Thứ hai 20/07/2026 04:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện những quy định của Bộ luật Hình sự về các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân trước yêu cầu mới

Trong Nghị quyết số 07/2011/QH13 ngày 06/8/2011 của Quốc hội khóa XIII về Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2012 và điều chỉnh chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2011, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 433/NQ-UBTVQH13 ngày 30/12/2011 về việc thành lập Ban soạn thảo BLHS (sửa đổi).

Trên cơ sở này, Ban soạn thảo BLHS (sửa đổi) do Bộ trưởng Bộ Tư pháp làm Trưởng ban đã họp, phân công nhiệm vụ và xây dựng dự thảo Đề cương định hướng xây dựng Dự án BLHS (sửa đổi), trong đó Mục IV - Định hướng xây dựng BLHS (sửa đổi) nhấn mạnh nội dung - “Việc xây dựng BLHS (sửa đổi) nhằm tạo ra một BLHS của thời kỳ mới, là công cụ sắc bén nhằm bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, bảo vệ có hiệu quả các quyền con người, quyền cơ bản của công dân, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, đồng thời đáp ứng có hiệu quả những yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế”.

Tất cả ba phương diện trên chính là đòi hỏi cấp thiết của việc sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân trong BLHS trước yêu cầu mới của đất nước.

1. Những kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hình sự về các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân

Kể từ năm 2000 đến nay, thực tiễn thi hành cho thấy về cơ bản, các quy định của Chương XIII - Các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân trong BLHS đã đáp ứng được yêu cầu làm cơ sở pháp lý để xét xử nghiêm minh; kịp thời trấn áp các hành vi xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân; bảo vệ các quyền con người, quyền công dân được Hiến pháp ghi nhận. Tuy nhiên, từ đó đến nay, trước yêu cầu mới của đất nước đòi hỏi cần tiếp tục hoàn thiện các quy định của BLHS như sau:

1.1. Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điều 123 BLHS). Qua nghiên cứu tội phạm này cho thấy có ba vấn đề cần hoàn thiện như sau:

a) Nội dung Điều 123 BLHS chưa xác định rõ về “khoảng thời gian bắt, giam, giữ người bao lâu” mới cấu thành tội phạm này. Điều này dẫn đến thực tế còn có quan điểm khác nhau trong các vụ án được Tòa án đưa ra xét xử.

Ví dụ: Bản án số 46/HSST ngày 19/8/2002 của Tòa án nhân dân thị xã P, tỉnh N: Các bị cáo đã có hành vi bắt nạn nhân trong thời gian 15 phút. Có ý kiến của cơ quan tiến hành tố tụng còn cho rằng, có phạm tội vì luật không quy định bắt trong thời gian bao lâu thì cấu thành tội phạm nên đã xâm phạm đến quyền tự do thân thể phải bị xử lý; quan điểm khác của cơ quan tiến hành tố tụng thì cho rằng không nên xử lý vì chưa gây ra hậu quả gì. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, để tôn trọng và bảo vệ quyền tự do thân thể của công dân, cần bổ sung cụm từ “không kể thời gian bao lâu” (1) để bảo đảm mọi trường hợp bắt, giữ hoặc giam người khác trái pháp luật không phân biệt thời gian bao lâu đều phải bị xử lý nghiêm minh.

b) Cần ghi nhận rõ việc bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, thì tính “trái pháp luật” ở đây cần được hiểu là: Sự vi phạm các quy định về căn cứ, thẩm quyền và thủ tục bắt, giữ hoặc giam người đã được xác lập bởi những văn bản pháp luật như: Bộ luật Tố tụng hình sự, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2008), sắp tới là Luật Xử lý vi phạm hành chính được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2012, có hiệu lực từ ngày 01/7/2013 (Điều 122 và Điều 123);

Như vậy, Điều 123 BLHS sẽ được sửa đổi, bổ sung như sau:

Điều 123. Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật

1. Người nào bắt, giữ hoặc giam người khác không đúng các quy định của pháp luật về căn cứ, thẩm quyền và thủ tục, không phân biệt thời gian bao lâu, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

...

1.2. Về tội xâm phạm chỗ ở của công dân (Điều 124 BLHS hiện hành), có hai vấn đề cần nghiên cứu và sửa đổi như sau:

a) Nội dung Điều 124 BLHS chưa quy định rõ một người khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác, đuổi trái pháp luật người khác khỏi chỗ ở của họ hoặc có những hành vi trái pháp luật khác xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân “trong thời gian bao lâu” thì mới bị coi là phạm tội và xâm phạm đến quyền tự do thân thể của công dân, từ đó dẫn đến quan điểm khác nhau trong các vụ án.

Ví dụ: Ngày 10/4/2012, ở quận X. thành phố N., trong lúc đang đi tìm túi đồ bị thất lạc, do nghi ngờ có ai cất giấu vào nhà anh Lê Hùng T., Nguyễn Trung D. đã rủ hai đồng bọn là Phạm Văn E. và Lê Văn H. đến có hành vi đuổi trái pháp luật anh Lê Hùng T. ra khỏi chỗ ở mình trong thời gian 05 phút (hoặc 10 phút, 45 phút, 2 tiếng, 4 tiếng; v.v..) để tìm đồ bị thất lạc. Vấn đề này, tương tự như Điều 123 BLHS, chúng tôi cho rằng, để tôn trọng và bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân đã được Hiến pháp và pháp luật Việt Nam bảo vệ, chúng tôi cho rằng, nên quy định rõ “không phân biệt thời gian bao lâu” là căn cứ pháp lý để tất cả các trường hợp đều phải bị xử lý nghiêm minh;

b) Cần bổ sung thêm tình tiết định khung tăng nặng “phạm tội nhiều lần” cho tương xứng với các tội phạm khác như tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (điểm d khoản 2 Điều 123); tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác (điểm c khoản 2 Điều 125 BLHS); v.v... đồng thời cần bổ sung tình tiết định khung tăng nặng “xâm phạm chỗ ở của nhiều người” (2) vào khoản 2 điều luật nhằm đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng ngừa và chống tội xâm phạm chỗ ở nói riêng, các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân nói chung.

Như vậy, Điều 124 BLHS sẽ được sửa đổi, bổ sung như sau:

Điều 124. Tội xâm phạm chỗ ở của công dân

1. Người nào khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác, đuổi trái pháp luật người khác khỏi chỗ ở của họ hoặc có những hành vi trái pháp luật khác xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân không kể thời gian bao lâu, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Gây hậu quả nghiêm trọng;

d) Phạm tội nhiều lần;

đ) Xâm phạm chỗ ở của nhiều người.

...

1.3. Về tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác (Điều 125 BLHS hiện hành), có ba vấn đề cần hoàn thiện như sau:

a) Nội dung Điều 125 BLHS là mô tả theo kiểu liệt kê các đối tượng xâm phạm của tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác. Điều luật này cụ thể hóa đối tượng tác động của tội phạm bao gồm: Thư, điện báo, telex, fax hoặc các văn bản khác được truyền đưa bằng phương tiện viễn thông và máy tính. Theo chúng tôi, sự liệt kê đó không cần thiết bởi vì về bản chất đó chỉ là các hình thức biểu hiện khác nhau của thư tín, điện thoại, điện tín do chúng được chứa đựng trong các phương tiện khác nhau hoặc vận chuyển, truyền tải bằng cách thức khác nhau. Hơn nữa, thực tiễn những hình thức này liên tục phát triển, ngày càng đa dạng, phong phú nên nếu liệt kê theo cách đó Điều 125 BLHS sẽ thường xuyên phải sửa đổi, bổ sung. Sự mô tả liệt kê còn không cần thiết bởi vì nhiệm vụ xác định các hình thức truyền thông tin nào là thư tín, điện thoại, điện tín thuộc về các đạo luật chuyên ngành (như Luật Bưu chính, Luật Viễn thông, Luật Công nghệ thông tin; v.v..). Khi xuất hiện các hình thức thư tín, điện thoại, điện tín mới, những luật này sẽ cập nhật, bổ sung mà BLHS vẫn không bị lạc hậu, do đó, chỉ cần dùng thuật ngữ chung “thư tín, điện thoại, điện tín” là đầy đủ và ngắn gọn hơn;

b) Về các hình thức của thư tín, điện thoại, điện tín, BLHS không cần mô tả liệt kê nhưng đối với những hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm này lại rất cần phải được làm rõ theo phương pháp đó. Bởi vậy, Điều 125 BLHS là không xác định rõ những hành vi nào bị coi là hành vi xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín. Do đó, để xác định trách nhiệm hình sự đối với tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín, BLHS phải quy định rõ những hành vi nào bị coi là phạm vào tội này. Thực tế cho thấy, có rất nhiều hành vi có thể xâm phạm bí mật, gây mất an toàn thư tín, điện thoại, điện tín nhưng Điều 125 BLHS chỉ nêu ra một hành vi cụ thể là hành vi “chiếm đoạt” thư tín, điện thoại, điện tín, còn những hành vi khác được nhà làm luật mô tả chung bằng cụm “hành vi trái pháp luật xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín”. Cho nên, ngoài hành vi chiếm đoạt, BLHS không xác định một cách rõ ràng, chính thức hành vi nào khác là hành vi phạm tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín. Ngoài BLHS cũng không có văn bản hướng dẫn nào xác định cụ thể những hành vi bị coi là xâm phạm đến bí mật, an toàn thư tín. Theo đó, nhận thức hành vi nào là hành vi trái pháp luật xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín trong Điều 125 BLHS sẽ dẫn đến sự áp dụng nội dung điều luật theo cách hiểu khác nhau. Vì vậy, theo chúng tôi, ngoài hành vi chiếm đoạt, những hành vi sau đây phải bị coi là hành vi xâm phạm bí mật thư tín, điện thoại, điện tín - hành vi tự tiện bóc thư, điện tín bằng văn bản của người khác để biết nội dung của thư tín, điện tín; đọc trộm, nghe trộm các loại thư tín, điện thoại, điện tín được lưu giữ, truyền gửi bằng các phương tiện viễn thông, thông tin khác; thay đổi, đánh tráo nội dung hoặc địa chỉ đến của thư tín, điện thoại, điện tín; xóa, hủy, cản trở việc chuyển gửi, ngăn chặn đường truyền thư tín, điện thoại, điện tín của người khác; v.v..

c) Nội dung Điều 125 BLHS cũng xác định chưa rõ ràng về dấu hiệu “tiền sự” của chủ thể tội phạm. Ngoài yêu cầu về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự, chủ thể của tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác còn phải đáp ứng điều kiện có tiền sự là “đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm”. Tuy vậy, cụm từ “về hành vi này” có hai cách hiểu khác nhau:

- Cách hiểu thứ nhất: Người phạm tội phải thực hiện đúng hành vi xâm phạm bí mật, an toàn thư tín, điện thoại, điện tín mà trước đây mình đã thực hiện và đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính về hành vi ấy thì mới cấu thành tội phạm này.

Ví dụ: Trường hợp một nhân viên bưu điện trước đây đã xem trộm thư tín, bị cơ quan kỷ luật về hành vi này nhưng chưa đầy 6 tháng sau lại bị phát hiện xem trộm thư tín. Hoặc một sinh viên thường xuyên lấy trộm mật khẩu hộp thư điện tử của người khác để đột nhập, đọc thư từ trao đổi trong đó, đã bị cơ quan chức năng xử phạt hành chính nhưng chưa đầy một năm sau sinh viên này lại tái diễn hành vi lấy trộm mật khẩu, đọc thư điện tử của người khác;

- Cách hiểu thứ hai: Coi là phạm tội đối với người thực hiện bất kỳ một hành vi xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín trong khi đã từng bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính về một trong các hành vi xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín.

Ví dụ: Một người đã từng có hành vi chiếm đoạt thư tín của người khác, bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt đó nhưng chưa đầy một năm sau người này lại có hành vi lắp thiết bị nghe trộm điện thoại của người khác.

Như vậy, chúng tôi cho rằng cách hiểu thứ hai chính xác hơn bởi vì cách hiểu thứ nhất là máy móc và dẫn đến bỏ lọt tội phạm. Còn nếu hiểu theo cách thứ nhất thì vô tình trường hợp này sẽ bị bỏ lọt, không thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người vi phạm. Hiểu theo cách đó thì phạm vi áp dụng của Điều 125 BLHS cũng rất hẹp, chỉ áp dụng đối với trường hợp hai lần cùng thực hiện một dạng hành vi khách quan của tội phạm này và lần trước vi phạm vẫn đang để lại một tiền sự hành chính hoặc kỷ luật. Vì vậy, chúng tôi kiến nghị sửa đổi “đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm” thành “đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính về một trong các hành vi này mà còn vi phạm” như một nhà hoạt động thực tiễn xét xử nhiều năm đã luận giải (3) mới bảo đảm sự chính xác về mặt khoa học, tránh bỏ lọt tội phạm, đồng thời phục vụ cho thực tiễn xét xử.

Như vậy, Điều 125 BLHS sẽ được sửa đổi, bổ sung như sau:

Điều 125. Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác

1. Người nào chiếm đoạt, đọc trộm, xem trộm, nghe trộm, xóa, hủy, thay đổi, đánh tráo nội dung thư tín, điện thoại, điện tín của người khác hoặc ngăn chặn, cản trở việc truyền, gửi, nhận thư tín, điện thoại, điện tín của người khác, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính về một trong các hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ một triệu đồng đến năm triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

...

1.4. Tội xâm phạm quyền bầu cử, quyền ứng cử của công dân (Điều 126 BLHS hiện hành), có hai vấn đề cần sửa đổi như sau:

a) Nội dung Điều 126 BLHS chưa mô tả đầy đủ hành vi khách quan của tội xâm phạm quyền bầu cử, quyền ứng cử của công dân. Theo đó, khoản 1 chỉ mô tả đó là hành vi dùng các thủ đoạn khác nhau cản trở việc thực hiện quyền bầu cử, quyền ứng cử của công dân. Nếu hiểu theo đúng nghĩa của cụm từ này thì tội phạm chỉ gồm những hành vi ngăn cản, gây khó khăn, không cho công dân thực hiện quyền bầu cử, ứng cử. Còn hành vi thúc đẩy, ép buộc, điều khiển công dân bầu cử, ứng cử không đúng với nguyện vọng của họ thì không phải hành vi khách quan của tội phạm này. Như vậy, sẽ bỏ lọt phần lớn những hành vi phạm tội trong thực tế. Do đó, để khắc phục tình trạng đó, cần phải làm rõ hành động cản trở ở đây không phải chỉ là cản trở công dân thực hiện quyền bầu cử, ứng cử khiến cho họ không thể hoặc khó thực hiện quyền này mà phải là cản trở quyền tự do ứng cử, bầu cử theo quy định pháp luật của công dân. Nếu quy định là hành vi cản trở quyền tự do ứng cử, bầu cử thì sẽ bao hàm tất cả những hành vi ngăn cản, thúc đẩy, ép buộc... khiến cho công dân không thực hiện được việc ứng cử, bầu cử theo đúng nguyện vọng;

b) Điều 126 BLHS là không nêu rõ đối tượng tác động của tội phạm. Điều này chỉ quy định đối tượng tác động của tội phạm là hoạt động thực hiện quyền bầu cử, ứng cử của công dân mà không làm rõ là ứng cử, bầu cử vào cơ quan nào. Trong khi thực tế là có rất nhiều loại tổ chức chính trị, xã hội được tổ chức theo nguyên tắc bầu cử. Tuy nhiên, Hiến pháp năm 1992, sửa đổi năm 2001, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997, sửa đổi năm 2002, 2010 và Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003, sửa đổi năm 2010 thì các văn bản này chỉ xác lập và bảo vệ quyền bầu cử, ứng cử vào vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp của công dân.

Do vậy, có thể hiểu phạm vi nội hàm quyền ứng cử, bầu cử của công dân bị tội phạm xâm hại đến trong Điều 126 BLHS là “quyền ứng cử, bầu cử vào các cơ quan quyền lực nhà nước” nói trên chứ không bao gồm quyền ứng cử, bầu cử vào các loại tổ chức chính trị - xã hội khác. Tuy nhiên, để bảo đảm tính chính xác và logíc, các nhà làm luật cần chỉ rõ tại nội dung Điều 126 BLHS, cụ thể hành vi phạm tội ở đây xâm hại tới là quyền bầu cử, ứng cử vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân của công dân.

Như vậy, Điều 126 BLHS sẽ được sửa đổi, bổ sung như sau:

Điều 126. Tội xâm phạm quyền bầu cử, quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân của công dân

1. Người nào lừa gạt, mua chuộc, cưỡng ép hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở việc tự do thực hiện quyền bầu cử, quyền ứng cử theo quy định pháp luật vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân của công dân, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

...

1.5. Tội làm sai lệch kết quả bầu cử (Điều 127 BLHS hiện hành). Qua nghiên cứu tội phạm này cho thấy có hai vấn đề cần hoàn thiện như sau:

a) Nội dung Điều 127 BLHS (cũng giống như quy định tại Điều 126) không chỉ rõ đối tượng tác động của tội phạm. Điều này cũng không chỉ rõ kết quả bầu cử bị làm sai lệch ở đây là kết quả bầu cử vào cơ quan nào. Tương tự như đã phân tích ở Điều 126 BLHS, cần phải xác định chính thức rằng đó là kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân;

b) Về giới hạn chủ thể của tội phạm có khả năng gây ra bỏ lọt tội phạm. Chủ thể tội này được luật quy định là những người có trách nhiệm trong việc tổ chức, giám sát việc bầu cử. Trong khi tội phạm có thể được thực hiện dưới hình thức đồng phạm, vậy những người đồng phạm mà không phải là người có trách nhiệm trong việc tổ chức, giám sát việc bầu cử thì sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này, đó là một điểm chưa hợp lý. Hơn nữa, có khả năng những người khác, không phải là người có trách nhiệm trong việc tổ chức, giám sát việc bầu cử cũng làm sai lệch được kết quả bầu cử.

Ví dụ: Lợi dụng lúc những người có trách nhiệm sơ hở, một người bình thường khác đã lén đánh tráo hòm phiếu khác hoặc đổi phiếu bầu giả vào. Theo đúng quy định về chủ thể của tội phạm này thì không thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người nói trên về hành vi làm sai lệch kết quả bầu cử trong khi hành vi của họ rõ ràng đe dọa tính đúng đắn của kết quả này và rõ ràng là nguy hiểm, cần phải bị trừng phạt. Về điểm hạn chế này theo chúng tôi trong lần sửa đổi BLHS tới đây cần bỏ giới hạn về chủ thể của tội phạm. Chủ thể của tội này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định mà có hành vi làm sai lệch kết quả bầu cử. Còn đối với chủ thể là người có trách nhiệm trong việc tổ chức, giám sát việc bầu cử mà phạm tội này thì phải bị áp dụng là tình tiết định khung hình phạt tăng nặng.

Như vậy, Điều 127 BLHS sẽ được sửa đổi, bổ sung như sau:

Điều 127. Tội làm sai lệch kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân

1. Người nào giả mạo giấy tờ, gian lận phiếu hoặc dùng thủ đoạn khác để làm sai lệch kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

a) Có tổ chức;

b) Gây hậu quả nghiêm trọng;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn.

...

Lưu ý, về tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự “lợi dụng chức vụ, quyền hạn (điểm c) của điều luật chính là đề cập đến trường hợp người có trách nhiệm trong việc tổ chức, giám sát việc bầu cử mà phạm tội này.

1.6. Tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội, quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của công dân (Điều 129 BLHS hiện hành). Qua nghiên cứu tội phạm này cho thấy có hai vấn đề cần hoàn thiện như sau:

a) Nội dung Điều 129 BLHS mô tả chưa đầy đủ hành vi khách quan của tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội của công dân. Khoản 1 Điều này chỉ xác định hành vi cản trở công dân thực hiện quyền hội họp, quyền lập hội phù hợp với lợi ích của Nhà nước và của nhân dân là hành vi phạm tội. Theo đó, hành vi ép buộc công dân tham gia cuộc họp hay gia nhập hội nào đó không cấu thành tội phạm này. Để chính xác cần phải làm rõ là hành vi phạm tội là hành vi cản trở quyền tự do hội họp, lập hội của công dân. Như vậy, tội phạm này mới bao gồm mọi hành vi ngăn cản, cấm đoán, ép buộc công dân hội họp, lập hội chính đáng;

b) Nội dung Điều 129 cũng mắc phải hạn chế giống Điều 125 BLHS là xác định không rõ ràng về dấu hiệu “tiền sự” của chủ thể tội phạm. Do đó, tương tự như Điều 125 BLHS đã nêu, chúng tôi kiến nghị sửa đổi “đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm” thành “đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính về một trong các hành vi này mà còn vi phạm” mới bảo đảm sự chính xác về mặt khoa học, tránh bỏ lọt tội phạm, đồng thời phục vụ cho thực tiễn xét xử.

Như vậy, Điều 129 BLHS sẽ được sửa đổi, bổ sung như sau:

Điều 129. Tội xâm phạm quyền tự do hội họp và lập hội, quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của công dân

1. Người nào có hành vi cản trở công dân thực hiện quyền tự do hội họp và lập hội phù hợp với lợi ích của Nhà nước và của nhân dân; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính về một trong các hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

...

1.7. Tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ (Điều 130 BLHS hiện hành), có bốn vấn đề cần hoàn thiện như sau:

a) Nội dung Điều 130 BLHS mô tả phạm vi hẹp hành vi xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ. Hành vi duy nhất được mô tả thuộc mặt khách quan của tội này là hành vi cản trở không cho phụ nữ tham gia vào hoạt động chính trị, kinh tế, khoa học, văn hóa xã hội. Theo đó, những trường hợp vẫn cho phụ nữ tham gia các hoạt động trên nhưng phân biệt đối xử, gây thiệt thòi cho họ trong các hoạt động ấy thì không phạm tội này;

b) Nội dung của điều luật liệt kê thiếu các lĩnh vực bình đẳng của phụ nữ đã được Hiến pháp năm 1992, sửa đổi năm 2001 và Luật Bình đẳng giới năm 2006 quy định (các Điều 11 - 18), cụ thể quyền bình đẳng của phụ nữ đối với nam giới trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội như: Chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, văn hóa, thông tin, thể thao, y tế và trong gia đình. Như vậy, Điều 130 BLHS đã liệt kê chưa đầy đủ, đặc biệt thiếu lĩnh vực bình đẳng rất quan trọng là quan hệ gia đình. Hơn nữa, ngay sự liệt kê này cũng không cần thiết bởi vì nó có thể sử dụng kỹ thuật dẫn chiếu tới các văn bản pháp luật liên quan đã quy định đầy đủ;

c) Nội dung điều luật không khẳng định động cơ phân biệt đối xử về giới của tội phạm. Nếu không xuất phát từ động cơ này thì hành vi cản trở một người phụ nữ tham gia các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội chưa chắc đã là hành vi xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ.

Ví dụ: Cản trở một người phụ nữ tham gia bầu cử hoặc ứng cử đại biểu Quốc hội không phải vì lý do người đó là phụ nữ mà vì tư thù cá nhân khác thì phải bị xem xét trách nhiệm hình sự liên quan đến tội xâm phạm quyền bầu cử, ứng cử của công dân được quy định ở Điều 126 BLHS;

d) Nội dung điều luật cũng chưa phản ánh đúng tinh thần của quyền bình đẳng giới. Đối tượng hưởng thụ quyền bình đẳng giới gồm cả nam và nữ nhưng điều này chỉ bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ. Do đó, tên của Điều 130 BLHS cần được sửa đổi thành “Tội xâm phạm quyền bình đẳng giới”, đồng thời thay đổi nội dung quy định theo hướng thống nhất đó để bảo đảm “quyền bình đẳng nam, nữ” quy định trong Hiến pháp năm 1992 (Điều 63) và Bộ luật Dân sự Việt Nam (Điều 40). Hơn nữa, thời gian qua ở nước ta cho thấy bắt đầu có nhiều hiện tượng cản trở người nam giới, người chồng tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học, xã hội... trong các gia đình, mối quan hệ nam - nữ, công tác..., mặc dù chưa nhiều, song để phòng ngừa và bảo đảm quyền lợi của công dân, cần thiết vẫn phải quy định, hơn nữa để phù hợp và tương thích với pháp luật hình sự các nước trên thế giới. Ví dụ: Tội xâm phạm quyền bình đẳng của công dân (Điều 136 BLHS Liên bang Nga). Ngoài ra, tội mua bán phụ nữ đã đổi tên gọi là tội mua bán người (Điều 119) và mở rộng đối tượng được bảo vệ là cả nam và nữ theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS Việt Nam ngày 19/6/2009 của Quốc hội.

Như vậy, Điều 130 BLHS sẽ được sửa đổi, bổ sung như sau:

Điều 130. Tội xâm phạm quyền bình đẳng giới

Người nào vì lí do phân biệt giới mà dùng vũ lực hoặc có hành vi nghiêm trọng khác ngăn cản sự bình đẳng tham gia hoạt động của công dân ở các lĩnh vực của đời sống mà pháp luật cho phép thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến một năm.

2. Ban hành văn bản hướng dẫn một số nội dung của Bộ luật Hình sự về các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân

Cùng với việc hoàn thiện các điều luật như đã nêu, thì việc ban hành văn bản hướng dẫn một số nội dung đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân cũng rất cần thiết. Theo đó, cần ban hành văn bản giải thích nội dung tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” quy định với tư cách là tình tiết định tội, tình tiết định khung tại khoản 3 Điều 123, điểm c khoản 2 Điều 124, điểm d khoản 2 Điều 125, điểm c khoản 2 Điều 126, điểm b khoản 2 Điều 127 và Điều 128 BLHS (4) như sau:

2.1. Trường hợp “gây hậu quả nghiêm trọng” khoản 3 Điều 123 BLHS (tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật) được hiểu là thuộc một trong các trường hợp sau: a) Thiệt hại nghiêm trọng đến tính mạng là do bị bắt, giữ hoặc bị giam trái pháp luật mà người bị bắt, bị giữ, bị giam đã tự sát chết hoặc bị thú dữ tấn công hoặc vì những nguyên nhân khác mà người phạm tội không lường trước được. Nếu người phạm tội biết trước hoặc bỏ mặc cho hậu quả chết người xảy ra thì tùy trường hợp có thể còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người; b) Thiệt hại về sức khỏe được coi là hậu quả nghiêm trọng do hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật gây ra là trường hợp người bị bắt, bị giữ hoặc bị giam bị tổn hại đến sức khỏe mà tỷ lệ thương tật từ 41% trở lên ngoài ý muốn của người phạm tội; c) Thiệt hại về tài sản được coi là hậu quả nghiêm trọng do hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật gây ra là trường hợp do bị bắt, bị giữ hoặc bị giam mà người bị hại không làm ra của cải vật chất hoặc phải chi phí do bị bắt, bị giữ hoặc bị giam có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên; d) Thiệt hại khác được coi là hậu quả nghiêm trọng do hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật gây ra là trường hợp do hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật đã gây ra mất lòng tin của nhân dân đối với chính quyền, hàng trăm người kéo đến trụ sở đòi phải xử lý và trừng trị người phạm tội, gây mất trật tự xã hội nghiêm trọng, gây ách tắc giao thông, đường phố trong thời gian nhiều giờ...

2.2. Trường hợp “gây hậu quả nghiêm trọng” ở điểm c khoản 2 Điều 124 BLHS (tội xâm phạm chỗ ở của công dân) được hiểu là thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Gây chết người ngoài những trường hợp dùng vũ lực; b) Gây tổn hại cho sức khỏe người khác mà có tỷ lệ thương tật từ 41% ngoài trường hợp dùng vũ lực; c) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 50.000.000 đồng trở lên; d) Gây hậu quả nghiêm trọng khác như: Người bị đuổi ra khỏi nhà đi lang thang, phải bỏ học, bỏ kinh doanh, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự của địa phương, uy tín của cơ quan, đơn vị, tổ chức...

2.3. Trường hợp “gây hậu quả nghiêm trọng” ở điểm d khoản 2 Điều 125 BLHS (tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác) được hiểu là thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Gây chết người; b) Gây tổn hại cho sức khỏe người khác mà có tỷ lệ thương tật từ 41%; c) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 50.000.000 đồng trở lên; d) Gây hậu quả nghiêm trọng khác như: Do chiếm đoạt thư, điện báo, telex, fax, email... mà ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất, kinh doanh, ảnh hưởng đến việc điều động người tham gia phòng chống thiên tai, dịch bệnh, phòng cháy chữa cháy...

2.4. Trường hợp “gây hậu quả nghiêm trọng” ở điểm c khoản 2 Điều 126 BLHS (tội xâm phạm quyền bầu cử, quyền ứng cử của công dân) được hiểu là thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Lừa gạt, mua chuộc, cưỡng ép hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở việc thực hiện quyền bầu cử, quyền ứng cử của từ 10 người trở lên; b) Làm kết quả bầu cử phải hủy và tiến hành tổ chức bầu cử lại; c) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 50.000.000 đồng trở lên; d) Gây hậu quả nghiêm trọng khác như: Do lừa gạt, mua chuộc, cưỡng ép hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở việc thực hiện quyền bầu cử, quyền ứng cử của công dân nên đã gây dư luận xấu trong nhân dân làm mất lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước, chính quyền, gây mất trật tự an ninh chính trị ở địa phương, địa bàn dân cư...

2.5. Trường hợp “gây hậu quả nghiêm trọng” ở điểm b khoản 2 Điều 127 BLHS (tội làm sai lệch kết quả bầu cử) được hiểu là thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Làm sai lệch kết quả bầu cử dẫn đến kết quả bầu cử phải hủy bỏ và tổ chức lại; b) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 50.000.000 đồng trở lên; c) Gây hậu quả nghiêm trọng khác như: Gây dư luận xấu trong nhân dân làm mất lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước, chính quyền, gây mất trật tự an ninh chính trị ở địa phương, địa bàn dân cư...

2.6. Trường hợp “gây hậu quả nghiêm trọng” ở Điều 128 BLHS (tội buộc người lao động, cán bộ, công chức thôi việc trái pháp luật) được hiểu là thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Do buộc người lao động thôi việc trái pháp luật dẫn đến người lao động và gia đình họ lâm vào tình trạng khốn khó, phải bán nhà, tài sản để thanh toán các khoản nợ; b) Gây bất bình cho người lao động, cán bộ, công chức trong các cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị dẫn đến đình công, biểu tình...; c) Gây ảnh hưởng xấu đến dư luận xấu trong nhân dân làm mất lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước, chính quyền, gây mất trật tự an ninh chính trị ở địa phương, địa bàn dân cư...

Tóm lại, từ ý kiến khoa học của GS. TSKH. Đào Trí Úc: “Pháp luật, dù có hoàn thiện đến mấy cũng không thể phản ánh và quy định hết được tất cả những hoàn cảnh cụ thể của cuộc sống...”# nên việc tiếp tục hoàn thiện các quy định của BLHS về các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất cấp bách trước yêu cầu mới của đất nước. Tuy nhiên, việc tiếp tục nghiên cứu các điều khoản của BLHS có vướng mắc, bất cập trong thực tiễn đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm mà chưa có điều kiện sửa đổi, bổ sung để chuẩn bị phương án cho việc sửa đổi, bổ sung toàn diện BLHS vẫn luôn là đòi hỏi có tính thời sự hiện nay.

TS. Trịnh Tiến Việt

ThS. Nguyễn Xuân Hà

(1) Xem: Ban soạn thảo BLHS sửa đổi, Dự thảo ngày 19/4/2012 về “Đề cương định hướng xây dựng Dự án BLHS (sửa đổi)”, Bộ Tư pháp, Hà Nội, tr.6.

(2) Xem: TS. Trịnh Tiến Việt, ThS. Nguyễn Thị Thanh: Pháp luật về tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật và kiến nghị sửa đổi, bổ sung, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 21(11)/2011, tr.48.

(3) Xem: ThS. Lê Thiết Hùng, Tội xâm phạm chỗ ở của công dân trong luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011, tr. 84.

(4) Xem: ThS. Đinh Văn Quế: Bình luận chuyên sâu BLHS, Tập III - Các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân; xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình, Nxb. thành phố Hồ Chí Minh, 2002, tr.150.

(5) Về tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” quy định tại khoản 3 Điều 123, điểm c khoản 2 Điều 124, điểm d khoản 2 Điều 125, điểm c khoản 2 Điều 126, điểm b khoản 2 Điều 127 và Điều 128 BLHS chúng tôi thấy những đề xuất từ thực tiễn của ThS. Đinh Văn Quế là hợp lý và chúng tôi bổ sung thêm ý kiến của mình để kiến nghị trong bài viết này. Xem: ThS. Đinh Văn Quế: Bình luận khoa học BLHS Phần các tội phạm, Tập III - Các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân; xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình, Nxb. thành phố Hồ Chí Minh, 2002, tr.61-62, 83-84, 100-101; 118-119; 130-131.

(6) Xem: GS. TSKH. Đào Trí Úc, Luật hình sự Việt Nam (Quyển I - Những vấn đề chung), Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000, tr.209.

I

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: