Thứ tư 15/04/2026 09:30
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm tiền gửi

Bài viết phân tích một số quy định của Luật Bảo hiểm tiền gửi hiện hành, từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật về bảo hiểm tiền gửi.

Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 18/6/2012, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2013. Luật quy định các nội dung về hoạt động bảo hiểm tiền gửi (BHTG) ở Việt Nam, xác định rõ vị trí, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức BHTG, quyền và nghĩa vụ của tổ chức tham gia BHTG, người được BHTG, quy định cụ thể về tiền gửi được bảo hiểm, thời điểm chi trả bảo hiểm... qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động BHTG, bảo vệ quyền lợi người gửi tiền, góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) và bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh hoạt động ngân hàng.

Quá trình thực hiện Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012 cho thấy, một số quy định của pháp luật về BHTG chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu đối với việc hoàn thiện chế độ, chính sách về BHTG trong điều kiện mới và trong quá trình hội nhập.

Thứ nhất, về phí BHTG:

Khoản 1, 2 Điều 20 Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012 quy định: “1. Thủ tướng Chính phủ quy định khung phí bảo hiểm tiền gửi theo đề nghị của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. 2. Căn cứ vào khung phí bảo hiểm tiền gửi, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định mức phí bảo hiểm tiền gửi cụ thể đối với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi trên cơ sở kết quả đánh giá và phân loại các tổ chức này”.

Việc phân biệt mức phí bảo hiểm giữa các TCTD là phù hợp với xu thế phát triển cạnh tranh, tạo sự công bằng cho các tổ chức tham gia BHTG, khuyến khích các tổ chức tham gia BHTG có hoạt động tốt sẽ được hưởng mức phí BHTG thấp hơn và ngược lại.

Theo thông lệ quốc tế và hướng dẫn của Hiệp hội Bảo hiểm Tiền gửi Quốc tế (IADI)[1], một trong những điều kiện cần và đủ là phải đánh giá, phân loại tổ chức tham gia BHTG làm cơ sở để đưa ra mức phí thu tùy thuộc vào mức độ rủi ro và được áp dụng với tất cả các tổ chức tham gia BHTG, theo đó, các tổ chức tham gia BHTG có rủi ro càng lớn sẽ phải nộp phí BHTG càng cao và ngược lại.

Hiện nay, Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012 quy định BHTG là loại hình bảo hiểm bắt buộc, theo đó TCTD (trừ ngân hàng chính sách), chi nhánh ngân hàng nước ngoài nhận tiền gửi của cá nhân phải tham gia BHTG và Việt Nam đang áp dụng mức phí đồng hạng 0,15%/năm tính trên số dư tiền gửi bình quân của các cá nhân tại tổ chức tham gia BHTG[2]. Việc áp dụng mức phí đồng hạng đã giúp tổ chức BHTG ổn định về nguồn thu phí, quỹ dự phòng nghiệp vụ tăng trưởng hàng năm tạo nguồn cho tổ chức BHTG thực hiện chính sách chi trả bảo hiểm đối với người được BHTG.

Qua nghiên cứu cho thấy, việc áp dụng mức phí phân biệt tại Việt Nam có những khó khăn do hệ thống các TCTD Việt Nam vẫn đang trong quá trình cơ cấu lại, gắn với trọng tâm là xử lý căn bản, triệt để nợ xấu và các TCTD yếu kém. Việc áp dụng phí BHTG phân biệt sẽ làm tăng gánh nặng tài chính đối với các tổ chức tham gia BHTG, đặc biệt là những TCTD có độ rủi ro cao, gia tăng khó khăn cho quá trình tái cơ cấu và xử lý nợ xấu của các tổ chức này. Hiện nay, theo quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2024), các TCTD được kiểm soát đặc biệt được miễn nộp phí BHTG.

Do vậy, để triển khai việc áp dụng mức phí phân biệt cần có sự đánh giá thận trọng, hoàn thiện quy định về đánh giá, phân loại tổ chức tham gia BHTG và lộ trình áp dụng để tránh những ảnh hưởng tiêu cực tới hệ thống các TCTD, niềm tin của công chúng.

Thứ hai, về hạn mức trả tiền bảo hiểm:

Hạn mức trả tiền bảo hiểm là số tiền tối đa mà tổ chức BHTG trả cho tất cả các khoản tiền gửi được bảo hiểm của một người tại một tổ chức tham gia BHTG khi phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm. Hạn mức BHTG được xác định phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội của từng quốc gia và phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như thu nhập quốc nội (GDP) bình quân đầu người; tỷ lệ người gửi tiền được bảo vệ trên tổng số người gửi tiền và quy mô quỹ BHTG. Về nguyên tắc, chính sách BHTG hướng tới bảo vệ những người gửi tiền nhỏ nhưng chiếm số đông, góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống các TCTD, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hoạt động ngân hàng.

Theo Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012 Thủ tướng Chính phủ quy định hạn mức trả tiền bảo hiểm theo đề nghị của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong từng thời kỳ (khoản 2 Điều 24). Việc không quy định hạn mức trả tiền cụ thể tại Luật bảo đảm việc điều chỉnh linh hoạt hạn mức này phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, mức sống của người dân trong từng thời kỳ, qua đó bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền. Cụ thể, hạn mức trả tiền bảo hiểm được áp dụng ở mức 30 triệu đồng (từ năm 1999 đến tháng 8/2005); mức 50 triệu đồng (từ tháng 9/2005 đến tháng 04/8/2017); mức 75 triệu đồng (từ 05/8/2017 đến 11/12/2021); mức 125 triệu đồng áp dụng từ ngày 12/12/2021 cho đến nay.

Tuy nhiên, Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012 chưa có quy định dự phòng cho trường hợp xảy ra khủng hoảng tài chính hay khi có nguy cơ rút tiền hàng loạt tại các TCTD. Theo khuyến nghị của IADI, pháp luật các nước phải dự liệu cho trường hợp ngoại lệ như khi xảy ra khủng hoảng tài chính và cho phép tăng hạn mức trả tiền bảo hiểm hoặc có thể áp dụng bảo hiểm toàn bộ tiền gửi (không có hạn mức BHTG) để kịp thời đối phó với cuộc khủng hoảng, rút tiền hàng loạt bảo đảm an toàn hệ thống TCTD.

Khoản 2 Điều 188 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 quy định, Thủ tướng Chính phủ quyết định hạn mức chi trả BHTG cho người gửi tiền, tối đa bằng số tiền gửi của cá nhân được bảo hiểm tại TCTD. Do vậy, việc sửa đổi điều khoản này tại Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012 là cần thiết để bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người gửi tiền.

Bên cạnh đó, trường hợp nguồn vốn của tổ chức BHTG tạm thời không đủ để trả tiền bảo hiểm cũng cần được nghiên cứu, chỉnh sửa vì Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012 chỉ quy định tổ chức BHTG tiếp nhận hỗ trợ theo nguyên tắc có hoàn trả từ ngân sách nhà nước theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ hoặc vay của tổ chức tín dụng, tổ chức khác có bảo lãnh của Chính phủ trong trường hợp nguồn vốn của tổ chức BHTG tạm thời không đủ để trả tiền bảo hiểm (khoản 12 Điều 13). Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012 cũng như các văn bản quy phạm pháp luật liên quan chưa có quy định cụ thể về trình tự triển khai quy định này.

Theo kinh nghiệm quốc tế, khi tổ chức BHTG không đủ nguồn lực để trả tiền bảo hiểm thì có thể thực hiện tiếp nhận vốn khẩn cấp từ khu vực tư nhân; Bộ Tài chính hoặc Ngân hàng Trung ương, trong đó việc tiếp nhận vốn khẩn cấp từ Ngân hàng Trung ương được nhiều quốc gia áp dụng.

Khoản 2 Điều 190 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 quy định, Ngân hàng Nhà nước cho tổ chức BHTG vay đặc biệt trong trường hợp số tiền trong quỹ dự phòng nghiệp vụ của tổ chức BHTG không đủ chi trả người gửi tiền theo phương án phá sản đã được phê duyệt.

Thứ ba, về thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm:

Chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền khi phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm là nhiệm vụ quan trọng của bất kỳ tổ chức BHTG nào trên thế giới, thể hiện vai trò của tổ chức BHTG trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, góp phần bảo đảm hoạt động an toàn, lành mạnh của hệ thống TCTD. Việc xác định thời điểm chi trả phù hợp thể hiện sự cam kết của Nhà nước đối với người gửi tiền trong việc bảo đảm chi trả ngay lập tức khoản tiền được bảo hiểm trong hạn mức trả tiền bảo hiểm hoặc chi trả tối đa tiền gửi cho người gửi tiền khi tổ chức tham gia BHTG phá sản nhằm củng cố niềm tin của công chúng đối với hệ thống TCTD. Thời điểm chi trả BHTG cần quy định sớm để kịp thời ổn định tâm lý của người gửi tiền, bảo đảm an ninh trật tự xã hội, tránh được phản ứng dây chuyền góp phần bảo đảm sự an toàn của hệ thống các TCTD.

Điều 22 Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012 quy định, nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm phát sinh kể từ thời điểm Ngân hàng Nhà nước có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản chấm dứt áp dụng hoặc văn bản không áp dụng các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán mà tổ chức tham gia BHTG vẫn lâm vào trình trạng phá sản hoặc khi Ngân hàng Nhà nước có văn bản xác định tổ chức tham gia BHTG là chi nhánh ngân hàng nước ngoài mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền.

Việc quy định nhiều thời điểm không thống nhất như pháp luật hiện hành dẫn đến khó khăn cho tổ chức BHTG khi xác định thời điểm chi trả cũng như việc chi trả chưa bảo đảm kịp thời.

Theo khuyến nghị của IADI, hệ thống BHTG phải bảo đảm đề người gửi tiền tiếp cận nhanh chóng tiền gửi được bảo hiểm của họ, tổ chức BHTG cần được thông báo trước và đầy đủ về các tình huống có thể dẫn đến việc phải tiến hành chi trả BHTG và được quyền tiếp cận trước các thông tin về người gửi tiền.

Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 quy định, sau khi phương án phá sản đã được phê duyệt, tổ chức BHTG có trách nhiệm phối hợp với TCTD được kiểm soát đặc biệt chi trả BHTG cho người gửi tiền theo phương án phá sản.

Do vậy, để bảo đảm sự thống nhất trong các quy định của pháp luật, cần phải nghiên cứu sửa đổi thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm nhằm bảo đảm ổn định tâm lý người gửi tiền, tránh phản ứng dây chuyền trong bộ phận người dân có tiền gửi, bảo vệ được quyền và lợi ích của người gửi tiền, góp phần giữ an toàn và trật tự xã hội.

Thứ tư, hoàn thiện quy định pháp luật để BHTG tham gia vào quá trình tái cơ cấu TCTD được kiểm soát đặc biệt:

Trên thế giới, một số tổ chức BHTG tham gia vào quá trình xử lý ngân hàng yếu kém thông qua hoạt động cho vay đối với tổ chức tài chính thực hiện việc sáp nhập với ngân hàng bị phá sản (Nhật Bản), “chia sẻ tổn thất” với các ngân hàng thực hiện mua lại (Hoa Kỳ)… Điều này có nghĩa là, quỹ dự phòng BHTG không chỉ để sử dụng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền khi phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm mà còn hỗ trợ tài chính đối với tổ chức tín dụng trong trường hợp cần thiết.

Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012 chỉ quy định tổ chức BHTG tham gia vào quá trình kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tham gia BHTG theo quy định của NHNN; tham gia quản lý, thanh lý tài sản của tổ chức tham gia BHTG theo quy định của Chính phủ (khoản 13 Điều 13).

Kế thừa quy định của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 quy định tổ chức BHTG tham gia vào quá trình xử lý TCTD được kiểm soát đặc biệt như cho vay đặc biệt, mua trái phiếu dài hạn do TCTD nhận chuyển giao bắt buộc phát hành hay phối hợp với Ban kiểm soát đặc biệt đánh giá tính khả thi của phương án phục hồi quỹ tín dụng nhân dân; phối hợp tham gia xây dựng phương án phá sản TCTD được kiểm soát đặc biệt.

Do đó, để nâng cao vai trò của tổ chức BHTG và BHTG tham gia từ sớm, từ xa, việc quy định cụ thể cơ chế hỗ trợ tài chính của tổ chức BHTG đối với tổ chức tham gia BHTG trong các trường hợp được quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 về lãi suất cho vay, tài sản bảo đảm, việc xử lý tài sản bảo đảm, cơ chế thu hồi khoản cho vay đặc biệt, tỷ lệ nguồn vốn của tổ chức BHTG được mua trái phiếu do TCTD nhận chuyển giao phát hành… là rất cần thiết. Bên cạnh đó, Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012 cũng cần có các quy định cụ thể để tổ chức BHTG thực hiệt tốt chức năng kiểm tra, giám sát đối với tổ chức tham gia BHTG, sự phối hợp giữa Ngân hàng Nhà nước và tổ chức BHTG trong phát hiện sớm và can thiệp kịp thời đối với tổ chức tham gia BHTG để có các biện pháp ứng xử kịp thời, phù hợp.

BHTG Việt Nam có nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, góp phần bảo vệ và duy trì sự ổn định của hệ thống TCTD, do vậy việc hoàn thiện pháp luật về BHTG ở Việt Nam trong mối quan hệ tổng thể với hoàn thiện pháp luật về ngân hàng là một nhu cầu tất yếu khách quan, bảo đảm cho pháp luật BHTG phù hợp với bối cảnh kinh tế mới trong nước và quốc tế, hướng pháp luật BHTG dần đến các chuẩn mực chung của quốc tế, đồng thời khắc phục những thiếu sót, bất cập của pháp luật BHTG hiện hành./.

Nguyễn Diệu Linh

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

[1]. Ngày 06/5/2002, Hiệp hội Bảo hiểm tiền gửi Quốc tế (IADI) được thành lập có trụ sở đặt tại Thụy Sỹ. Tính đến tháng 12/2021, IADI đã có 95 tổ chức thành viên, và 17 đối tác, nguồn: vnba.org.vn/vi/iadi-co-them-2-to-chuc-thanh-vien-va-1-doi-tac-chinh-thuc-3809.htm, truy cập ngày 25/02/2024.

[2]. Xem: Khoản 3 Điều 21 Nghị định 68/2013/NĐ-CP ngày 28/6/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Bảo hiểm tiền gửi; khoản 1 Điều 6 Nghị định 89/1999/NĐ-CP ngày 01/09/1999 của Chính phủ về bảo hiểm tiền gửi.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 401), tháng 3/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: