Thứ ba 03/03/2026 18:26
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật đối với tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên môi trường không gian mạng

Hoàn thiện pháp luật đối với tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên môi trường không gian mạng

Tóm tắt: Bài viết này bàn luận một số điểm còn hạn chế của pháp luật trong quá trình phòng, chống tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên môi trường không gian mạng, từ đó, đưa ra một số kiến nghị, đề xuất đối với việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam nhằm phòng, chống hiệu quả loại tội phạm này.

Abstract: This article discusses some limitations of the law in the process of preventing and combating fraudulent criminals appropriating property in the cyberspace environment, thereby, making a number of recommendations and proposals for the improving Vietnamese laws in order to effectively prevent and combat this type of crime.

1. Dẫn nhập

Trong những năm gần, đây tỉ lệ tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản gia tăng, đặc biệt là chủ thể thực hiện là người nước ngoài với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt. Nhiều tài sản có giá trị lớn đã bị chiếm đoạt do sự hám lợi hoặc nhẹ dạ cả tin của nạn nhân để thực hiện hành vi lừa đảo. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được trong quá trình đấu tranh phòng, chống tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên môi trường không gian mạng, thực tiễn còn phát sinh một số bất cập trong quy định của pháp luật gây khó khăn cho các lực lượng chức năng, vì vậy, yêu cầu đặt ra là cần phải hoàn thiện pháp luật nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trong quá trình phòng, chống loại tội phạm này.

2. Quy định của pháp luật có liên quan về tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên môi trường không gian mạng và một số bất cập

Tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong số những tội phạm phổ biến trong nhóm tội xâm phạm đến quyền sở hữu đã được quy định cụ thể tại Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đây là tội phạm có tính chất chiếm đoạt được thực hiện bởi hành vi gian dối nhưng phải thỏa mãn các yếu tố cấu thành vật chất của tội phạm là giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng; nếu dưới 2.000.000 đồng thì phải có các điều kiện như: Đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt, đã bị kết án về các tội có hành vi chiếm đoạt chưa xóa án tích mà còn vi phạm; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại. Hành vi khách quan bao gồm: Hành vi lừa dối (đưa ra các thông tin sai sự thật nhằm để nạn nhân tin đó là thật) và hành vi chiếm đoạt. Hai hành vi này đòi hỏi phải có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Hành vi lừa dối là điều kiện để hành vi chiếm đoạt có thể xảy ra, còn hành vi chiếm đoạt là mục đích và là kết quả của hành vi lừa dối. Đồng thời, tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản được xem là hoàn thành tại thời điểm người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản.

Trong thực tiễn phòng ngừa, đấu tranh đối với tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện đều thể hiện bằng hành vi gian dối ra bên ngoài của mặt khách quan của tội phạm nhưng với phương thức thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hơn như: Lừa đảo thông qua hình thức vishing[1]; lừa đảo thông qua mô hình kinh doanh đa cấp - đa cấp tiền ảo[2]… Đặc điểm nổi bật của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là thủ đoạn gian dối của người phạm tội. Cũng chính vì vậy mà có những trường hợp thực tế, các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã tuyệt đối hóa thủ đoạn gian dối của hành vi lừa đảo, chỉ tập trung chứng minh người phạm tội có thủ đoạn gian dối đã vội xác định đó là lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng không chú ý đến ý định chiếm đoạt dẫn đến sai lầm trong quá trình định tội danh. Bởi lẽ, nếu chỉ có thủ đoạn gian dối nhưng không có ý định chiếm đoạt thì không phải là lừa đảo, mà tùy từng trường hợp cụ thể có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội sử dụng trái phép tài sản hoặc chỉ là quan hệ dân sự, kinh tế... Trong khi đó, người nước ngoài khi họ thực hiện hành vi lừa đảo đa phần sử dụng qua các phương thức giao tiếp trên mạng xã hội như: Facebook, Zalo, webchat… thì rất khó có thể chứng minh ý thức của thủ đoạn gian dối ngay từ thời điểm này. Bởi vì, các cuộc trò chuyện và mọi thông tin có thể tự xóa ngay sau khi cuộc trao đổi kết thúc. Như vậy, trong thực tế để ngăn chặn sớm hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là cực kỳ khó khăn bởi vì quy định của pháp luật đòi hỏi phải có hậu quả xảy ra (hành vi chiếm đoạt phải thực hiện thành công). Ngoài ra, trong quy định của Bộ luật Hình sự còn rất nhiều tội danh lấy dấu hiệu hành vi gian dối, hành vi chiếm đoạt như: Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tội lừa dối khách hàng… dẫn đến sự nhầm lẫn hoặc khó nhận định tội danh nhưng cho đến nay chưa có hướng dẫn cụ thể nên rất dễ gây nhầm lẫn giữa trường hợp phạm tội lừa dối chiếm đoạt tài sản với trường hợp phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; giữa tranh chấp dân sự với trường hợp phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ngoài ra, theo khoa học pháp lý hình sự, để phân biệt các tội danh thì các cơ quan chức năng cần chứng minh ý thức của người thực hiện hành vi. Ý thức có trước khi thực hiện hành vi gian dối đó là lừa đảo, còn ý thức có sau thì tùy tình hình thực tế mà định các tội danh tương ứng. Nhưng thực tiễn việc chứng minh ý thức có trước của người nước ngoài trước khi thực hiện hành vi gian dối là cực kỳ khó khăn, nên trong thực tế có một số cơ quan tiến hành tố tụng đã gặp lúng túng trong quá trình đề nghị xử lý.

Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), pháp nhân thương mại đã được các nhà làm luật nghiên cứu, bổ sung là chủ thể của tội phạm. Đây là một sự thay đổi tích cực, phù hợp với luật pháp quốc tế và tình hình kinh tế, xã hội ở nước ta. Tuy nhiên, hiện nay, pháp nhân thương mại chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thực hiện hành vi phạm tội được liệt kê tại Điều 76 nhưng đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không được liệt kê trong số các tội đó[3]. Trong khi đó, hiện nay, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế bên cạnh những mặt tích cực thì chúng ta phải đối mặt với mặt trái của nền kinh tế thị trường, ngày càng có nhiều thành phần kinh tế nước ngoài du nhập vào nước ta khiến cho việc kiểm soát trở nên khó khăn, ngoài ra còn có rất nhiều pháp nhân thương mại do người nước ngoài thành lập không nhằm mục đích kinh doanh mà nhằm mục đích lợi dụng danh nghĩa kinh doanh để lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng các pháp nhân thương mại này lại không bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thực hiện hành vi phạm tội mà chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính thì rõ ràng hiệu quả hoạt động phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản là chưa cao và chưa đủ sức răn đe đối với các đối tượng là người nước ngoài.

Việc thu hồi tài sản bị chiếm đoạt và khắc phục hậu quả do tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện trong thời gian qua gặp rất nhiều khó khăn. Biện pháp phong tỏa tài khoản được quy định tại Điều 129 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có thể được xem như là một giải pháp để giải quyết vấn đề trên. Tuy nhiên, không thể áp dụng biện pháp này ngay từ lúc đầu phát hiện hành vi, do quy định của pháp luật về điều kiện áp dụng: Biện pháp này chỉ được áp dụng khi cơ quan tiến hành tố tụng đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và áp dụng đối với người bị buộc tội về tội mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tiền, bị tịch thu tài sản hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại khi có căn cứ xác định người đó có tài khoản tại các tổ chức tín dụng. Thực tiễn sau khi chiếm đoạt được tài sản (đặt biệt là thông qua hệ thống chuyển khoản của ngân hàng), số tiền này sẽ được chuyển cho nhiều ngân hàng khác nhau và trên những địa bàn khác nhau cho các cá nhân khác nhau để gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng khi truy dấu vết. Do đó, nếu chưa khởi tố vụ án, khởi tố bị can thì cơ quan tiến hành tố tụng không thể áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản (như là một biện pháp khẩn cấp tạm thời) để thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, còn nếu áp dụng sẽ dẫn đến vi phạm pháp luật.

Ngoài ra, theo Điều 26 Luật An ninh mạng có nội dung doanh nghiệp trong và ngoài nước có hoạt động thu thập, khai thác, phân tích, xử lý dữ liệu về thông tin cá nhân, dữ liệu về mối quan hệ của người sử dụng dịch vụ, dữ liệu do người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam tạo ra phải lưu trữ dữ liệu này tại Việt Nam trong thời gian theo quy định của Chính phủ. Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy cả hai “ông lớn” Google và Facebook đều sẽ phải dịch chuyển đám mây điện toán về và đặt Datacenter tại Việt Nam, nơi đang lưu trữ các dữ liệu của cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam khi Luật An ninh mạng chính thức có hiệu lực. Nhưng cho đến nay, các dữ liệu này vẫn đang được lưu trữ tại Datacenter Hồng Kông và Singapore đã gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng khi yêu cầu truy vết để xác định nội dung thông tin trao đổi giữa các đối tượng là người nước ngoài và nạn nhân.

3. Một số kiến nghị nhằm phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả đối với tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên môi trường không gian mạng

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Nhà nước đã chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và tiến hành đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại và đặc biệt từ khi nước ta trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) thì tình hình người nước ngoài vào Việt Nam ngày càng tăng, với nhiều mục đích khác nhau như: Đầu tư, kinh doanh, tìm kiếm cơ hội làm ăn, học tập, du lịch, thăm thân, lao động ngắn hạn... Chính vấn đề này đã đặt ra cho lực lượng Công an nhân dân nhiệm vụ phòng ngừa, đấu tranh đối với tội phạm nói chung và tội phạm do người nước ngoài thực hiện nói riêng, trong đó có tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài tổ chức thực hiện. Để chủ động phòng ngừa, đấu tranh đối với tội phạm này, pháp luật Việt Nam cần có những điều chỉnh cụ thể để hoàn thiện nhằm tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các cơ quan tiến hành tố tụng, thông qua một số vấn đề sau:

Thứ nhất, cần phải có văn bản hướng dẫn cụ thể nhằm làm rõ hơn dấu hiệu định tội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản để tránh nhầm lẫn với các tranh chấp giao dịch dân sự hoặc nhầm lẫn giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với các tội phạm khác cùng sử dụng thủ đoạn gian dối để phạm tội trong Bộ luật Hình sự về mục đích của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo hướng:

(i) Xác định mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm cơ bản của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, theo đó, khi định tội cần xem xét người phạm tội có mục đích chiếm đoạt hay không và thời điểm người phạm tội nảy sinh mục đích chiếm đoạt tài sản trên cơ sở đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

(ii) Trường hợp một người có hành vi gian dối trong việc xác lập các giao dịch dân sự nhưng không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản thì không phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà coi là vụ án tranh chấp về dân sự, nếu người phạm tội có thiện chí thực hiện các nghĩa vụ dân sự của mình; trường hợp người phạm tội có mục đích chiếm đoạt tài sản trước hoặc trong khi thực hiện hành vi lừa dối chiếm đoạt tài sản thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

(iii) Đối với tình trạng nhầm lẫn giữa trường hợp phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với một số trường hợp phạm tội khác cùng sử dụng thủ đoạn gian dối để phạm tội do đánh giá không đúng về mối liên hệ giữa hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt tài sản của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cần hướng dẫn về hành vi khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo hướng: Hành vi khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản gồm hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt tài sản. Giữa hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt tài sản có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Hành vi lừa dối là điều kiện để hành vi chiếm đoạt có thể xảy ra, còn hành vi chiếm đoạt phải là kết quả của hành vi lừa dối.

Thứ hai, nghiên cứu, bổ sung pháp nhân thương mại là chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Điều 76 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh sắp tới khi mà Việt Nam đã và đang tham gia vào các hoạt động kinh tế quốc tế. Quá trình hội nhập quốc tế bên cạnh những mặt tích cực nhưng cũng phát sinh những hạn chế đó là việc kiểm soát trở nên khó khăn, rất nhiều pháp nhân thương mại thành lập (có sự cấu kết giữa người nước ngoài và người Việt Nam) không nhằm mục đích kinh doanh mà thành lập nhằm mục đích lợi dụng danh nghĩa kinh doanh để lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Do đó, rất nhiều khả năng trong thời gian tới, hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện sẽ tiếp tục gia tăng trong tương lai.

Thứ ba, hoàn thiện quy định của pháp luật để khắc phục tình trạng không thể thu hồi tài sản bị chiếm đoạt. Do đó, pháp luật hình sự cần có những sửa đổi, bổ sung để việc thu hồi tài sản bị chiếm đoạt có hiệu quả hơn. Cụ thể, cần bổ sung các quy định: Nếu có dấu hiệu tẩu tán tài sản của người phạm tội thì người phạm tội và người thân của họ hoặc những người có liên quan có trách nhiệm chứng minh nguồn gốc tài sản. Nếu không thể chứng minh được nguồn gốc thì các cơ quan tiến hành tố tụng được phép phong tỏa hoặc tạm thời thu hồi toàn bộ hoặc một phần tài sản, khắc phục hậu quả để giảm nhẹ hình phạt.

Thứ tư, các cơ quan chức năng cần có giải pháp cụ thể đối với các tổ chức nước ngoài về việc thực hiện đúng theo quy định Luật An ninh mạng của Việt Nam. Di chuyển toàn bộ cơ sở dữ liệu về Việt Nam để thuận tiện trong việc quản lý trên môi trường không gian mạng cũng như phục vụ quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ để đấu tranh với tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện.

Trịnh Duy Thuyên

Phạm Anh Thư

Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

[1]. Đối tượng phần lớn là người nước ngoài, thường là những ổ nhóm người Việt Nam, câu kết với một số đối tượng người Trung Quốc, Malaysia, khi nhập cảnh vào Việt Nam thường chọn địa bàn là Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh, thành phố lớn thuê nhà, thuê đường truyền Internet tốc độ cao, bằng công cụ kỹ thuật chuyển cuộc gọi, các đối tượng thực hiện việc gọi điện đến các thuê bao cố định hoặc di động, giả danh cơ quan công an hoặc nhân viên tổng đài chăm sóc khách hàng. Sau khi lấy được lòng tin của người dân, các đối tượng tiếp tục giả danh là người đại diện của các cơ quan bảo vệ pháp luật như Công an, Viện kiểm sát muốn kiểm tra xem số dư tài khoản ngân hàng của nạn nhân có phải phi pháp hay không và liên tục đe dọa, trấn áp tinh thần của nạn nhân và cuối cùng, chúng yêu cầu nạn nhân phải chuyển tiền vào tài khoản của các cơ quan bảo vệ pháp luật hoặc cơ quan tài chính nhà nước để giám định kiểm tra.

[2]. Nhà đầu tư bị dụ dỗ đầu tư vào những kế hoạch lừa đảo với những lời hứa sau khi đầu tư sẽ nhận được lợi nhuận rất cao. Tuy nhiên, thực chất không có sự đầu tư nào được gọi là công ty đầu tư, mà chính là những nhà đầu tư trước sẽ nhận được lợi nhuận từ tiền của những nhà đầu tư sau.

[3]. Nguyễn Phi Hùng, Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Bộ luật Hình sự năm 2015, bất cập và kiến nghị hoàn thiện,https://lsvn.vn/toi-lua-dao-chiem-doat-tai-san-trong-bo-luat-hinh-su-2015-bat-cap-kien-nghi-hoan-hien1666634892.html.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: