Chủ nhật 26/07/2026 23:55
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền của người lao động trong xử lý kỷ luật lao động

Xử lý kỷ luật lao động (XLKLLĐ) là một chế định có vai trò quan trọng trong pháp luật về lao động với hậu quả pháp lý cao nhất là chấm dứt quan hệ lao động giữa các bên. Vì vậy, XLKLLĐ đúng pháp luật là mục tiêu của pháp luật về lao động luôn mong muốn các bên tham gia quan hệ lao động hướng tới.

Xử lý kỷ luật lao động (XLKLLĐ) là một chế định có vai trò quan trọng trong pháp luật về lao động với hậu quả pháp lý cao nhất là chấm dứt quan hệ lao động giữa các bên. Vì vậy, XLKLLĐ đúng pháp luật là mục tiêu của pháp luật về lao động luôn mong muốn các bên tham gia quan hệ lao động hướng tới. Tuy nhiên, nội hàm các quy định về XLKLLĐ hiện hành đang có những bất cập và hạn chế đối với người lao động - một bên yếu thế trong quan hệ lao động. Trong phạm vi bài viết này, tác giả sẽ trình bày một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về XLKLLĐ nhằm bảo đảm quyền của người lao động.

Áp dụng khiếu nại lao động hay yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động: Người bị kỷ luật “rối”

Ông A làm việc cho Công ty B có trụ sở tại quận 7, TP. Hồ Chí Minh với vị trí là quản lý nhà hàng từ năm 2012. Tháng 6/2015, ông A nhận được quyết định cách chức quản lý, chỉ làm việc ở vị trí nhân viên phục vụ nhà hàng. Ông A làm đơn khiếu nại quyết định của Công ty B và gửi đến Phòng Lao động Thương binh và Xã hội quận 7. Tuy nhiên, hòa giải viên lao động khuyên ông A nên làm lại đơn với tiêu đề và nội dung là đơn đề nghị hòa giải để giải quyết tranh chấp lao động cá nhân thông qua thủ tục hòa giải trước khi khởi kiện ra Tòa. Ông A rất băn khoăn và cảm thấy “rối” với lời khuyên này vì chỉ muốn khiếu nại để Công ty xem xét lại quyết định cách chức, chứ ông không có tranh chấp gì với Công ty, tại sao phải làm đơn đề nghị hòa giải. Vậy pháp luật hiện hành quy định như thế nào trong trường hợp này?

Theo quy định của Bộ luật Lao động hiện hành, cách chức là một trong ba hình thức XLKLLĐ[1]. Người bị XLKLLĐ nếu thấy không thỏa đáng có quyền khiếu nại với người sử dụng lao động, với cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật hoặc yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động theo trình tự do pháp luật quy định[2]. Như vậy, tùy thuộc vào ý chí của mình, người lao động có thể lựa chọn quyền khiếu nại hoặc quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động với cơ quan có thẩm quyền.

Đối với quyền khiếu nại, đây là quyền yêu cầu người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại về lao động xem xét lại quyết định, hành vi về lao động của người sử dụng lao động khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó vi phạm pháp luật lao động, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình[3]. Để thực hiện quyền khiếu nại, người lao động phải chỉ ra được hai vấn đề: (1) Quyết định, hành vi về lao động của người sử dụng lao động vi phạm pháp luật lao động; (2) Quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại của người lao động được phân chia như sau: (i) Người sử dụng lao động có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định, hành vi của mình bị khiếu nại; (ii) Chánh Thanh tra Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, nơi người sử dụng lao động đặt trụ sở chính có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai đối với khiếu nại về lao động khi người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu hoặc đã hết thời hạn mà khiếu nại không được giải quyết[4].

Đối với quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động, đây là quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các bên trong quan hệ lao động[5]. Điều kiện thực hiện quyền này là khi một trong hai bên có đơn yêu cầu do bên kia từ chối thương lượng, thương lượng nhưng không thành hoặc thương lượng thành nhưng một trong hai bên không thực hiện[6]. Pháp luật tôn trọng, bảo đảm quyền tự thương lượng của các bên, tôn trọng quyền và lợi ích của hai bên tranh chấp và khuyến khích hai bên trực tiếp thương lượng nhằm giải quyết hài hòa lợi ích của hai bên tranh chấp, ổn định sản xuất, kinh doanh, bảo đảm trật tự và an toàn xã hội[7]. Nói một cách khác, thương lượng được xem là vấn đề “xương sống” trong giải quyết tranh chấp lao động.

Bộ luật Lao động hiện hành định nghĩa kỷ luật lao động là những quy định về việc tuân theo thời gian, công nghệ và điều hành sản xuất, kinh doanh trong nội quy lao động[8]. Khi vi phạm các quy định này thì người lao động sẽ bị XLKLLĐ theo trình tự, thủ tục do luật định. Theo đó, người sử dụng lao động buộc phải chứng minh lỗi của người lao động và người lao động được quyền tự bào chữa cho mình[9]. Có thể nhận thấy không tồn tại yếu tố thương lượng khi XLKLLĐ. Bản chất của XLKLLĐ dựa trên việc xem xét, chứng minh yếu tố “lỗi” của người lao động, còn tranh chấp lao động xoay quanh vấn đề “thương lượng về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các bên”. Và nếu phải gặp nhau trong phiên hòa giải do hòa giải viên lao động tổ chức thì tỷ lệ khả năng hòa giải thành gần như bằng không, bởi điều cốt lõi ở đây là người sử dụng lao động sẽ không thể thương lượng với người lao động về yếu tố “lỗi” của người đó khi XLKLLĐ vì điều này ảnh hưởng đến trật tự tại nơi làm việc, quản lý, điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Như vậy, thủ tục hòa giải khi áp dụng quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động trong XLKLLĐ sẽ chỉ còn là hình thức, là thủ tục buộc phải thực hiện do luật định, không có ý nghĩa đối với các bên tham gia hòa giải nói chung, người lao động nói riêng. Hơn nữa, hòa giải viên lao động chỉ hướng dẫn các bên tham gia hòa giải thương lượng hoặc đưa ra phương án hòa giải để các bên xem xét[10] chứ không có quyền đánh giá, cho ý kiến các khía cạnh pháp lý của quyết định XLKLLĐ. Kết cục ở phía trước dành cho người lao động là một quá trình tố tụng kéo dài mà không phải ai cũng đủ kiên nhẫn và thời gian theo đuổi để làm cho ra lẽ vấn đề XLKLLĐ. Rõ ràng là với thủ tục hòa giải trong XLKLLĐ mang đầy tính hình thức, quyền của người lao động đã không được bảo đảm trong giai đoạn này như mong muốn của nhà lập pháp.

Quyền khiếu nại và những “ngõ cụt” cho người lao động

Khi bị XLKLLĐ, nếu có căn cứ cho rằng quyết định XLKLLĐ của người sử dụng lao động là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người lao động thực hiện khiếu nại đến người giải quyết khiếu nại lần đầu[11]; hoặc khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền mà không cần phải trải qua thủ tục khiếu nại[12].

Việc khiếu nại có thể được thực hiện bằng hình thức gửi đơn khiếu nại hoặc khiếu nại trực tiếp. Theo đó, thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu dành cho người sử dụng lao động không quá 30 ngày hoặc 45 ngày đối với vụ việc phức tạp, kể từ ngày thụ lý. Người sử dụng lao động cần tiến hành kiểm tra, xác minh nội dung khiếu nại, gặp gỡ, đối thoại với người khiếu nại và ra quyết định giải quyết khiếu nại. Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu phải ghi rõ về quyền khiếu nại lần hai, quyền khởi kiện vụ án tại Tòa án.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì người khiếu nại được lựa chọn thực hiện một trong hai quyền sau đây: Thứ nhất, quyền khiếu nại đến Chánh Thanh tra Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, nơi người sử dụng lao động đặt trụ sở chính. Thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai không quá 45 ngày hoặc 60 ngày đối với vụ việc phức tạp, kể từ ngày thụ lý. Sau khi kiểm tra, xác minh nội dung khiếu nại, người giải quyết khiếu nại lần hai phải ra quyết định giải quyết khiếu nại lần hai. Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai phải ghi rõ về quyền khiếu nại theo quy định của Luật Khiếu nại, quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án. Thứ hai, quyền khởi kiện vụ án tại Tòa án: Người khiếu nại có quyền khởi kiện vụ án tại Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong trường hợp: (i) Không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu; hoặc (ii) Đã hết thời hạn quy định mà khiếu nại lần đầu không được giải quyết.

Nhìn vào các quy định trên, có vẻ như tồn tại nhiều cơ chế pháp lý bảo đảm quyền của người lao động, nhưng sự bất cập của hệ thống quy phạm pháp luật đã tạo nên những “ngõ cụt” cho người lao động, cụ thể:

- Không phải bất cứ trường hợp nào người lao động cũng được quyền khởi kiện ngay tại Tòa án có thẩm quyền. Bộ luật Lao động và Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành đều quy định người lao động chỉ có thể có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết khi bị XLKLLĐ theo hình thức sa thải. Đối với các hình thức XLKLLĐ khác, người lao động không có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết nếu chưa thực hiện thủ tục hòa giải[13]. Lưu ý là, pháp luật bắt buộc người lao động phải thông qua thủ tục hòa giải do hòa giải viên lao động tổ chức chứ không phải thực hiện thủ tục khiếu nại đến người sử dụng lao động.

- Mặc dù pháp luật quy định quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu phải ghi rõ về quyền của người lao động được khởi kiện vụ án tại Tòa án, nhưng với quy định vừa nêu trên của Bộ luật Lao động và Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành, người lao động không có quyền khởi kiện quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của người sử dụng lao động. Tòa án sẽ không thụ lý mà buộc người lao động phải thực hiện bước “tiền tố tụng” là thủ tục hòa giải trước khi khởi kiện ra Tòa.

- Nếu khiếu nại quyết định giải quyết khiếu nại lần hai, pháp luật đã “đẩy” người lao động sang góc độ khiếu nại về một quyết định hành chính, không liên quan đến quan hệ lao động và vấn đề XLKLLĐ. Còn nếu muốn khởi kiện vụ án tại Tòa án đối với quyết định XLKLLĐ (không phải là quyết định sa thải), người lao động vẫn phải thực hiện thủ tục hòa giải trước khi khởi kiện.

Tóm lại, sau một khoảng thời gian dài, nếu không đồng ý với (các) quyết định giải quyết khiếu nại, hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại về quyết định XLKLLĐ (không phải là quyết định sa thải) không được giải quyết thì người lao động đã đi tới “ngõ cụt”, không còn con đường nào khác để được yêu cầu pháp luật bảo vệ quyền lợi của mình, trừ khi quay trở lại thực hiện thủ tục hòa giải - một thủ tục phải làm cho có và gần như không có ý nghĩa như đã phân tích ở mục trên, trước khi đi tới bước khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền. Đây cũng là một quan điểm lý giải vì sao hòa giải viên lao động quận 7, TP. Hồ Chí Minh khuyên ông A nên viết lại là đơn đề nghị hòa giải để giải quyết tranh chấp lao động cá nhân, tránh gặp phải các thủ tục giải quyết khiếu nại rườm rà mà ít hiệu quả và không có giá trị nếu ông A không đồng ý với (các) quyết định giải quyết khiếu nại như ví dụ ban đầu đã nêu.

Sau 20 năm sửa đổi, quyền của người lao động “lùi” thêm một bước

Để XLKLLĐ người lao động, người sử dụng lao động phải tuân thủ đúng và đủ các trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Lao động. Ngay từ khi ban hành, Bộ luật Lao động năm 1994[14] đã có một chương riêng quy định về kỷ luật lao động và nhấn mạnh, khi xem xét XLKLLĐ phải có mặt đương sự và phải có sự tham gia của đại diện ban chấp hành công đoàn cơ sở trong doanh nghiệp[15]. Thực tế đã nảy sinh nhiều vấn đề liên quan đến việc bắt buộc phải có mặt đương sự nói chung và người lao động nói riêng. Trong nhiều trường hợp, người sử dụng lao động không thể liên lạc hoặc gửi thông báo XLKLLĐ cho người lao động do không có các phương thức liên lạc hoặc không thể tìm được địa chỉ hoặc do chính người lao động cố tình né tránh, dẫn đến hậu quả người lao động không có mặt khi họp xem xét XLKLLĐ. Vì vậy, văn bản hướng dẫn dưới luật đã phải ghi nhận thực trạng này và hướng dẫn rằng, nếu người sử dụng lao động đã 3 lần thông báo bằng văn bản mà người lao động vẫn vắng mặt thì người sử dụng lao động có quyền xử lý kỷ luật và thông báo quyết định kỷ luật cho người lao động biết[16]. Có nghĩa là, pháp luật cho phép người sử dụng lao động được quyền xử lý kỷ luật vắng mặt người lao động - một quy định đầy bất lợi đối với quyền của người lao động, dẫu rằng, trong một chừng mực nhất định, đó là giải pháp pháp lý tình thế giải quyết những vướng mắc về XLKLLĐ tại thời điểm điều kiện kinh tế - xã hội kém phát triển, không có nhiều phương tiện liên lạc hữu hiệu và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật còn sơ khai.

Mặc dù, Bộ luật Lao động năm 1994 đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần nhưng các quy định về thủ tục XLKLLĐ này vẫn tồn tại gần 20 năm cho đến khi Bộ luật Lao động năm 2012 ra đời, có hiệu lực từ ngày 01/5/2013. Theo đó, không ghi chung chung là “đương sự” như Bộ luật Lao động năm 1994, Bộ luật Lao động năm 2012 khẳng định rõ ràng, việc XLKLLĐ phải bảo đảm nguyên tắc: Người lao động phải có mặt và có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa; trường hợp là người dưới 18 tuổi thì phải có sự tham gia của cha, mẹ hoặc người đại diện theo pháp luật[17]. Tuy nhiên, sau hai năm, một Nghị định hướng dẫn đã “xé bỏ” sự khẳng định đó của Bộ luật Lao động năm 2012, tiếp tục cho phép người sử dụng lao động được tiến hành cuộc họp XLKLLĐ vắng mặt người lao động trong trường hợp đã 03 lần thông báo bằng văn bản mà người lao động không có mặt[18]. Không những thế, Nghị định này còn quy định, sau khi người có thẩm quyền ra quyết định XLKLLĐ đối với người lao động, quyết định XLKLLĐ chỉ được gửi đến những người tham dự phiên họp XLKLLĐ[19], không buộc phải thông báo cho người lao động biết nếu vắng mặt. Do đó, nếu người lao động vắng mặt trong cuộc họp XLKLLĐ thì người lao động cũng không được quyền nhận quyết định XLKLLĐ, tức là người bị XLKLLĐ hoàn toàn không được biết những gì xảy ra liên quan trực tiếp đến quyền lợi của mình. Như vậy, ngoài việc Nghị định đó đưa ra những quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý “cao hơn” Bộ luật, thì những quy phạm pháp luật của Nghị định này còn thể hiện một “bước lùi” lớn trong tiến trình cải cách thể chế Nhà nước bảo đảm quyền con người nói chung, quyền của người lao động nói riêng.

Những kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Từ những phân tích trên, chúng tôi nhận thấy cần phải có những bước cải cách, hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm quyền của người lao động trong XLKLLĐ:

Một là, người lao động phải có mặt trong cuộc họp XLKLLĐ và có một trường hợp ngoại lệ

Khi XLKLLĐ, người sử dụng lao động buộc phải chứng minh lỗi của người lao động và người lao động được quyền tự bào chữa cho mình. Nếu như người lao động vắng mặt thì họ không còn được quyền tự bào chữa cho mình. Vì vậy, quy định về việc người lao động phải có mặt trong cuộc họp XLKLLĐ là điều bắt buộc để bảo đảm quyền của người lao động. Tuy nhiên, cũng để bảo đảm cho người sử dụng lao động không bị bế tắc, không thể XLKLLĐ khi người lao động cố tình trốn tránh, pháp luật về lao động cần sửa đổi theo hướng: (i) Phải có các quy định chi tiết về thủ tục gửi thông báo XLKLLĐ, bao gồm thời gian gửi, phương thức gửi…; (ii) Quy định trường hợp ngoại lệ duy nhất cho phép người sử dụng lao động được tiến hành cuộc họp XLKLLĐ vắng mặt người lao động trong trường hợp XLKLLĐ theo hình thức sa thải vì lý do người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong 01 tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong 01 năm mà không có lý do chính đáng. Khi đó, sau khi hoàn thành các thủ tục gửi thông báo theo quy định của pháp luật mà người lao động vẫn cố tình trốn tránh thì người sử dụng lao động được tiến hành cuộc họp XLKLLĐ vắng mặt người lao động theo hình thức sa thải vì lý do người lao động tự ý bỏ việc.

Hai là, thủ tục khiếu nại cũng phải được xem là thủ tục “tiền tố tụng”, tương tự thủ tục hòa giải

Như đã phân tích, thủ tục hòa giải trong XLKLLĐ gần như không có ý nghĩa nên pháp luật về lao động và pháp luật về tố tụng cần sửa đổi theo hướng bổ sung thủ tục khiếu nại cũng là một thủ tục do người lao động lựa chọn trước khi muốn khởi kiện quyết định XLKLLĐ ra Tòa án có thẩm quyền. Điều này bảo đảm người lao động không bị mất thời gian thực hiện thêm thủ tục hòa giải, trong khi vẫn được quyền đề nghị người sử dụng lao động xem xét lại một lần nữa quyết định XLKLLĐ của mình theo thủ tục khiếu nại.

Ba là, người lao động được quyền khởi kiện quyết định XLKLLĐ tại Tòa án có thẩm quyền mà không nhất thiết phải thông qua thủ tục hòa giải hoặc thủ tục khiếu nại

Đối với các tranh chấp về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh trong quan hệ lao động, nhà làm luật mong muốn các bên thương lượng để bảo đảm lợi ích được hài hòa. Vì vậy, thủ tục hòa giải đối với tranh chấp lao động là điều cần thiết. Nhưng đối với XLKLLĐ, các bên đã gặp nhau, đối thoại, chứng minh lỗi và bào chữa trong cuộc họp XLKLLĐ. Do đó, nếu không muốn thực hiện thủ tục hòa giải hoặc thủ tục khiếu nại, người lao động cần được quyền khởi kiện quyết định XLKLLĐ tại Tòa án có thẩm quyền như là một trong các quyền mà người lao động có thể lựa chọn.

Bốn là, xây dựng thiết chế trọng tài lao động độc lập

Pháp luật hiện hành ghi nhận hai thiết chế về hòa giải tranh chấp lao động, gồm có hòa giải viên lao động và Hội đồng trọng tài lao động[20]. Theo đó, hòa giải viên lao động do cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp huyện cử để hòa giải tranh chấp lao động; còn Hội đồng trọng tài lao động được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập để tiến hành hòa giải một số tranh chấp lao động tập thể. Các thủ tục hòa giải do hai thiết chế này tiến hành đều là những thủ tục bắt buộc do luật định. Do vậy, nếu các bên tham gia vào quan hệ lao động mong muốn thực hiện thủ tục khác thì hai thiết chế hòa giải sẽ không thể tiến hành thực hiện. Trở lại ví dụ ban đầu, nếu ông A khiếu nại Công ty B. thì Công ty B giải quyết khiếu nại lần đầu, Chánh Thanh tra Sở Lao động - Thương binh và Xã hội giải quyết khiếu nại lần hai, hòa giải viên lao động hoàn toàn không tham gia trong suốt quá trình áp dụng thủ tục khiếu nại. Hơn nữa, nhiều vấn đề hàng ngày phát sinh trong mối quan hệ lao động, ví dụ như tranh chấp, mâu thuẫn, thương lượng các điều kiện lao động, an toàn vệ sinh lao động… mà không phải lúc nào các bên cũng đủ điều kiện để mời cơ quan chức năng giải quyết hoặc tham dự.

Chính vì vậy, để xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia quan hệ lao động thông qua đối thoại, thương lượng, thỏa thuận theo nguyên tắc tự nguyện, thiện chí, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau, Nhà nước cần xây dựng thiết chế trọng tài lao động độc lập nhằm phục vụ mục tiêu này. Trọng tài viên lao động là người có chứng chỉ hành nghề trọng tài, có sự am hiểu sâu sắc pháp luật lao động, có kiến thức, kinh nghiệm giải quyết tranh chấp lao động (cá nhân, tập thể), khiếu nại lao động… Thiết chế trọng tài lao động có thể tổ chức hoặc tham gia giải quyết khiếu nại lao động, hòa giải lao động hoặc mở phiên họp giải quyết tranh chấp lao động theo tố tụng trọng tài lao động… Khi sử dụng thiết chế trọng tài lao động, các bên tham gia quan hệ lao động được tạo điều kiện bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, được một cơ quan độc lập tổ chức giải quyết sự việc bất kỳ theo đề nghị của các bên vào bất cứ thời điểm nào.

ThS. Nguyễn Bình An

Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội


[1] Điều 125 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định, hình thức xử lý kỷ luật lao động bao gồm: 1. Khiển trách; 2. Kéo dài thời hạn nâng lương không quá 06 tháng; cách chức; 3. Sa thải.

[2] Điều 132 Bộ luật Lao động năm 2012.

[3] Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 119/2014/NĐ-CP ngày 17/12/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Bộ luật Lao động, Luật Dạy nghề, Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng về khiếu nại, tố cáo.

[4] Điều 15 Nghị định số 119/2014/NĐ-CP.

[5] Khoản 7 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2012.

[6] Khoản 6 Điều 194 Bộ luật Lao động năm 2012.

[7] Khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 194 Bộ luật Lao động năm 2012.

[8] Điều 118 Bộ luật Lao động năm 2012.

[9] Khoản 1 Điều 123 Bộ luật Lao động năm 2012.

[10] Khoản 3 Điều 201 Bộ luật Lao động năm 2012.

[11] Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 119/2014/NĐ-CP.

[12] Đoạn thứ nhất của điểm a khoản 2 Điều 10 Nghị định số 119/2014/NĐ-CP.

[13] Điểm a khoản 1 Điều 201 Bộ luật Lao động năm 2012 và điểm a khoản 1 Điều 31 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2011.

[14] Bộ luật Lao động năm 1994 được thông qua ngày 23/6/1994 và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/1995.

[15] Khoản 3 Điều 87 Bộ luật Lao động năm 1994.

[16] Điểm c khoản 1 Điều 11 Nghị định số 41/CP của Chính phủ ban hành ngày 06/7/1995 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất.

[17] Điểm c khoản 1 Điều 123 Bộ luật Lao động năm 2012.

[18] Khoản 2 Điều 30 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động, quy định: “Cuộc họp xử lý kỷ luật lao động được tiến hành khi có mặt đầy đủ các thành phần tham dự được thông báo theo quy định tại khoản 1 Điều này. Trường hợp người sử dụng lao động đã 03 lần thông báo bằng văn bản, mà một trong các thành phần tham dự không có mặt thì người sử dụng lao động tiến hành cuộc họp xử lý kỷ luật lao động, trừ trường hợp người lao động đang trong thời gian không được xử lý kỷ luật quy định tại khoản 4 Điều 123 của Bộ luật Lao động”.

[19] Khoản 5 Điều 30 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP.

[20] Ngoài ra, pháp luật còn ghi nhận một thiết chế khác là hòa giải viên thực hiện hoạt động hòa giải ở cơ sở theo quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013. Tuy nhiên, thiết chế hòa giải viên này không được quyền thực hiện hoạt động hòa giải tranh chấp về lao động căn cứ theo quy định tại Điểm đ, Khoản 2, Điều 5, Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/02/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: