng như trách nhiệm cụ thể của các bộ, ngành, địa phương, các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác trong công tác theo dõi thi hành pháp luật; xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành của các cơ quan ngoài hệ thống hành pháp để Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện tốt công việc tổ chức thi hành Hiến pháp và pháp luật. Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp cần đẩy mạnh việc nghiên cứu, xây dựng và trình Chính phủ ban hành nghị định thay thế Nghị định số 59/2012/NĐ-CP để quy định đầy đủ, toàn diện các nội dung liên quan đến việc theo dõi thi hành pháp luật trên tinh thần thể chế hóa quy định tại Điều 99 Hiến pháp năm 2013. Theo đó, nghị định cần xác định rõ các chủ thể, đối tượng, phạm vi và hình thức theo dõi cũng như trình tự, các bước để tiến hành theo dõi thi hành pháp luật; quy định rõ cơ chế phối hợp, cơ chế huy động sự tham gia hơn nữa của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong hoạt động theo dõi tình hình thi hành pháp luật; thẩm quyền xử lý cũng như chế tài trong hoạt động theo dõi thi hành pháp luật; cơ chế phối hợp với Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cũng như cơ chế tham gia thực chất của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức khác trong hoạt động theo dõi thi hành pháp luật... Bên cạnh đó, công tác theo dõi thi hành pháp luật cần được đổi mới theo hướng xây dựng, hoàn thiện các tiêu chí theo dõi, đánh giá tình hình thi hành pháp luật một cách khách quan, khoa học; quy định đầy đủ các nội dung chi và mức chi dành cho công tác này.

Về lâu dài, để khắc phục các hạn chế, bất cập của pháp luật về theo dõi thi hành pháp luật cần phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu xây dựng, ban hành một đạo luật về theo dõi thi hành pháp luật nhằm điều chỉnh đầy đủ, toàn diện các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động theo dõi thi hành pháp luật ở Việt Nam hiện nay hoặc xây dựng, ban hành đạo luật về tổ chức thi hành pháp luật, trong đó có chế định về theo dõi thi hành pháp luật nhằm luật hóa những quy định cơ bản, nền tảng cho công tác theo dõi thi hành pháp luật.

Theo chúng tôi, việc nghiên cứu xây dựng Luật Theo dõi thi hành pháp luật hoặc Luật Tổ chức thi hành pháp luật, cần xác định rõ một số nội dung sau:

Một là, quy định rõ chủ thể và đối tượng theo dõi thi hành pháp luật

Nhìn từ góc độ mở rộng và phát huy dân chủ trong quản lý nhà nước và xã hội, cần quy định toàn diện địa vị pháp lý của từng chủ thể là các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và mọi công dân trong việc tổ chức thi hành và theo dõi tình hình thi hành pháp luật. Trong đó, xác định rõ chủ thể theo dõi thi hành pháp luật là các thiết chế nhà nước, các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, các thiết chế phi nhà nước và cá nhân trong xã hội. Đồng thời, để phù hợp với nguyên tắc mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân đều phải nghiêm chỉnh thi hành pháp luật của Nhà nước pháp quyền, cần quy định rõ đối tượng theo dõi là hoạt động của các cơ quan và người có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước (bao gồm cả hoạt động của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án, Viện kiểm sát). Điều này có nghĩa là cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền vừa là chủ thể theo dõi, nhưng cũng là đối tượng bị theo dõi thi hành pháp luật. Nhân dân với tư cách là chủ thể của quyền lực nhà nước sẽ thực hiện các quyền theo dõi, giám sát thi hành pháp luật đối với đối tượng nêu trên.

Hai là, phạm vi theo dõi thi hành pháp luật

Phạm vi theo dõi thi hành pháp luật chỉ nên xác định ở việc xem xét, đánh giá hoạt động thi hành pháp luật của các cơ quan trong bộ máy nhà nước và người có thẩm quyền, không nên mở rộng phạm vi theo dõi hoạt động thi hành pháp luật đối với các thiết chế ngoài nhà nước và các tổ chức, cá nhân và công dân, vì phạm vi quá rộng, dàn trải và không đủ nguồn lực để thực hiện. Bên cạnh đó, xét trên phương diện khoa học pháp lý, nếu mở rộng phạm vi theo dõi thi hành pháp luật đối với các chủ thể này sẽ dẫn đến trùng chéo với hoạt động giám sát, thanh tra việc chấp hành pháp luật. Các thiết chế bên ngoài nhà nước, ngoài sự giám sát, thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước theo thẩm quyền còn thực hiện chức năng tự giám sát, tự kiểm tra việc thi hành pháp luật, nội quy, quy chế, điều lệ đối với hoạt động của cơ quan, đơn vị mình và các tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý. Đối với cá nhân, công dân, việc xem xét, đánh giá hoạt động thi hành pháp luật chủ yếu ở việc đánh giá về tính tuân thủ pháp luật, vì vậy có thể được thực hiện thông qua việc xem xét, đánh giá hiệu quả hoạt động thi hành pháp luật của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền, như thông qua việc phân tích, tổng hợp số liệu xử lý vi phạm hành chính về an toàn giao thông, có thể đánh giá được mức độ tuân thủ pháp luật của người dân khi tham gia giao thông trên địa bàn…

Ba là, về hình thức, phương pháp, trình tự, thủ tục theo dõi thi hành pháp luật

Tùy theo chủ thể khác nhau mà có những hình thức, phương pháp, trình tự, thủ tục theo dõi thi hành pháp luật khác nhau. Theo dõi thi hành pháp luật trên phương diện là hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước, cần có các hình thức, phương pháp, trình tự, thủ tục thực hiện phù hợp với các chủ thể và đối tượng theo dõi, được luật hóa một cách rõ ràng, minh bạch, để các thiết chế trong bộ máy nhà nước và các thiết chế bên ngoài nhà nước có thể dễ dàng tiếp cận và thực hiện quyền theo dõi thi hành pháp luật của mình. Việc quy định cụ thể về hình thức, phương pháp theo dõi thi hành pháp luật đối với chủ thể không mang tính quyền lực nhà nước như hoạt động theo dõi, giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, của các tổ chức, cá nhân, công dân được thực hiện dưới hình thức phản ánh, kiến nghị về tình hình thi hành pháp luật thì cần có những quy định về trình tự, thủ tục tiếp nhận, xử lý cụ thể, rõ ràng, dễ thực hiện. Đối với các chủ thể mang tính quyền lực nhà nước như cơ quan quản lý nhà nước cấp trên thực hiện kiểm tra tình hình thi hành pháp luật của cơ quan nhà nước cấp dưới thì cần phải quy định rõ quy trình, các bước thực hiện để bảo đảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động tổ chức thi hành và theo dõi thi hành pháp luật.

2. Hoàn thiện thiết chế tổ chức theo dõi thi hành pháp luật

Thứ nhất, về vai trò lãnh đạo của Đảng trong công tác tổ chức theo dõi thi hành pháp luật

Hiện nay, bộ máy của Đảng được tổ chức song song với bộ máy nhà nước từ trung ương xuống địa phương, trên thực tế việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của cơ quan Đảng và cơ quan nhà nước có nhiều lúc bị trùng chéo gây tốn kém, lãng phí về ngân sách và làm cho bộ máy trở nên cồng kềnh, nhiều tầng nấc, hoạt động kém hiệu quả. Vì vậy, cần thiết phải có sự sắp xếp thu gọn đầu mối các cơ quan chuyên môn của Đảng và Nhà nước, thực hiện nhất thể hóa các cơ quan Đảng, Nhà nước có cùng tính chất, chức năng, nhiệm vụ cũng như nhất thể hóa một số chức danh lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ở trung ương và cơ sở.

Thứ hai, đối với Quốc hội, Hội đồng nhân dân

Để có thể thực hiện công tác tổ chức theo dõi thi hành pháp luật trong bộ máy của Quốc hội/Hội đồng nhân dân, có thể nghiên cứu thành lập cơ quan thanh tra của Quốc hội/Hội đồng nhân dân hoặc giao cho cơ quan, đơn vị có chức năng pháp chế của Quốc hội/Hội đồng nhân dân thực hiện chức năng theo dõi thi hành pháp luật đối với hệ thống các cơ quan thuộc Quốc hội/Hội đồng nhân dân nhằm giúp Quốc hội/Hội đồng nhân dân theo dõi, đánh việc thi hành pháp luật của các cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền thuộc cơ cấu, tổ chức bộ máy hành chính của Quốc hội và Hội đồng nhân dân (các Ủy ban của Quốc hội/Hội đồng nhân dân, Văn phòng Quốc hội/Hội đồng nhân dân, các đại biểu Quốc hội/Hội đồng nhân dân).

Thứ ba, đối với Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân

Thiết chế Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân là chủ thể quan trọng trong việc theo dõi, giám sát việc thi hành pháp luật của các cơ quan tổ chức và cá nhân. Cũng giống như Quốc hội và Hội đồng nhân dân, có thể nghiên cứu giao chức năng tổ chức theo dõi thi hành pháp luật đối với các cơ quan trong hệ thống Tòa án, Viện kiểm sát cho đơn vị thanh tra, pháp chế của Ngành Tòa án, Ngành Kiểm sát.

Thứ tư, đối với Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các cấp

Có nhiều phương án để hoàn thiện các thiết chế về theo dõi thi hành pháp luật. Tuy nhiên, trong điều kiện trước mắt, nên tiếp tục giữ nguyên mô hình tổ chức của thiết chế theo dõi thi hành pháp luật hiện có theo hướng tiếp tục kiện toàn bộ phận chuyên trách về theo dõi thi hành pháp luật trong các cơ quan, tổ chức bộ, ngành và địa phương.

Về lâu dài, cần chú ý tới vai trò của cơ quan thanh tra, là thiết chế rất quan trọng trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước và có điều kiện để thực hiện hiệu quả việc tổ chức theo dõi thi hành pháp luật. Vì vậy, trong xu thế cải cách hành chính nhà nước với quan điểm “bộ tinh, tỉnh gọn, huyện toàn diện, xã bám cơ sở”, có thể nghiên cứu, hoàn thiện thiết chế tổ chức theo dõi thi hành pháp luật theo hướng sau đây:

- Tại Bộ Tư pháp: Trên phương diện là cơ quan giúp Chính phủ về công tác tổ chức theo dõi thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp hiện có cơ quan chuyên trách giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp thực hiện nhiệm vụ này, đó là Cục Quản lý xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật. Sắp tới, cần thiết tiếp tục nghiên cứu, kiện toàn về tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Cục theo hướng tăng cường hoạt động kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm trong công tác theo dõi thi hành pháp luật và thực thi công vụ trong xử lý vi phạm hành chính, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả, nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà nước trong theo dõi thi hành pháp luật và quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

- Tại các bộ, cơ quan ngang bộ: Thực hiện sáp nhập cơ quan pháp chế và cơ quan thanh tra làm một, gọi là Cơ quan Thanh tra - Pháp chế (Ví dụ: Cơ quan Thanh tra - Pháp chế, Bộ Nội vụ) thực hiện chức năng nhiệm vụ thanh tra, pháp chế trước đây theo quy định của pháp luật.

Tương tự như vậy, ở các đơn vị thuộc Bộ, cơ quan ngang bộ có thể sáp nhập bộ phận thanh tra và bộ phận pháp chế để bảo đảm tinh gọn bộ máy, có thể gọi là Ban Thanh tra - Pháp chế thuộc Cục, Tổng cục.

- Tại Ủy ban nhân dân: Thực hiện sáp nhập các đơn vị có chức năng pháp chế và thanh tra trong các sở, ngành chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là Phòng Thanh tra - Pháp chế; đối với các đơn vị chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã thì bố trí ít nhất một cán bộ, công chức chuyên trách thực hiện công tác tổ chức theo dõi thi hành pháp luật.

Thứ năm, đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội, xã hội - nghề nghiệp trong tổ chức theo dõi thi hành pháp luật

Đây là những chủ thể theo dõi, giám sát thi hành pháp luật từ bên ngoài đối với hoạt động thi hành pháp luật của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền. Việc hoàn thiện các thiết chế này chủ yếu là tạo cơ chế để nhân dân trong vai trò là chủ thể của quyền lực nhà nước, thông qua các tổ chức đại diện cho mình thực hiện quyền giám sát, theo dõi, kiểm tra việc thi hành pháp luật của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền.

3. Hoàn thiện các điều kiện bảo đảm thực hiện cơ chế tổ chức theo dõi thi hành pháp luật

Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền về vị trí, vai trò của công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật, từ đó tạo chuyển biến căn bản trong nhận thức và hành động của đội ngũ lãnh đạo cấp ủy, chính quyền, đội ngũ cán bộ, công chức trong quá trình tổ chức thực thi các quy định của pháp luật, thực hiện nhiệm vụ công vụ được giao.

Theo tinh thần của Quyết định số 242/QĐ-TTg ngày 26/02/2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “Đề án Đổi mới, nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật giai đoạn 2018 - 2022”, một trong những giải pháp quan trọng trong thời gian tới là nghiên cứu xây dựng, trình Ban Cán sự Đảng Chính phủ để xem xét, trình Ban Bí thư ban hành “Chỉ thị về tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp trong công tác tổ chức thi hành pháp luật”.

Hai là, tiếp tục nghiên cứu, sắp xếp, kiện toàn và đổi mới về tổ chức, bộ máy, biên chế làm công tác tổ chức theo dõi thi hành pháp luật

Về lâu dài, cần nghiên cứu, thành lập cơ quan theo dõi thi hành pháp luật theo hướng tinh gọn, hiệu quả từ trung ương xuống địa phương. Giai đoạn hiện nay, các bộ, ngành ở trung ương cần bố trí sắp xếp bảo đảm có cán bộ chuyên trách về tổ chức và theo dõi thi hành pháp luật tại Vụ Pháp chế, trong khi các địa phương cần tổ chức thực hiện đầy đủ, nghiêm túc, có hiệu quả Quyết định số 242/QĐ-TTg ngày 26/02/2018 của Thủ tướng Chính phủ về kiện toàn tổ chức pháp chế các bộ, ngành; bố trí biên chế pháp chế chuyên trách tại các sở, ngành chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để thực hiện nhiệm vụ công tác pháp chế nói chung và làm đầu mối công tác tổ chức thi hành pháp luật nói riêng.

Ba là, tăng cường năng lực đội ngũ làm công tác tổ chức theo dõi thi hành pháp luật

Mục tiêu chung là xây dựng được đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức theo dõi thi hành pháp luật có năng lực chuyên môn và bản lĩnh, phẩm chất chính trị, nghề nghiệp vững vàng. Để thực hiện được mục tiêu này thì một trong những vấn đề có tính then chốt là Chính phủ, trước tiên là Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp và các bộ, ngành, địa phương cần phải xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, xây dựng chương trình khung đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn và dài hạn, nâng cao trình độ chuyên môn cho lực lượng cán bộ công chức làm công tác tổ chức theo dõi thi hành pháp luật tại các bộ, ngành, địa phương.

Bên cạnh việc tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng, Nhà nước cần có những chính sách thỏa đáng về cơ chế, chế độ ưu tiên, thu hút đối với những người làm công tác tổ chức và theo dõi thi hành pháp luật, đồng thời, cần có sự đầu tư đầy đủ, toàn diện về cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại, là điều kiện cần và đủ trong tổ chức theo dõi thi hành pháp luật, tạo ra môi trường thuận lợi trong việc triển khai hoạt động tổ chức theo dõi thi hành pháp luật trong thực tiễn.

Bốn là, bố trí đầy đủ kinh phí cho công tác tổ chức theo dõi thi hành pháp luật

Để hoạt động tổ chức theo dõi thi hành pháp luật được triển khai đồng bộ, toàn diện, đáp ứng mục tiêu đặt ra thì cần thiết phải có sự quan tâm của lãnh đạo, thủ trưởng cơ quan, đơn vị trong việc bố trí nguồn kinh phí thực hiện. Vì vậy, Nhà nước cần quy định đầy đủ, rõ ràng và cụ thể các mục chi và định mức chi cho công tác này để các bộ, ngành và địa phương có căn cứ, cơ sở lập dự toán triển khai các hoạt động theo dõi thi hành pháp luật như tiếp nhận, thu thập và xử lý thông tin; kiểm tra, điều tra, khảo sát, xử lý kết quả theo dõi thi hành pháp luật. Bên cạnh đó, để thu hút, huy động sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động theo dõi thi hành pháp luật, cần xây dựng các định mức chi và nội dung chi cho việc sử dụng cộng tác viên theo dõi thi hành pháp luật.

Năm là, đổi mới về cơ chế phối hợp trong hoạt động tổ chức theo dõi thi hành pháp luật

Chính phủ với vai trò là chủ thể tổ chức thi hành pháp luật cần thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ với các chủ thể khác trong hệ thống chính trị như Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các tổ chức xã hội khác trong quá trình triển khai thực hiện chức năng, nhiệm vụ tổ chức theo dõi thi hành pháp luật. Các ngành, các cấp cần chủ động xây dựng quy chế phối hợp trong hoạt động theo dõi thi hành pháp luật của cơ quan, đơn vị mình. Theo chúng tôi, cần xây dựng cơ chế phối hợp bên trong và cơ chế phối hợp bên ngoài, cụ thể là:

- Xây dựng và hoàn thiện các quy định về việc phối hợp giữa các đơn vị có chức năng tham mưu, giúp Bộ, ngành và địa phương tổ chức thực hiện công tác theo dõi thi hành pháp luật (cơ chế phối hợp bên trong);

- Xây dựng, hoàn thiện quy định về phối hợp theo dõi thi hành pháp luật giữa Bộ, ngành, địa phương với cơ quan giám sát, cơ quan tiến hành tố tụng, các cơ quan khác trong việc cung cấp thông tin về tình hình thi hành pháp luật (cơ chế phối hợp bên ngoài).

Sáu là, xây dựng bộ công cụ hỗ trợ hoạt động tổ chức theo dõi thi hành pháp luật

Một trong những khó khăn, thách thức lớn đối với công tác tổ chức theo dõi thi hành pháp luật ở Việt Nam những năm qua là chưa có một bộ công cụ hoàn chỉnh giúp cho việc theo dõi, đánh giá hiệu quả, chính xác tình hình thi hành pháp luật ở các cấp độ, phạm vi khác nhau. Vì vậy, việc sớm nghiên cứu, xây dựng khung theo dõi thi hành pháp luật và hệ thống thu thập dữ liệu thông tin về thi hành pháp luật với các tiêu chí, nội dung cụ thể là một mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng đặt ra trong giai đoạn hiện nay.

Đẩy mạnh áp dụng công nghệ thông tin trong việc thu thập, lưu trữ dữ liệu về tình hình thi hành pháp luật nói chung và báo cáo theo dõi thi hành pháp luật nói riêng nhằm đảm bảo nguồn dữ liệu đa dạng, đầy đủ, sẵn có, mang tính tích hợp, giảm gánh nặng xây dựng các báo cáo theo dõi thi hành pháp luật; hướng đến việc xây dựng một phần mềm giúp theo dõi, đánh giá tình hình thi hành pháp luật một cách thường xuyên, kịp thời, khách quan.

Bảy là, tăng cường huy động sự tham gia, phối hợp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động theo dõi thi hành pháp luật

Cần xây dựng cơ chế huy động, bảo đảm quyền tham gia hoạt động theo dõi thi hành pháp luật của các tổ chức xã hội, xã hội - nghề nghiệp và mọi công dân. Theo đó, tổ chức nghiên cứu, xây dựng quy trình tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của nhân dân về tình hình thi hành pháp luật một cách thống nhất, có hệ thống, cụ thể và minh bạch theo hướng xác lập, quy định trình tự, thủ tục thực hiện quyền; hình thức tiếp nhận ý kiến, địa chỉ tiếp nhận; trách nhiệm tiếp nhận, giải trình của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Tám là, tăng cường tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức pháp luật của nhân dân trong việc tham gia vào theo dõi, giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước

Tổ chức thực hiện thường xuyên các hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật, đặc biệt là các quy định liên quan đến quyền con người, quyền công dân đối với các tầng lớp nhân dân bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú, dễ hiểu, dễ tiếp cận các quy định pháp luật.

ThS. Đặng Thanh Sơn

Cục trưởng Cục Quản lý XLVPHC và theo dõi THPL

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.

Theo dõi chúng tôi trên: