Chủ nhật 19/04/2026 06:18
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện một số quy định pháp luật tố tụng hình sự

Bài viết phân tích một số quy định còn vướng mắc của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và pháp luật có liên quan, từ đó, đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự, tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự.

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2021[1] (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) quy định khá hoàn chỉnh, toàn diện về trình tự, thủ tục tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và một số thủ tục thi hành án hình sự; nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng… Mặc dù vậy, vẫn còn một số quy định chưa phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay, cần được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung, góp phần hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

1. Một số vướng mắc trong quy định pháp luật hiện hành

1.1. Về biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp

Giữ người trong trường hợp khẩn cấp là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự áp dụng đối với người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hoặc sau khi thực hiện tội phạm hay bị nghi thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.

Điểm a khoản 1 Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định khi thuộc trường hợp khẩn cấp sau đây thì được giữ người: “Có đủ căn cứ để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”. Quá trình áp dụng quy định này còn có cách hiểu chưa thống nhất theo 02 hướng:

- Cách hiểu thứ nhất: Khi có đủ căn cứ để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện mọi tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng được giữ người trong trường hợp khẩn cấp.

- Cách hiểu thứ hai: Do khoản 2 Điều 14 Bộ luật Hình sự hiện hành quy định: “Người chuẩn bị phạm tội quy định tại một trong các điều 108, 109, 110, 111, 112, 113, 114, 115, 116, 117, 118, 119, 120, 121, 123, 134, 168, 169, 207, 299, 300, 301, 302, 303 và 324 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự”. Vì vậy, chỉ trong trường hợp có đủ căn cứ để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện các tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng được nêu tại khoản 2 Điều 14 Bộ luật Hình sự hiện hành thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng mới được giữ người trong trường hợp khẩn cấp.

Theo quy định tại khoản 4 Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì trong thời hạn 12 giờ kể từ khi tiếp nhận người bị giữ, Cơ quan điều tra phải lấy lời khai ngay và những người quy định tại điểm a khoản 2 Điều này phải ra quyết định tạm giữ, ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp nếu có đủ tài liệu, chứng cứ hoặc trả tự do ngay cho người đó nếu không có đủ tài liệu, chứng cứ. Xét về mặt trình tự, những người quy định tại điểm a khoản 2 Điều 110 phải ra quyết định tạm giữ trước, sau đó mới ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Vấn đề này cũng được quy định tại khoản 3 Điều 15 Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định về phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự: “Quyết định tạm giữ người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp được ra trước hoặc cùng với lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp”. Tuy nhiên, sau khi ra quyết định tạm giữ thì đối tượng đã trở thành “người bị tạm giữ” chứ không phải là “người bị giữ” trong trường hợp khẩn cấp, cho nên việc cơ quan có thẩm quyền ra lệnh bắt “người bị giữ” trong trường hợp khẩn cấp sau đó là chưa phù hợp.

1.2. Về biện pháp bảo lĩnh và đặt tiền để bảo đảm

Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do cơ quan và người có thẩm quyền áp dụng đối với bị can, bị cáo, cách ly bị can, bị cáo trong các trường hợp do pháp luật quy định nhằm bảo đảm cho công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự được thuận lợi. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định có 02 biện pháp ngăn chặn thay thế cho tạm giam, đó là biện pháp bảo lĩnh và biện pháp đặt tiền để bảo đảm.

Khoản 1 Điều 121 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ được bảo lĩnh”.

Khoản 1 Điều 122 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Đặt tiền để bảo đảm là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, nhân thân và tình trạng tài sản của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ hoặc người thân thích của họ đặt tiền để bảo đảm”.

Mục 20 Công văn số 5024/VKSTC-V14 ngày 19/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc giải đáp vướng mắc liên quan đến quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và nghiệp vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết vụ án hình sự trong ngành Kiểm sát nhân dân (Công văn số 5024/VKSTC-V14) đã hướng dẫn quy định về thay thế, thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo đang bị áp dụng biện pháp tạm giam được hiểu và áp dụng trong những trường hợp như thế nào: “Theo quy định tại các điều 121, 122 và 123 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm là 02 biện pháp ngăn chặn thay thế biện pháp tạm giam (có nghĩa là chỉ áp dụng biện pháp bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm đối với bị can, bị cáo đang bị tạm giam)”. Tuy nhiên, Công văn số 5024/VKSTC-V14 không thuộc hệ thống văn bản quy phạm pháp luật nên quá trình áp dụng biện pháp bảo lĩnh và biện pháp đặt tiền để bảo đảm có ba cách hiểu sau đây:

- Cách hiểu thứ nhất: Vì bảo lĩnh và đặt tiền để bảo đảm là những biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam nên điều kiện để được áp dụng hai biện pháp này là bị can, bị cáo phải bị tạm giam trước đó.

- Cách hiểu thứ hai: Vì bảo lĩnh và đặt tiền để bảo đảm là những biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam nên điều kiện để được áp dụng hai biện pháp này là bị can, bị cáo thuộc các trường hợp có thể tạm giam nhưng không tạm giam trước mà áp dụng biện pháp bảo lĩnh hoặc đặt tiền để bảo đảm luôn.

- Cách hiểu thứ ba: Vì bảo lĩnh và đặt tiền để bảo đảm là những biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam nên có thể áp dụng hai biện pháp này trước hoặc sau khi áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam.

1.3. Về một số chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong Công an nhân dân

Điểm e khoản 2 Điều 35 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định cụ thể các chức danh được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của các cơ quan khác trong Công an nhân dân. Đồng thời, khoản 6 Điều 9 Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 cũng quy định cụ thể các cơ quan của Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

Ngày 09/8/2018, Bộ trưởng Bộ Công an đã quyết định sáp nhập 20 Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy vào Công an các tỉnh, thành phố tương ứng[2], mặt khác, ngày 10/8/2018, Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao được thành lập bằng cách sáp nhập Cục An ninh mạng và Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao trực thuộc Bộ Công an. Điều này làm thay đổi tên một số của Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra so với khoản 6 Điều 9 Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015.

Bên cạnh đó, Đề án số 19/ĐA-BCA ngày 10/7/2023 của Bộ trưởng Bộ Công an về tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy bên trong của Công an đơn vị, địa phương tinh, gọn, mạnh và Phương án số 01/PA-BCA về triển khai tổ chức bộ máy của các đơn vị thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra các cấp trong Công an nhân dân, bảo đảm nguồn bổ nhiệm Điều tra viên, trong đó có nội dung: Sáp nhập Phòng Cảnh sát môi trường vào Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu và điều chỉnh tên gọi thành Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, môi trường[3]. Điều này cũng cần được cân nhắc khi sửa đổi, bổ sung điểm e khoản 2 Điều 35 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 6 Điều 9 Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015.

2. Một số đề xuất

Thứ nhất, về biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp:

Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau, có thể coi Bộ luật Hình sự quy định về nội dung còn Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về hình thức, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự phải bám sát, bổ sung cho quy định của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, tác giả đồng tình với cách hiểu thứ hai và đề xuất sửa điểm a khoản 1 Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 theo hướng: “Có đủ căn cứ để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng được quy định tại khoản 2 Điều 14 Bộ luật Hình sự hiện hành”.

Sau khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra quyết định tạm giữ thì đối tượng đã trở thành người bị tạm giữ chứ không còn là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp nên việc cơ quan có thẩm quyền ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp sau khi ra quyết định tạm giữ là chưa phù hợp. Vì vậy, tác giả đề xuất sửa đổi khoản 4 Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 theo hướng: “Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi tiếp nhận người bị giữ, Cơ quan điều tra phải lấy lời khai ngay và những người quy định tại điểm a khoản 2 Điều này phải ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do ngay cho người đó”.

Thứ hai, về biện pháp bảo lĩnh và đặt tiền để bảo đảm:

Mặc dù Công văn số 5024/VKSTC-V14 đã nêu: Chỉ áp dụng biện pháp bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm đối với bị can, bị cáo đang bị tạm giam. Tuy nhiên, Công văn này không thuộc hệ thống văn bản quy phạm pháp luật nên quá trình áp dụng biện pháp bảo lĩnh và biện pháp đặt tiền để bảo đảm vẫn có ba cách hiểu như đã trình bày ở trên.

Để góp phần giúp cho các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chủ động và linh hoạt trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn thay thế biện pháp tạm giam, tác giả đồng tình với cách hiểu thứ ba: Bảo lĩnh và đặt tiền để bảo đảm là những biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam nên có thể áp dụng hai biện pháp này trước hoặc sau khi áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam. Vì vậy, tác giả đề xuất sửa đổi khoản 1 Điều 121 và khoản 1 Điều 122 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 theo hướng:

Khoản 1 Điều 121: “Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ được bảo lĩnh trước hoặc sau khi áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam”.

Khoản 1 Điều 122: “Đặt tiền để bảo đảm là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, nhân thân và tình trạng tài sản của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ hoặc người thân thích của họ đặt tiền để bảo đảm trước hoặc sau khi áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam”.

Thứ ba, về chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong Công an nhân dân:

Cần kịp thời sửa đổi, bổ sung điểm e khoản 2 Điều 35 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 6 Điều 9 Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 theo hướng cập nhật những thay đổi về tổ chức, thẩm quyền của các chủ thể trong Công an nhân dân trong tình hình mới để bảo đảm hiệu lực, hiệu quả thi hành pháp luật tố tụng hình sự./.

TS. Nguyễn Thị Thanh Thùy

Phó Trưởng Khoa Luật, Học viện An ninh nhân dân

[1]. Xem: Văn bản hợp nhất số 05/VBHN-VPQH ngày 03/12/2021 của Văn phòng Quốc hội về Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2]. Báo điện tử Chính phủ, Sáp nhập 20 Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy vào Công an các tỉnh thành, https://baochinhphu.vn/sap-nhap-20-canh-sat-pccc-vao-cong-an-cac-tinh-thanh-102243079.htm, truy cập ngày 21/5/2024.

[3]. Quang Việt, Các quyết định trong tuần của Bộ trưởng Bộ Công an về bổ nhiệm, sáp nhập, Báo Lao động, https://laodong.vn/thoi-su/cac-quyet-dinh-trong-tuan-cua-bo-truong-bo-cong-an-ve-bo-nhiem-sap-nhap-1233942.ldo, truy cập ngày 21/5/2024.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 408), tháng 7/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.

Theo dõi chúng tôi trên: