Thứ sáu 16/01/2026 15:29
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài

Bài viết phân tích quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài trong bối cảnh hội nhập quốc tế và đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài tại Việt Nam nhằm bảo đảm tốt hơn các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên khi tham gia vào quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài.

1. Quy định của pháp luật Việt Nam về quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài

Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam định nghĩa: “Kết hôn là sự kết hợp hai người khác giới, để lập gia đình, sinh con đẻ cái, thực hiện chức năng sinh học và các chức năng khác của gia đình”[1]. Tại Việt Nam, để giải thích quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định tại khoản 25 Điều 3 như sau: “Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”.

Các yếu tổ để xác định được quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài bao gồm: (i) Chủ thể tham gia quan hệ ít nhất một bên là người nước ngoài hoặc công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; (ii) Sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ hôn nhân gia đình xảy ra ở nước ngoài; (iii) Tài sản ở nước ngoài.

Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, hay quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài là một trong những quan hệ cơ bản của quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Đến thời điểm hiện tại, vẫn chưa có một khái niệm cụ thể về quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài. Tuy nhiên, từ những khái niệm cơ bản về kết hôn, về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, có thể hiểu: Quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với nước ngoài là việc công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam hoặc ở nước ngoài khi thỏa mãn các điều kiện kết hôn và thực hiện đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Trong đó, người nước ngoài bao gồm người có quốc tịch và người không có quốc tịch.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, kết hôn có yếu tố nước ngoài có xu hướng gia tăng rõ rệt, đây là kết quả của quá trình hội nhập và phát triển kinh tế, xã hội. Với sự phát triển ngày càng nhanh của nền kinh tế cũng như sự giao lưu giữa các quốc gia thì vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài đã tạo điều kiện cho việc hòa nhập kinh tế quốc tế, giao lưu văn hóa giữa các quốc gia với nhau trở nên dễ dàng và gần gũi hơn. Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài không chỉ thuộc lĩnh vực dân sự như quan hệ kết hôn thông thường, mà còn liên quan đến nhiều lĩnh vực khác như văn hóa, chính trị, xã hội giữa các quốc gia khác nhau.

Kết hôn có yếu tố nước ngoài là một trong những quan hệ cơ bản của quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, bên cạnh những đặc điểm chung thì quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài còn có như đặc điểm riêng như sau:

Thứ nhất, chủ thể tham gia quan hệ kết hôn bắt buộc một bên phải là công dân Việt Nam và một bên là người nước ngoài.

Đây là một trong những đặc điểm cơ bản của quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài. Yếu tố chủ thể giúp phân biệt quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài với quan hệ kết hôn giữa hai bên là công dân Việt Nam. Vì vậy, điều kiện và các trình tự, thủ tục đăng ký kết hôn của quan hệ này khác với quan hệ kết hôn trong nước. Đồng thời, đây còn là đặc điểm để phân biệt kết hôn có yếu tố nước ngoài với kết hôn không có yếu tố nước ngoài.

Thứ hai, pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài về cơ bản là pháp luật Việt Nam và pháp luật nước mà người nước ngoài là công dân.

Pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài chủ yếu là pháp luật quốc gia của mà hai bên chủ thể là công dân. Việc đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài theo quy định pháp luật về hôn nhân gia đình được tiến hành thông qua hai cách, cụ thể: Đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam; đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước ngoài. Tuy nhiên, để việc kết hôn được thừa nhận tại Việt Nam, người Việt Nam và người mang quốc tịch nước ngoài tham gia quan hệ kết hôn trước tiên cần phải thỏa mãn các điều kiện kết hôn theo pháp luật của nước mà mình mang quốc tịch. Khoản 1 Điều 126 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn; nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn”.

Theo quy định trên, các bên chủ thể là công dân Việt Nam và người nước ngoài đều phải đáp ứng các quy định về điều kiện kết hôn theo pháp luật về nhân thân của các bên chủ thể. Người nước ngoài khi đăng ký kết hôn với công dân Việt Nam tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài phải tuân theo các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về điều kiện kết hôn.

2. Những tiêu cực, hạn chế trong quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài tại Việt Nam

Thực trạng kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài thời gian vừa qua góp phần mở rộng quan hệ hợp tác, giao lưu, tăng cường sự hiểu biết về văn hóa của các quốc gia, quảng bá hình ảnh con người Việt Nam đến bạn bè trên thế giới, song cũng có những biểu hiện tiêu cực, có ảnh hưởng không tích cực đến đời sống, an ninh, trật tự, an toàn xã hội… Cụ thể như sau:

Thứ nhất, việc công dân Việt Nam nói chung, phụ nữ Việt Nam nói riêng kết hôn với người nước ngoài có xu hướng tăng, tuy nhiên, ngày càng có nhiều phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài vì mục đích kinh tế, không vì mục đích hôn nhân và không xuất phát từ tình yêu nam nữ trên cơ sở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ (mà ở đây tập trung chủ yếu là kết hôn với nam giới Đài Loan, hiện nay có xu hướng mở rộng với cả nam giới Hàn Quốc), điều này đã làm nảy sinh nhiều hệ lụy[2].

Thứ hai, vẫn còn không ít trường hợp phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài thông qua hoạt động môi giới bất hợp pháp. Sự hiểu biết lẫn nhau giữa hai bên nam, nữ trước khi kết hôn hết sức hạn chế, khiến nhiều phụ nữ Việt Nam sau khi kết hôn lâm vào hoàn cảnh khó khăn, dẫn đến hôn nhân tan vỡ. Theo khảo sát của Bộ Tư pháp, việc kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam với người nước ngoài mang tính chất phong trào và tập trung vào một số quốc gia và vùng lãnh thổ như: Đài Loan, Hoa Kỳ, Hàn Quốc. Hoạt động kinh doanh, môi giới kết hôn nhằm mục đích trục lợi, bất hợp pháp của một số tổ chức, cá nhân cũng ngày càng mở rộng và phát triển, đặc biệt là ở Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Tây và Đông Nam Bộ.

Thứ ba, tình trạng lợi dụng kết hôn với người nước ngoài để thực hiện hành vi phạm tội. Trên thực tế, có rất nhiều phụ nữ đã bị lừa bán, trở thành nạn nhân của nạn buôn người thông qua con đường kết hôn với người nước ngoài và đây chính là mặt trái của vấn đề kết hôn với người nước ngoài.

Thứ tư, pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài vẫn còn một số vướng mắc. Có thể nói, đây là vấn đề quan trọng, có ảnh hưởng lớn tới quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài. Việc khắc phục được vướng mắc này có ý nghĩa quyết định trong việc lành mạnh hóa quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài trong thời gian tới.

Thứ năm, hoạt động hỗ trợ kết hôn của các Trung tâm hỗ trợ kết hôn còn chưa tương xứng với vai trò và đòi hỏi của xã hội. Trên thực tế, tổ chức của các trung tâm này còn lỏng lẻo, hoạt động rất cầm chừng, hình thức. Một số trung tâm từ khi thành lập đến nay chưa tư vấn được cho một trường hợp nào. Điều này cũng làm giảm sự lành mạnh hóa của các quan hệ kết hôn với người nước ngoài của công dân Việt Nam.

Việc xác định những vướng mắc nêu trên sẽ là cơ sở cho việc định hướng và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật cũng như tăng cường hiệu quả hoạt động của các thiết chế trong việc điều chỉnh quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài. Trong thời gian tới, Việt Nam cần hoàn thiện pháp luật về quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài.

3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài

Thứ nhất, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trong lĩnh vực kết hôn có yếu tố nước ngoài: Đối với hoạt động môi giới kết hôn, hiện nay pháp luật Việt Nam chưa ghi nhận loại hình kinh doanh này và không cho phép đăng ký kinh doanh trong lĩnh vực này. Thực tế hiện nay, các trung tâm môi giới kết hôn chỉ cần tìm một người có đủ các điều kiện theo yêu cầu của những người có nhu cầu kết hôn với người nước ngoài để kiếm lợi nhuận mà không cần quan tâm xem khách hàng của mình có tương xứng nhau về tuổi tác, hợp nhau về tính cách, văn hóa… hay không. Chính điều này đã làm cho nhiều cuộc hôn nhân chớp nhoáng đổ vỡ nhanh chóng, thậm chí nhiều trường hợp để lại hậu quả vô cùng nghiêm trọng. Do vậy, cần quy định chế tài cụ thể để xử lý nghiêm minh các đối tượng, tổ chức môi giới hôn nhân có yếu tố nước ngoài trái pháp luật.

Theo xu thế chung của thế giới, pháp luật nhiều nước đã thừa nhận hoạt động này. Do đó, chúng ta cần phải có chính sách cụ thể, dài hạn để nghiên cứu và đưa hoạt động môi giới kết hôn quốc tế vào khuôn khổ pháp luật để quản lý. Bên cạnh đó, cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc phát hiện và xử lý triệt để các tổ chức cá nhân hoạt động môi giới hôn nhân bất hợp pháp, các đường dây môi giới hôn nhân trá hình, lợi dụng phụ nữ để thực hiện hành vi buôn bán người.

Ngoài việc hoàn thiện cơ sở pháp lý điều chỉnh pháp luật về kết hôn giữa công dân Việt Nam với người người nước ngoài, chúng ta cũng cần chú trọng nâng cao vai trò và đảm bảo hoạt động có hiệu quả của các thiết chế trong việc thực hiện pháp luật về giải quyết quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài.

Thứ hai, các cơ quan hữu quan cần đẩy mạnh công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài. Để thực hiện tốt được việc này, các cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải có đội ngũ cán bộ chuyên trách, có nhiều kinh nghiệm thực tế trực tiếp tham gia vào quá trình soạn thảo các văn bản đó. Bên cạnh đó, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần nắm rõ được tình hình thực tế, các dự báo xu hướng phát triển của quan hệ nhân giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài để có sự điều chỉnh pháp luật phù hợp, hoàn thiện và bổ sung những quy định cụ thể, cần thiết để điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài hay quan hệ kết hôn với người nước ngoài. Ngoài ra, vai trò của Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam là rất quan trọng trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nói chung và kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài nói riêng. Vì vậy, cần phát huy vai trò của Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam kết hợp với Bộ Tư pháp và các cơ quan chức năng soạn thảo các văn bản pháp luật trong vấn đề này nhằm bảo đảm tối đa quyền lợi của người phụ nữ khi làm dâu xứ người.

Thứ ba, mở rộng việc ký kết các điều ước quốc tế điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài. Dựa trên tình hình thực tế quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam, rất nhiều công dân Việt Nam kết hôn với công dân của nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Trong các trường hợp kết hôn này đôi khi xảy ra hiện tượng xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn và nghi thức kết hôn dẫn tới khó khăn, vướng mắc trong đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, đồng thời thực hiện đúng đường lối, chính sách hội nhập quốc tế trên mọi lĩnh vực, Việt Nam nên ký kết thêm hiệp định tương trợ tư pháp với các quốc gia chiếm tỷ lệ lớn trong các quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài.

Thứ tư, tăng cường và phát huy vai trò của các tổ chức, đoàn thể, nhất là Hội Phụ nữ, Trung tâm hỗ trợ kết hôn trong việc tư vấn, hỗ trợ các chị em phụ nữ khi họ muốn kết hôn với người nước ngoài. Trên thực tế, các tổ chức xã hội, đoàn thể quần chúng, nhất là Hội Phụ nữ là tổ chức tham gia tích cực vào việc phòng ngừa tình trạng buôn bán người thông qua kết hôn với người nước ngoài. Do vậy, để đảm bảo cho hoạt động của Hội đạt hiệu quả cao thì rất cần có một cơ sở pháp lý vững chắc, cùng các điều kiện vật chất đầy đủ. Bên cạnh việc xóa bỏ các trung tâm môi giới kết hôn bất hợp pháp, cần đẩy mạnh việc thành lập các Trung tâm hỗ trợ kết hôn đặt dưới sự quản lý của Hội liên hiệp Phụ nữ các tỉnh/thành phố, hoạt động theo nguyên tắc nhân đạo, phi lợi nhuận.

Thứ năm, nâng cao năng lực công tác của cán bộ chuyên môn. Việc nâng cao năng lực chuyên môn của cán bộ trong các cơ quan hữu quan đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc giải quyết việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài. Nếu chủ thể này có trình độ chuyên môn hạn chế thì hiệu quả của hoạt động áp dụng pháp luật về các vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài sẽ không đạt được. Do vậy, nâng cao năng lực công tác của các cán bộ chuyên môn là điều cần thiết. Để làm được việc này, Nhà nước cần:

- Cần bố trí cán bộ làm công tác giải quyết việc kết hôn có yếu tố nước ngoài phù hợp, tránh việc cán bộ lợi dụng những quy định của pháp luật để gây phiền hà, sách nhiễu cho công dân. Đội ngũ này phải vững về chuyên môn, có tinh thần, đạo đức nghề nghiệp, có ý thức, trách nhiệm với công việc được giao.

- Tăng cường công tác hướng dẫn, chỉ đạo, thanh tra, kiểm tra việc giải quyết hồ sơ kết hôn có yếu tố nước ngoài và tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ chuyên môn, kỹ năng tư vấn cho đội ngũ cán bộ làm công tác hộ tịch tại địa phương.

Thứ sáu, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật của người dân đối với việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài. Đây là biện pháp có tầm ảnh hưởng lâu dài, sâu rộng, tác động vào các chủ thể trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài. Để bảo vệ có hiệu quả quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, loại trừ những tiêu cực, Nhà nước cần phải quan tâm nhiều hơn nữa đối với vấn đề này, phải tiến hành đổi mới những quy định pháp luật không phù hợp, ban hành thêm những quy định còn thiếu sót, đẩy mạnh phát triển kinh tế ở vùng nông thôn, thực hiện việc giáo dục tuyên truyền cho người dân nông thôn về những hệ lụy của việc lấy chồng nước ngoài. Có như vậy, môi trường kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài mới trở nên lành mạnh, hạn chế tình trạng môi giới kết hôn bất hợp pháp, bảo đảm tốt hơn các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên khi tham gia vào quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài./.

TS. Hà Việt Hưng

Khoa Pháp luật quốc tế, Đại học Luật Hà Nội

[1]. Viện Từ điển và Bách khoa toàn thư Việt Nam, Từ điển Bách khoa toàn thư, bachkhoatoanthu.vass.gov.vn.

[2]. https://tuoitre.vn/lay-chong-dai-loan-va-han-quoc-theo-phong-trao-434699.htm, truy cập ngày 25/02/2024.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 406), tháng 6/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.

Theo dõi chúng tôi trên: