Chủ nhật 08/02/2026 05:34
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện cơ chế tổ chức theo dõi thi hành pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Hoạt động theo dõi thi hành pháp luật phải giúp đánh giá toàn diện, đầy đủ, khách quan và khoa học về tình hình thi hành pháp luật, qua đó, thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm sử dụng hợp lý, hiệu quả, nhanh chóng, thiết thực các kết quả của hoạt động theo dõi thi hành pháp luật trong hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật và thực thi luật pháp.

1. Về thể chế theo dõi thi hành pháp luật
Để khắc phục những bất cập, hạn chế trong công tác theo dõi thi hành pháp luật trên thực tiễn, việc đổi mới, hoàn thiện pháp luật về theo dõi thi hành pháp luật cần phải được đặt trong tinh thần của Hiến pháp năm 2013 và bối cảnh Đảng ta chuyển hướng chỉ đạo chiến lược trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật. Theo dõi thi hành pháp luật phải là một “kênh” quan trọng để kiểm soát quyền lực nhà nước, góp phần bảo đảm thực thi quyền con người, quyền công dân trong đời sống xã hội. Hoạt động theo dõi thi hành pháp luật phải giúp đánh giá toàn diện, đầy đủ, khách quan và khoa học về tình hình thi hành pháp luật, qua đó, thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm sử dụng hợp lý, hiệu quả, nhanh chóng, thiết thực các kết quả của hoạt động theo dõi thi hành pháp luật trong hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật và thực thi luật pháp.

Trên cơ sở rà soát, đánh giá toàn diện các quy định của pháp luật về theo dõi thi hành pháp luật (Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ về theo dõi tình hình thi hành pháp luật và các văn bản pháp luật liên quan) cho thấy, chúng ta cần tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế pháp luật trong hoạt động theo dõi thi hành pháp luật nhằm xác định rõ ràng, cụ thể phạm vi, đối tượng, nội dung, phương thức theo dõi cũng như trách nhiệm cụ thể của các bộ, ngành, địa phương, các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác trong công tác theo dõi thi hành pháp luật; xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành của các cơ quan ngoài hệ thống hành pháp để Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện tốt công việc tổ chức thi hành Hiến pháp và pháp luật. Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp cần đẩy mạnh việc nghiên cứu, xây dựng và trình Chính phủ ban hành nghị định thay thế Nghị định số 59/2012/NĐ-CP để quy định đầy đủ, toàn diện các nội dung liên quan đến việc theo dõi thi hành pháp luật trên tinh thần thể chế hóa quy định tại Điều 99 Hiến pháp năm 2013. Theo đó, nghị định cần xác định rõ các chủ thể, đối tượng, phạm vi và hình thức theo dõi cũng như trình tự, các bước để tiến hành theo dõi thi hành pháp luật; quy định rõ cơ chế phối hợp, cơ chế huy động sự tham gia hơn nữa của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong hoạt động theo dõi tình hình thi hành pháp luật; thẩm quyền xử lý cũng như chế tài trong hoạt động theo dõi thi hành pháp luật; cơ chế phối hợp với Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cũng như cơ chế tham gia thực chất của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức khác trong hoạt động theo dõi thi hành pháp luật... Bên cạnh đó, công tác theo dõi thi hành pháp luật cần được đổi mới theo hướng xây dựng, hoàn thiện các tiêu chí theo dõi, đánh giá tình hình thi hành pháp luật một cách khách quan, khoa học; quy định đầy đủ các nội dung chi và mức chi dành cho công tác này.

Về lâu dài, để khắc phục các hạn chế, bất cập của pháp luật về theo dõi thi hành pháp luật cần phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu xây dựng, ban hành một đạo luật về theo dõi thi hành pháp luật nhằm điều chỉnh đầy đủ, toàn diện các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động theo dõi thi hành pháp luật ở Việt Nam hiện nay hoặc xây dựng, ban hành đạo luật về tổ chức thi hành pháp luật, trong đó có chế định về theo dõi thi hành pháp luật nhằm luật hóa những quy định cơ bản, nền tảng cho công tác theo dõi thi hành pháp luật.

Theo chúng tôi, việc nghiên cứu xây dựng Luật Theo dõi thi hành pháp luật hoặc Luật Tổ chức thi hành pháp luật, cần xác định rõ một số nội dung sau:

Một là, quy định rõ chủ thể và đối tượng theo dõi thi hành pháp luật

Nhìn từ góc độ mở rộng và phát huy dân chủ trong quản lý nhà nước và xã hội, cần quy định toàn diện địa vị pháp lý của từng chủ thể là các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và mọi công dân trong việc tổ chức thi hành và theo dõi tình hình thi hành pháp luật. Trong đó, xác định rõ chủ thể theo dõi thi hành pháp luật là các thiết chế nhà nước, các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, các thiết chế phi nhà nước và cá nhân trong xã hội. Đồng thời, để phù hợp với nguyên tắc mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân đều phải nghiêm chỉnh thi hành pháp luật của Nhà nước pháp quyền, cần quy định rõ đối tượng theo dõi là hoạt động của các cơ quan và người có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước (bao gồm cả hoạt động của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án, Viện kiểm sát). Điều này có nghĩa là cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền vừa là chủ thể theo dõi, nhưng cũng là đối tượng bị theo dõi thi hành pháp luật. Nhân dân với tư cách là chủ thể của quyền lực nhà nước sẽ thực hiện các quyền theo dõi, giám sát thi hành pháp luật đối với đối tượng nêu trên.

Hai là, phạm vi theo dõi thi hành pháp luật

Phạm vi theo dõi thi hành pháp luật chỉ nên xác định ở việc xem xét, đánh giá hoạt động thi hành pháp luật của các cơ quan trong bộ máy nhà nước và người có thẩm quyền, không nên mở rộng phạm vi theo dõi hoạt động thi hành pháp luật đối với các thiết chế ngoài nhà nước và các tổ chức, cá nhân và công dân, vì phạm vi quá rộng, dàn trải và không đủ nguồn lực để thực hiện. Bên cạnh đó, xét trên phương diện khoa học pháp lý, nếu mở rộng phạm vi theo dõi thi hành pháp luật đối với các chủ thể này sẽ dẫn đến trùng chéo với hoạt động giám sát, thanh tra việc chấp hành pháp luật. Các thiết chế bên ngoài nhà nước, ngoài sự giám sát, thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước theo thẩm quyền còn thực hiện chức năng tự giám sát, tự kiểm tra việc thi hành pháp luật, nội quy, quy chế, điều lệ đối với hoạt động của cơ quan, đơn vị mình và các tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý. Đối với cá nhân, công dân, việc xem xét, đánh giá hoạt động thi hành pháp luật chủ yếu ở việc đánh giá về tính tuân thủ pháp luật, vì vậy có thể được thực hiện thông qua việc xem xét, đánh giá hiệu quả hoạt động thi hành pháp luật của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền, như thông qua việc phân tích, tổng hợp số liệu xử lý vi phạm hành chính về an toàn giao thông, có thể đánh giá được mức độ tuân thủ pháp luật của người dân khi tham gia giao thông trên địa bàn…

Ba là, về hình thức, phương pháp, trình tự, thủ tục theo dõi thi hành pháp luật

Tùy theo chủ thể khác nhau mà có những hình thức, phương pháp, trình tự, thủ tục theo dõi thi hành pháp luật khác nhau. Theo dõi thi hành pháp luật trên phương diện là hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước, cần có các hình thức, phương pháp, trình tự, thủ tục thực hiện phù hợp với các chủ thể và đối tượng theo dõi, được luật hóa một cách rõ ràng, minh bạch, để các thiết chế trong bộ máy nhà nước và các thiết chế bên ngoài nhà nước có thể dễ dàng tiếp cận và thực hiện quyền theo dõi thi hành pháp luật của mình. Việc quy định cụ thể về hình thức, phương pháp theo dõi thi hành pháp luật đối với chủ thể không mang tính quyền lực nhà nước như hoạt động theo dõi, giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, của các tổ chức, cá nhân, công dân được thực hiện dưới hình thức phản ánh, kiến nghị về tình hình thi hành pháp luật thì cần có những quy định về trình tự, thủ tục tiếp nhận, xử lý cụ thể, rõ ràng, dễ thực hiện. Đối với các chủ thể mang tính quyền lực nhà nước như cơ quan quản lý nhà nước cấp trên thực hiện kiểm tra tình hình thi hành pháp luật của cơ quan nhà nước cấp dưới thì cần phải quy định rõ quy trình, các bước thực hiện để bảo đảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động tổ chức thi hành và theo dõi thi hành pháp luật.

2. Hoàn thiện thiết chế tổ chức theo dõi thi hành pháp luật

Thứ nhất, về vai trò lãnh đạo của Đảng trong công tác tổ chức theo dõi thi hành pháp luật

Hiện nay, bộ máy của Đảng được tổ chức song song với bộ máy nhà nước từ trung ương xuống địa phương, trên thực tế việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của cơ quan Đảng và cơ quan nhà nước có nhiều lúc bị trùng chéo gây tốn kém, lãng phí về ngân sách và làm cho bộ máy trở nên cồng kềnh, nhiều tầng nấc, hoạt động kém hiệu quả. Vì vậy, cần thiết phải có sự sắp xếp thu gọn đầu mối các cơ quan chuyên môn của Đảng và Nhà nước, thực hiện nhất thể hóa các cơ quan Đảng, Nhà nước có cùng tính chất, chức năng, nhiệm vụ cũng như nhất thể hóa một số chức danh lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ở trung ương và cơ sở.

Thứ hai, đối với Quốc hội, Hội đồng nhân dân

Để có thể thực hiện công tác tổ chức theo dõi thi hành pháp luật trong bộ máy của Quốc hội/Hội đồng nhân dân, có thể nghiên cứu thành lập cơ quan thanh tra của Quốc hội/Hội đồng nhân dân hoặc giao cho cơ quan, đơn vị có chức năng pháp chế của Quốc hội/Hội đồng nhân dân thực hiện chức năng theo dõi thi hành pháp luật đối với hệ thống các cơ quan thuộc Quốc hội/Hội đồng nhân dân nhằm giúp Quốc hội/Hội đồng nhân dân theo dõi, đánh việc thi hành pháp luật của các cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền thuộc cơ cấu, tổ chức bộ máy hành chính của Quốc hội và Hội đồng nhân dân (các Ủy ban của Quốc hội/Hội đồng nhân dân, Văn phòng Quốc hội/Hội đồng nhân dân, các đại biểu Quốc hội/Hội đồng nhân dân).

Thứ ba, đối với Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân

Thiết chế Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân là chủ thể quan trọng trong việc theo dõi, giám sát việc thi hành pháp luật của các cơ quan tổ chức và cá nhân. Cũng giống như Quốc hội và Hội đồng nhân dân, có thể nghiên cứu giao chức năng tổ chức theo dõi thi hành pháp luật đối với các cơ quan trong hệ thống Tòa án, Viện kiểm sát cho đơn vị thanh tra, pháp chế của Ngành Tòa án, Ngành Kiểm sát.

Thứ tư, đối với Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các cấp

Có nhiều phương án để hoàn thiện các thiết chế về theo dõi thi hành pháp luật. Tuy nhiên, trong điều kiện trước mắt, nên tiếp tục giữ nguyên mô hình tổ chức của thiết chế theo dõi thi hành pháp luật hiện có theo hướng tiếp tục kiện toàn bộ phận chuyên trách về theo dõi thi hành pháp luật trong các cơ quan, tổ chức bộ, ngành và địa phương.

Về lâu dài, cần chú ý tới vai trò của cơ quan thanh tra, là thiết chế rất quan trọng trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước và có điều kiện để thực hiện hiệu quả việc tổ chức theo dõi thi hành pháp luật. Vì vậy, trong xu thế cải cách hành chính nhà nước với quan điểm “bộ tinh, tỉnh gọn, huyện toàn diện, xã bám cơ sở”, có thể nghiên cứu, hoàn thiện thiết chế tổ chức theo dõi thi hành pháp luật theo hướng sau đây:

- Tại Bộ Tư pháp: Trên phương diện là cơ quan giúp Chính phủ về công tác tổ chức theo dõi thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp hiện có cơ quan chuyên trách giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp thực hiện nhiệm vụ này, đó là Cục Quản lý xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật. Sắp tới, cần thiết tiếp tục nghiên cứu, kiện toàn về tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Cục theo hướng tăng cường hoạt động kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm trong công tác theo dõi thi hành pháp luật và thực thi công vụ trong xử lý vi phạm hành chính, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả, nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà nước trong theo dõi thi hành pháp luật và quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

- Tại các bộ, cơ quan ngang bộ: Thực hiện sáp nhập cơ quan pháp chế và cơ quan thanh tra làm một, gọi là Cơ quan Thanh tra - Pháp chế (Ví dụ: Cơ quan Thanh tra - Pháp chế, Bộ Nội vụ) thực hiện chức năng nhiệm vụ thanh tra, pháp chế trước đây theo quy định của pháp luật.

Tương tự như vậy, ở các đơn vị thuộc Bộ, cơ quan ngang bộ có thể sáp nhập bộ phận thanh tra và bộ phận pháp chế để bảo đảm tinh gọn bộ máy, có thể gọi là Ban Thanh tra - Pháp chế thuộc Cục, Tổng cục.

- Tại Ủy ban nhân dân: Thực hiện sáp nhập các đơn vị có chức năng pháp chế và thanh tra trong các sở, ngành chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là Phòng Thanh tra - Pháp chế; đối với các đơn vị chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã thì bố trí ít nhất một cán bộ, công chức chuyên trách thực hiện công tác tổ chức theo dõi thi hành pháp luật.

Thứ năm, đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội, xã hội - nghề nghiệp trong tổ chức theo dõi thi hành pháp luật

Đây là những chủ thể theo dõi, giám sát thi hành pháp luật từ bên ngoài đối với hoạt động thi hành pháp luật của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền. Việc hoàn thiện các thiết chế này chủ yếu là tạo cơ chế để nhân dân trong vai trò là chủ thể của quyền lực nhà nước, thông qua các tổ chức đại diện cho mình thực hiện quyền giám sát, theo dõi, kiểm tra việc thi hành pháp luật của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền.

3. Hoàn thiện các điều kiện bảo đảm thực hiện cơ chế tổ chức theo dõi thi hành pháp luật

Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền về vị trí, vai trò của công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật, từ đó tạo chuyển biến căn bản trong nhận thức và hành động của đội ngũ lãnh đạo cấp ủy, chính quyền, đội ngũ cán bộ, công chức trong quá trình tổ chức thực thi các quy định của pháp luật, thực hiện nhiệm vụ công vụ được giao.

Theo tinh thần của Quyết định số 242/QĐ-TTg ngày 26/02/2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “Đề án Đổi mới, nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật giai đoạn 2018 - 2022”, một trong những giải pháp quan trọng trong thời gian tới là nghiên cứu xây dựng, trình Ban Cán sự Đảng Chính phủ để xem xét, trình Ban Bí thư ban hành “Chỉ thị về tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp trong công tác tổ chức thi hành pháp luật”.

Hai là, tiếp tục nghiên cứu, sắp xếp, kiện toàn và đổi mới về tổ chức, bộ máy, biên chế làm công tác tổ chức theo dõi thi hành pháp luật

Về lâu dài, cần nghiên cứu, thành lập cơ quan theo dõi thi hành pháp luật theo hướng tinh gọn, hiệu quả từ trung ương xuống địa phương. Giai đoạn hiện nay, các bộ, ngành ở trung ương cần bố trí sắp xếp bảo đảm có cán bộ chuyên trách về tổ chức và theo dõi thi hành pháp luật tại Vụ Pháp chế, trong khi các địa phương cần tổ chức thực hiện đầy đủ, nghiêm túc, có hiệu quả Quyết định số 242/QĐ-TTg ngày 26/02/2018 của Thủ tướng Chính phủ về kiện toàn tổ chức pháp chế các bộ, ngành; bố trí biên chế pháp chế chuyên trách tại các sở, ngành chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để thực hiện nhiệm vụ công tác pháp chế nói chung và làm đầu mối công tác tổ chức thi hành pháp luật nói riêng.

Ba là, tăng cường năng lực đội ngũ làm công tác tổ chức theo dõi thi hành pháp luật

Mục tiêu chung là xây dựng được đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức theo dõi thi hành pháp luật có năng lực chuyên môn và bản lĩnh, phẩm chất chính trị, nghề nghiệp vững vàng. Để thực hiện được mục tiêu này thì một trong những vấn đề có tính then chốt là Chính phủ, trước tiên là Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp và các bộ, ngành, địa phương cần phải xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, xây dựng chương trình khung đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn và dài hạn, nâng cao trình độ chuyên môn cho lực lượng cán bộ công chức làm công tác tổ chức theo dõi thi hành pháp luật tại các bộ, ngành, địa phương.

Bên cạnh việc tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng, Nhà nước cần có những chính sách thỏa đáng về cơ chế, chế độ ưu tiên, thu hút đối với những người làm công tác tổ chức và theo dõi thi hành pháp luật, đồng thời, cần có sự đầu tư đầy đủ, toàn diện về cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại, là điều kiện cần và đủ trong tổ chức theo dõi thi hành pháp luật, tạo ra môi trường thuận lợi trong việc triển khai hoạt động tổ chức theo dõi thi hành pháp luật trong thực tiễn.

Bốn là, bố trí đầy đủ kinh phí cho công tác tổ chức theo dõi thi hành pháp luật

Để hoạt động tổ chức theo dõi thi hành pháp luật được triển khai đồng bộ, toàn diện, đáp ứng mục tiêu đặt ra thì cần thiết phải có sự quan tâm của lãnh đạo, thủ trưởng cơ quan, đơn vị trong việc bố trí nguồn kinh phí thực hiện. Vì vậy, Nhà nước cần quy định đầy đủ, rõ ràng và cụ thể các mục chi và định mức chi cho công tác này để các bộ, ngành và địa phương có căn cứ, cơ sở lập dự toán triển khai các hoạt động theo dõi thi hành pháp luật như tiếp nhận, thu thập và xử lý thông tin; kiểm tra, điều tra, khảo sát, xử lý kết quả theo dõi thi hành pháp luật. Bên cạnh đó, để thu hút, huy động sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động theo dõi thi hành pháp luật, cần xây dựng các định mức chi và nội dung chi cho việc sử dụng cộng tác viên theo dõi thi hành pháp luật.

Năm là, đổi mới về cơ chế phối hợp trong hoạt động tổ chức theo dõi thi hành pháp luật

Chính phủ với vai trò là chủ thể tổ chức thi hành pháp luật cần thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ với các chủ thể khác trong hệ thống chính trị như Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các tổ chức xã hội khác trong quá trình triển khai thực hiện chức năng, nhiệm vụ tổ chức theo dõi thi hành pháp luật. Các ngành, các cấp cần chủ động xây dựng quy chế phối hợp trong hoạt động theo dõi thi hành pháp luật của cơ quan, đơn vị mình. Theo chúng tôi, cần xây dựng cơ chế phối hợp bên trong và cơ chế phối hợp bên ngoài, cụ thể là:

- Xây dựng và hoàn thiện các quy định về việc phối hợp giữa các đơn vị có chức năng tham mưu, giúp Bộ, ngành và địa phương tổ chức thực hiện công tác theo dõi thi hành pháp luật (cơ chế phối hợp bên trong);

- Xây dựng, hoàn thiện quy định về phối hợp theo dõi thi hành pháp luật giữa Bộ, ngành, địa phương với cơ quan giám sát, cơ quan tiến hành tố tụng, các cơ quan khác trong việc cung cấp thông tin về tình hình thi hành pháp luật (cơ chế phối hợp bên ngoài).

Sáu là, xây dựng bộ công cụ hỗ trợ hoạt động tổ chức theo dõi thi hành pháp luật

Một trong những khó khăn, thách thức lớn đối với công tác tổ chức theo dõi thi hành pháp luật ở Việt Nam những năm qua là chưa có một bộ công cụ hoàn chỉnh giúp cho việc theo dõi, đánh giá hiệu quả, chính xác tình hình thi hành pháp luật ở các cấp độ, phạm vi khác nhau. Vì vậy, việc sớm nghiên cứu, xây dựng khung theo dõi thi hành pháp luật và hệ thống thu thập dữ liệu thông tin về thi hành pháp luật với các tiêu chí, nội dung cụ thể là một mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng đặt ra trong giai đoạn hiện nay.

Đẩy mạnh áp dụng công nghệ thông tin trong việc thu thập, lưu trữ dữ liệu về tình hình thi hành pháp luật nói chung và báo cáo theo dõi thi hành pháp luật nói riêng nhằm đảm bảo nguồn dữ liệu đa dạng, đầy đủ, sẵn có, mang tính tích hợp, giảm gánh nặng xây dựng các báo cáo theo dõi thi hành pháp luật; hướng đến việc xây dựng một phần mềm giúp theo dõi, đánh giá tình hình thi hành pháp luật một cách thường xuyên, kịp thời, khách quan.

Bảy là, tăng cường huy động sự tham gia, phối hợp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động theo dõi thi hành pháp luật

Cần xây dựng cơ chế huy động, bảo đảm quyền tham gia hoạt động theo dõi thi hành pháp luật của các tổ chức xã hội, xã hội - nghề nghiệp và mọi công dân. Theo đó, tổ chức nghiên cứu, xây dựng quy trình tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của nhân dân về tình hình thi hành pháp luật một cách thống nhất, có hệ thống, cụ thể và minh bạch theo hướng xác lập, quy định trình tự, thủ tục thực hiện quyền; hình thức tiếp nhận ý kiến, địa chỉ tiếp nhận; trách nhiệm tiếp nhận, giải trình của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Tám là, tăng cường tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức pháp luật của nhân dân trong việc tham gia vào theo dõi, giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước

Tổ chức thực hiện thường xuyên các hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật, đặc biệt là các quy định liên quan đến quyền con người, quyền công dân đối với các tầng lớp nhân dân bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú, dễ hiểu, dễ tiếp cận các quy định pháp luật.

ThS. Đặng Thanh Sơn

Cục trưởng Cục Quản lý XLVPHC và theo dõi THPL

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.

Theo dõi chúng tôi trên: