Thứ ba 14/07/2026 17:47
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật đối với tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên môi trường không gian mạng

Hoàn thiện pháp luật đối với tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên môi trường không gian mạng

Tóm tắt: Bài viết này bàn luận một số điểm còn hạn chế của pháp luật trong quá trình phòng, chống tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên môi trường không gian mạng, từ đó, đưa ra một số kiến nghị, đề xuất đối với việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam nhằm phòng, chống hiệu quả loại tội phạm này.

Abstract: This article discusses some limitations of the law in the process of preventing and combating fraudulent criminals appropriating property in the cyberspace environment, thereby, making a number of recommendations and proposals for the improving Vietnamese laws in order to effectively prevent and combat this type of crime.

1. Dẫn nhập

Trong những năm gần, đây tỉ lệ tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản gia tăng, đặc biệt là chủ thể thực hiện là người nước ngoài với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt. Nhiều tài sản có giá trị lớn đã bị chiếm đoạt do sự hám lợi hoặc nhẹ dạ cả tin của nạn nhân để thực hiện hành vi lừa đảo. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được trong quá trình đấu tranh phòng, chống tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên môi trường không gian mạng, thực tiễn còn phát sinh một số bất cập trong quy định của pháp luật gây khó khăn cho các lực lượng chức năng, vì vậy, yêu cầu đặt ra là cần phải hoàn thiện pháp luật nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trong quá trình phòng, chống loại tội phạm này.

2. Quy định của pháp luật có liên quan về tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên môi trường không gian mạng và một số bất cập

Tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong số những tội phạm phổ biến trong nhóm tội xâm phạm đến quyền sở hữu đã được quy định cụ thể tại Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đây là tội phạm có tính chất chiếm đoạt được thực hiện bởi hành vi gian dối nhưng phải thỏa mãn các yếu tố cấu thành vật chất của tội phạm là giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng; nếu dưới 2.000.000 đồng thì phải có các điều kiện như: Đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt, đã bị kết án về các tội có hành vi chiếm đoạt chưa xóa án tích mà còn vi phạm; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại. Hành vi khách quan bao gồm: Hành vi lừa dối (đưa ra các thông tin sai sự thật nhằm để nạn nhân tin đó là thật) và hành vi chiếm đoạt. Hai hành vi này đòi hỏi phải có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Hành vi lừa dối là điều kiện để hành vi chiếm đoạt có thể xảy ra, còn hành vi chiếm đoạt là mục đích và là kết quả của hành vi lừa dối. Đồng thời, tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản được xem là hoàn thành tại thời điểm người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản.

Trong thực tiễn phòng ngừa, đấu tranh đối với tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện đều thể hiện bằng hành vi gian dối ra bên ngoài của mặt khách quan của tội phạm nhưng với phương thức thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hơn như: Lừa đảo thông qua hình thức vishing[1]; lừa đảo thông qua mô hình kinh doanh đa cấp - đa cấp tiền ảo[2]… Đặc điểm nổi bật của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là thủ đoạn gian dối của người phạm tội. Cũng chính vì vậy mà có những trường hợp thực tế, các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã tuyệt đối hóa thủ đoạn gian dối của hành vi lừa đảo, chỉ tập trung chứng minh người phạm tội có thủ đoạn gian dối đã vội xác định đó là lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng không chú ý đến ý định chiếm đoạt dẫn đến sai lầm trong quá trình định tội danh. Bởi lẽ, nếu chỉ có thủ đoạn gian dối nhưng không có ý định chiếm đoạt thì không phải là lừa đảo, mà tùy từng trường hợp cụ thể có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội sử dụng trái phép tài sản hoặc chỉ là quan hệ dân sự, kinh tế... Trong khi đó, người nước ngoài khi họ thực hiện hành vi lừa đảo đa phần sử dụng qua các phương thức giao tiếp trên mạng xã hội như: Facebook, Zalo, webchat… thì rất khó có thể chứng minh ý thức của thủ đoạn gian dối ngay từ thời điểm này. Bởi vì, các cuộc trò chuyện và mọi thông tin có thể tự xóa ngay sau khi cuộc trao đổi kết thúc. Như vậy, trong thực tế để ngăn chặn sớm hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là cực kỳ khó khăn bởi vì quy định của pháp luật đòi hỏi phải có hậu quả xảy ra (hành vi chiếm đoạt phải thực hiện thành công). Ngoài ra, trong quy định của Bộ luật Hình sự còn rất nhiều tội danh lấy dấu hiệu hành vi gian dối, hành vi chiếm đoạt như: Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tội lừa dối khách hàng… dẫn đến sự nhầm lẫn hoặc khó nhận định tội danh nhưng cho đến nay chưa có hướng dẫn cụ thể nên rất dễ gây nhầm lẫn giữa trường hợp phạm tội lừa dối chiếm đoạt tài sản với trường hợp phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; giữa tranh chấp dân sự với trường hợp phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ngoài ra, theo khoa học pháp lý hình sự, để phân biệt các tội danh thì các cơ quan chức năng cần chứng minh ý thức của người thực hiện hành vi. Ý thức có trước khi thực hiện hành vi gian dối đó là lừa đảo, còn ý thức có sau thì tùy tình hình thực tế mà định các tội danh tương ứng. Nhưng thực tiễn việc chứng minh ý thức có trước của người nước ngoài trước khi thực hiện hành vi gian dối là cực kỳ khó khăn, nên trong thực tế có một số cơ quan tiến hành tố tụng đã gặp lúng túng trong quá trình đề nghị xử lý.

Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), pháp nhân thương mại đã được các nhà làm luật nghiên cứu, bổ sung là chủ thể của tội phạm. Đây là một sự thay đổi tích cực, phù hợp với luật pháp quốc tế và tình hình kinh tế, xã hội ở nước ta. Tuy nhiên, hiện nay, pháp nhân thương mại chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thực hiện hành vi phạm tội được liệt kê tại Điều 76 nhưng đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không được liệt kê trong số các tội đó[3]. Trong khi đó, hiện nay, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế bên cạnh những mặt tích cực thì chúng ta phải đối mặt với mặt trái của nền kinh tế thị trường, ngày càng có nhiều thành phần kinh tế nước ngoài du nhập vào nước ta khiến cho việc kiểm soát trở nên khó khăn, ngoài ra còn có rất nhiều pháp nhân thương mại do người nước ngoài thành lập không nhằm mục đích kinh doanh mà nhằm mục đích lợi dụng danh nghĩa kinh doanh để lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng các pháp nhân thương mại này lại không bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thực hiện hành vi phạm tội mà chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính thì rõ ràng hiệu quả hoạt động phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản là chưa cao và chưa đủ sức răn đe đối với các đối tượng là người nước ngoài.

Việc thu hồi tài sản bị chiếm đoạt và khắc phục hậu quả do tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện trong thời gian qua gặp rất nhiều khó khăn. Biện pháp phong tỏa tài khoản được quy định tại Điều 129 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có thể được xem như là một giải pháp để giải quyết vấn đề trên. Tuy nhiên, không thể áp dụng biện pháp này ngay từ lúc đầu phát hiện hành vi, do quy định của pháp luật về điều kiện áp dụng: Biện pháp này chỉ được áp dụng khi cơ quan tiến hành tố tụng đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và áp dụng đối với người bị buộc tội về tội mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tiền, bị tịch thu tài sản hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại khi có căn cứ xác định người đó có tài khoản tại các tổ chức tín dụng. Thực tiễn sau khi chiếm đoạt được tài sản (đặt biệt là thông qua hệ thống chuyển khoản của ngân hàng), số tiền này sẽ được chuyển cho nhiều ngân hàng khác nhau và trên những địa bàn khác nhau cho các cá nhân khác nhau để gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng khi truy dấu vết. Do đó, nếu chưa khởi tố vụ án, khởi tố bị can thì cơ quan tiến hành tố tụng không thể áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản (như là một biện pháp khẩn cấp tạm thời) để thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, còn nếu áp dụng sẽ dẫn đến vi phạm pháp luật.

Ngoài ra, theo Điều 26 Luật An ninh mạng có nội dung doanh nghiệp trong và ngoài nước có hoạt động thu thập, khai thác, phân tích, xử lý dữ liệu về thông tin cá nhân, dữ liệu về mối quan hệ của người sử dụng dịch vụ, dữ liệu do người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam tạo ra phải lưu trữ dữ liệu này tại Việt Nam trong thời gian theo quy định của Chính phủ. Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy cả hai “ông lớn” Google và Facebook đều sẽ phải dịch chuyển đám mây điện toán về và đặt Datacenter tại Việt Nam, nơi đang lưu trữ các dữ liệu của cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam khi Luật An ninh mạng chính thức có hiệu lực. Nhưng cho đến nay, các dữ liệu này vẫn đang được lưu trữ tại Datacenter Hồng Kông và Singapore đã gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng khi yêu cầu truy vết để xác định nội dung thông tin trao đổi giữa các đối tượng là người nước ngoài và nạn nhân.

3. Một số kiến nghị nhằm phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả đối với tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên môi trường không gian mạng

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Nhà nước đã chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và tiến hành đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại và đặc biệt từ khi nước ta trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) thì tình hình người nước ngoài vào Việt Nam ngày càng tăng, với nhiều mục đích khác nhau như: Đầu tư, kinh doanh, tìm kiếm cơ hội làm ăn, học tập, du lịch, thăm thân, lao động ngắn hạn... Chính vấn đề này đã đặt ra cho lực lượng Công an nhân dân nhiệm vụ phòng ngừa, đấu tranh đối với tội phạm nói chung và tội phạm do người nước ngoài thực hiện nói riêng, trong đó có tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài tổ chức thực hiện. Để chủ động phòng ngừa, đấu tranh đối với tội phạm này, pháp luật Việt Nam cần có những điều chỉnh cụ thể để hoàn thiện nhằm tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các cơ quan tiến hành tố tụng, thông qua một số vấn đề sau:

Thứ nhất, cần phải có văn bản hướng dẫn cụ thể nhằm làm rõ hơn dấu hiệu định tội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản để tránh nhầm lẫn với các tranh chấp giao dịch dân sự hoặc nhầm lẫn giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với các tội phạm khác cùng sử dụng thủ đoạn gian dối để phạm tội trong Bộ luật Hình sự về mục đích của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo hướng:

(i) Xác định mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm cơ bản của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, theo đó, khi định tội cần xem xét người phạm tội có mục đích chiếm đoạt hay không và thời điểm người phạm tội nảy sinh mục đích chiếm đoạt tài sản trên cơ sở đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

(ii) Trường hợp một người có hành vi gian dối trong việc xác lập các giao dịch dân sự nhưng không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản thì không phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà coi là vụ án tranh chấp về dân sự, nếu người phạm tội có thiện chí thực hiện các nghĩa vụ dân sự của mình; trường hợp người phạm tội có mục đích chiếm đoạt tài sản trước hoặc trong khi thực hiện hành vi lừa dối chiếm đoạt tài sản thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

(iii) Đối với tình trạng nhầm lẫn giữa trường hợp phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với một số trường hợp phạm tội khác cùng sử dụng thủ đoạn gian dối để phạm tội do đánh giá không đúng về mối liên hệ giữa hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt tài sản của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cần hướng dẫn về hành vi khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo hướng: Hành vi khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản gồm hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt tài sản. Giữa hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt tài sản có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Hành vi lừa dối là điều kiện để hành vi chiếm đoạt có thể xảy ra, còn hành vi chiếm đoạt phải là kết quả của hành vi lừa dối.

Thứ hai, nghiên cứu, bổ sung pháp nhân thương mại là chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Điều 76 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh sắp tới khi mà Việt Nam đã và đang tham gia vào các hoạt động kinh tế quốc tế. Quá trình hội nhập quốc tế bên cạnh những mặt tích cực nhưng cũng phát sinh những hạn chế đó là việc kiểm soát trở nên khó khăn, rất nhiều pháp nhân thương mại thành lập (có sự cấu kết giữa người nước ngoài và người Việt Nam) không nhằm mục đích kinh doanh mà thành lập nhằm mục đích lợi dụng danh nghĩa kinh doanh để lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Do đó, rất nhiều khả năng trong thời gian tới, hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện sẽ tiếp tục gia tăng trong tương lai.

Thứ ba, hoàn thiện quy định của pháp luật để khắc phục tình trạng không thể thu hồi tài sản bị chiếm đoạt. Do đó, pháp luật hình sự cần có những sửa đổi, bổ sung để việc thu hồi tài sản bị chiếm đoạt có hiệu quả hơn. Cụ thể, cần bổ sung các quy định: Nếu có dấu hiệu tẩu tán tài sản của người phạm tội thì người phạm tội và người thân của họ hoặc những người có liên quan có trách nhiệm chứng minh nguồn gốc tài sản. Nếu không thể chứng minh được nguồn gốc thì các cơ quan tiến hành tố tụng được phép phong tỏa hoặc tạm thời thu hồi toàn bộ hoặc một phần tài sản, khắc phục hậu quả để giảm nhẹ hình phạt.

Thứ tư, các cơ quan chức năng cần có giải pháp cụ thể đối với các tổ chức nước ngoài về việc thực hiện đúng theo quy định Luật An ninh mạng của Việt Nam. Di chuyển toàn bộ cơ sở dữ liệu về Việt Nam để thuận tiện trong việc quản lý trên môi trường không gian mạng cũng như phục vụ quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ để đấu tranh với tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện.

Trịnh Duy Thuyên

Phạm Anh Thư

Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

[1]. Đối tượng phần lớn là người nước ngoài, thường là những ổ nhóm người Việt Nam, câu kết với một số đối tượng người Trung Quốc, Malaysia, khi nhập cảnh vào Việt Nam thường chọn địa bàn là Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh, thành phố lớn thuê nhà, thuê đường truyền Internet tốc độ cao, bằng công cụ kỹ thuật chuyển cuộc gọi, các đối tượng thực hiện việc gọi điện đến các thuê bao cố định hoặc di động, giả danh cơ quan công an hoặc nhân viên tổng đài chăm sóc khách hàng. Sau khi lấy được lòng tin của người dân, các đối tượng tiếp tục giả danh là người đại diện của các cơ quan bảo vệ pháp luật như Công an, Viện kiểm sát muốn kiểm tra xem số dư tài khoản ngân hàng của nạn nhân có phải phi pháp hay không và liên tục đe dọa, trấn áp tinh thần của nạn nhân và cuối cùng, chúng yêu cầu nạn nhân phải chuyển tiền vào tài khoản của các cơ quan bảo vệ pháp luật hoặc cơ quan tài chính nhà nước để giám định kiểm tra.

[2]. Nhà đầu tư bị dụ dỗ đầu tư vào những kế hoạch lừa đảo với những lời hứa sau khi đầu tư sẽ nhận được lợi nhuận rất cao. Tuy nhiên, thực chất không có sự đầu tư nào được gọi là công ty đầu tư, mà chính là những nhà đầu tư trước sẽ nhận được lợi nhuận từ tiền của những nhà đầu tư sau.

[3]. Nguyễn Phi Hùng, Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Bộ luật Hình sự năm 2015, bất cập và kiến nghị hoàn thiện,https://lsvn.vn/toi-lua-dao-chiem-doat-tai-san-trong-bo-luat-hinh-su-2015-bat-cap-kien-nghi-hoan-hien1666634892.html.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: