Thứ hai 27/07/2026 03:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm tiền gửi

Bài viết phân tích một số quy định của Luật Bảo hiểm tiền gửi hiện hành, từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật về bảo hiểm tiền gửi.

Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 18/6/2012, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2013. Luật quy định các nội dung về hoạt động bảo hiểm tiền gửi (BHTG) ở Việt Nam, xác định rõ vị trí, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức BHTG, quyền và nghĩa vụ của tổ chức tham gia BHTG, người được BHTG, quy định cụ thể về tiền gửi được bảo hiểm, thời điểm chi trả bảo hiểm... qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động BHTG, bảo vệ quyền lợi người gửi tiền, góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) và bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh hoạt động ngân hàng.

Quá trình thực hiện Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012 cho thấy, một số quy định của pháp luật về BHTG chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu đối với việc hoàn thiện chế độ, chính sách về BHTG trong điều kiện mới và trong quá trình hội nhập.

Thứ nhất, về phí BHTG:

Khoản 1, 2 Điều 20 Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012 quy định: “1. Thủ tướng Chính phủ quy định khung phí bảo hiểm tiền gửi theo đề nghị của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. 2. Căn cứ vào khung phí bảo hiểm tiền gửi, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định mức phí bảo hiểm tiền gửi cụ thể đối với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi trên cơ sở kết quả đánh giá và phân loại các tổ chức này”.

Việc phân biệt mức phí bảo hiểm giữa các TCTD là phù hợp với xu thế phát triển cạnh tranh, tạo sự công bằng cho các tổ chức tham gia BHTG, khuyến khích các tổ chức tham gia BHTG có hoạt động tốt sẽ được hưởng mức phí BHTG thấp hơn và ngược lại.

Theo thông lệ quốc tế và hướng dẫn của Hiệp hội Bảo hiểm Tiền gửi Quốc tế (IADI)[1], một trong những điều kiện cần và đủ là phải đánh giá, phân loại tổ chức tham gia BHTG làm cơ sở để đưa ra mức phí thu tùy thuộc vào mức độ rủi ro và được áp dụng với tất cả các tổ chức tham gia BHTG, theo đó, các tổ chức tham gia BHTG có rủi ro càng lớn sẽ phải nộp phí BHTG càng cao và ngược lại.

Hiện nay, Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012 quy định BHTG là loại hình bảo hiểm bắt buộc, theo đó TCTD (trừ ngân hàng chính sách), chi nhánh ngân hàng nước ngoài nhận tiền gửi của cá nhân phải tham gia BHTG và Việt Nam đang áp dụng mức phí đồng hạng 0,15%/năm tính trên số dư tiền gửi bình quân của các cá nhân tại tổ chức tham gia BHTG[2]. Việc áp dụng mức phí đồng hạng đã giúp tổ chức BHTG ổn định về nguồn thu phí, quỹ dự phòng nghiệp vụ tăng trưởng hàng năm tạo nguồn cho tổ chức BHTG thực hiện chính sách chi trả bảo hiểm đối với người được BHTG.

Qua nghiên cứu cho thấy, việc áp dụng mức phí phân biệt tại Việt Nam có những khó khăn do hệ thống các TCTD Việt Nam vẫn đang trong quá trình cơ cấu lại, gắn với trọng tâm là xử lý căn bản, triệt để nợ xấu và các TCTD yếu kém. Việc áp dụng phí BHTG phân biệt sẽ làm tăng gánh nặng tài chính đối với các tổ chức tham gia BHTG, đặc biệt là những TCTD có độ rủi ro cao, gia tăng khó khăn cho quá trình tái cơ cấu và xử lý nợ xấu của các tổ chức này. Hiện nay, theo quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2024), các TCTD được kiểm soát đặc biệt được miễn nộp phí BHTG.

Do vậy, để triển khai việc áp dụng mức phí phân biệt cần có sự đánh giá thận trọng, hoàn thiện quy định về đánh giá, phân loại tổ chức tham gia BHTG và lộ trình áp dụng để tránh những ảnh hưởng tiêu cực tới hệ thống các TCTD, niềm tin của công chúng.

Thứ hai, về hạn mức trả tiền bảo hiểm:

Hạn mức trả tiền bảo hiểm là số tiền tối đa mà tổ chức BHTG trả cho tất cả các khoản tiền gửi được bảo hiểm của một người tại một tổ chức tham gia BHTG khi phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm. Hạn mức BHTG được xác định phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội của từng quốc gia và phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như thu nhập quốc nội (GDP) bình quân đầu người; tỷ lệ người gửi tiền được bảo vệ trên tổng số người gửi tiền và quy mô quỹ BHTG. Về nguyên tắc, chính sách BHTG hướng tới bảo vệ những người gửi tiền nhỏ nhưng chiếm số đông, góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống các TCTD, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hoạt động ngân hàng.

Theo Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012 Thủ tướng Chính phủ quy định hạn mức trả tiền bảo hiểm theo đề nghị của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong từng thời kỳ (khoản 2 Điều 24). Việc không quy định hạn mức trả tiền cụ thể tại Luật bảo đảm việc điều chỉnh linh hoạt hạn mức này phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, mức sống của người dân trong từng thời kỳ, qua đó bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền. Cụ thể, hạn mức trả tiền bảo hiểm được áp dụng ở mức 30 triệu đồng (từ năm 1999 đến tháng 8/2005); mức 50 triệu đồng (từ tháng 9/2005 đến tháng 04/8/2017); mức 75 triệu đồng (từ 05/8/2017 đến 11/12/2021); mức 125 triệu đồng áp dụng từ ngày 12/12/2021 cho đến nay.

Tuy nhiên, Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012 chưa có quy định dự phòng cho trường hợp xảy ra khủng hoảng tài chính hay khi có nguy cơ rút tiền hàng loạt tại các TCTD. Theo khuyến nghị của IADI, pháp luật các nước phải dự liệu cho trường hợp ngoại lệ như khi xảy ra khủng hoảng tài chính và cho phép tăng hạn mức trả tiền bảo hiểm hoặc có thể áp dụng bảo hiểm toàn bộ tiền gửi (không có hạn mức BHTG) để kịp thời đối phó với cuộc khủng hoảng, rút tiền hàng loạt bảo đảm an toàn hệ thống TCTD.

Khoản 2 Điều 188 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 quy định, Thủ tướng Chính phủ quyết định hạn mức chi trả BHTG cho người gửi tiền, tối đa bằng số tiền gửi của cá nhân được bảo hiểm tại TCTD. Do vậy, việc sửa đổi điều khoản này tại Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012 là cần thiết để bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người gửi tiền.

Bên cạnh đó, trường hợp nguồn vốn của tổ chức BHTG tạm thời không đủ để trả tiền bảo hiểm cũng cần được nghiên cứu, chỉnh sửa vì Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012 chỉ quy định tổ chức BHTG tiếp nhận hỗ trợ theo nguyên tắc có hoàn trả từ ngân sách nhà nước theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ hoặc vay của tổ chức tín dụng, tổ chức khác có bảo lãnh của Chính phủ trong trường hợp nguồn vốn của tổ chức BHTG tạm thời không đủ để trả tiền bảo hiểm (khoản 12 Điều 13). Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012 cũng như các văn bản quy phạm pháp luật liên quan chưa có quy định cụ thể về trình tự triển khai quy định này.

Theo kinh nghiệm quốc tế, khi tổ chức BHTG không đủ nguồn lực để trả tiền bảo hiểm thì có thể thực hiện tiếp nhận vốn khẩn cấp từ khu vực tư nhân; Bộ Tài chính hoặc Ngân hàng Trung ương, trong đó việc tiếp nhận vốn khẩn cấp từ Ngân hàng Trung ương được nhiều quốc gia áp dụng.

Khoản 2 Điều 190 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 quy định, Ngân hàng Nhà nước cho tổ chức BHTG vay đặc biệt trong trường hợp số tiền trong quỹ dự phòng nghiệp vụ của tổ chức BHTG không đủ chi trả người gửi tiền theo phương án phá sản đã được phê duyệt.

Thứ ba, về thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm:

Chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền khi phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm là nhiệm vụ quan trọng của bất kỳ tổ chức BHTG nào trên thế giới, thể hiện vai trò của tổ chức BHTG trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, góp phần bảo đảm hoạt động an toàn, lành mạnh của hệ thống TCTD. Việc xác định thời điểm chi trả phù hợp thể hiện sự cam kết của Nhà nước đối với người gửi tiền trong việc bảo đảm chi trả ngay lập tức khoản tiền được bảo hiểm trong hạn mức trả tiền bảo hiểm hoặc chi trả tối đa tiền gửi cho người gửi tiền khi tổ chức tham gia BHTG phá sản nhằm củng cố niềm tin của công chúng đối với hệ thống TCTD. Thời điểm chi trả BHTG cần quy định sớm để kịp thời ổn định tâm lý của người gửi tiền, bảo đảm an ninh trật tự xã hội, tránh được phản ứng dây chuyền góp phần bảo đảm sự an toàn của hệ thống các TCTD.

Điều 22 Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012 quy định, nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm phát sinh kể từ thời điểm Ngân hàng Nhà nước có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản chấm dứt áp dụng hoặc văn bản không áp dụng các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán mà tổ chức tham gia BHTG vẫn lâm vào trình trạng phá sản hoặc khi Ngân hàng Nhà nước có văn bản xác định tổ chức tham gia BHTG là chi nhánh ngân hàng nước ngoài mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền.

Việc quy định nhiều thời điểm không thống nhất như pháp luật hiện hành dẫn đến khó khăn cho tổ chức BHTG khi xác định thời điểm chi trả cũng như việc chi trả chưa bảo đảm kịp thời.

Theo khuyến nghị của IADI, hệ thống BHTG phải bảo đảm đề người gửi tiền tiếp cận nhanh chóng tiền gửi được bảo hiểm của họ, tổ chức BHTG cần được thông báo trước và đầy đủ về các tình huống có thể dẫn đến việc phải tiến hành chi trả BHTG và được quyền tiếp cận trước các thông tin về người gửi tiền.

Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 quy định, sau khi phương án phá sản đã được phê duyệt, tổ chức BHTG có trách nhiệm phối hợp với TCTD được kiểm soát đặc biệt chi trả BHTG cho người gửi tiền theo phương án phá sản.

Do vậy, để bảo đảm sự thống nhất trong các quy định của pháp luật, cần phải nghiên cứu sửa đổi thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm nhằm bảo đảm ổn định tâm lý người gửi tiền, tránh phản ứng dây chuyền trong bộ phận người dân có tiền gửi, bảo vệ được quyền và lợi ích của người gửi tiền, góp phần giữ an toàn và trật tự xã hội.

Thứ tư, hoàn thiện quy định pháp luật để BHTG tham gia vào quá trình tái cơ cấu TCTD được kiểm soát đặc biệt:

Trên thế giới, một số tổ chức BHTG tham gia vào quá trình xử lý ngân hàng yếu kém thông qua hoạt động cho vay đối với tổ chức tài chính thực hiện việc sáp nhập với ngân hàng bị phá sản (Nhật Bản), “chia sẻ tổn thất” với các ngân hàng thực hiện mua lại (Hoa Kỳ)… Điều này có nghĩa là, quỹ dự phòng BHTG không chỉ để sử dụng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền khi phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm mà còn hỗ trợ tài chính đối với tổ chức tín dụng trong trường hợp cần thiết.

Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012 chỉ quy định tổ chức BHTG tham gia vào quá trình kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tham gia BHTG theo quy định của NHNN; tham gia quản lý, thanh lý tài sản của tổ chức tham gia BHTG theo quy định của Chính phủ (khoản 13 Điều 13).

Kế thừa quy định của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 quy định tổ chức BHTG tham gia vào quá trình xử lý TCTD được kiểm soát đặc biệt như cho vay đặc biệt, mua trái phiếu dài hạn do TCTD nhận chuyển giao bắt buộc phát hành hay phối hợp với Ban kiểm soát đặc biệt đánh giá tính khả thi của phương án phục hồi quỹ tín dụng nhân dân; phối hợp tham gia xây dựng phương án phá sản TCTD được kiểm soát đặc biệt.

Do đó, để nâng cao vai trò của tổ chức BHTG và BHTG tham gia từ sớm, từ xa, việc quy định cụ thể cơ chế hỗ trợ tài chính của tổ chức BHTG đối với tổ chức tham gia BHTG trong các trường hợp được quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 về lãi suất cho vay, tài sản bảo đảm, việc xử lý tài sản bảo đảm, cơ chế thu hồi khoản cho vay đặc biệt, tỷ lệ nguồn vốn của tổ chức BHTG được mua trái phiếu do TCTD nhận chuyển giao phát hành… là rất cần thiết. Bên cạnh đó, Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012 cũng cần có các quy định cụ thể để tổ chức BHTG thực hiệt tốt chức năng kiểm tra, giám sát đối với tổ chức tham gia BHTG, sự phối hợp giữa Ngân hàng Nhà nước và tổ chức BHTG trong phát hiện sớm và can thiệp kịp thời đối với tổ chức tham gia BHTG để có các biện pháp ứng xử kịp thời, phù hợp.

BHTG Việt Nam có nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, góp phần bảo vệ và duy trì sự ổn định của hệ thống TCTD, do vậy việc hoàn thiện pháp luật về BHTG ở Việt Nam trong mối quan hệ tổng thể với hoàn thiện pháp luật về ngân hàng là một nhu cầu tất yếu khách quan, bảo đảm cho pháp luật BHTG phù hợp với bối cảnh kinh tế mới trong nước và quốc tế, hướng pháp luật BHTG dần đến các chuẩn mực chung của quốc tế, đồng thời khắc phục những thiếu sót, bất cập của pháp luật BHTG hiện hành./.

Nguyễn Diệu Linh

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

[1]. Ngày 06/5/2002, Hiệp hội Bảo hiểm tiền gửi Quốc tế (IADI) được thành lập có trụ sở đặt tại Thụy Sỹ. Tính đến tháng 12/2021, IADI đã có 95 tổ chức thành viên, và 17 đối tác, nguồn: vnba.org.vn/vi/iadi-co-them-2-to-chuc-thanh-vien-va-1-doi-tac-chinh-thuc-3809.htm, truy cập ngày 25/02/2024.

[2]. Xem: Khoản 3 Điều 21 Nghị định 68/2013/NĐ-CP ngày 28/6/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Bảo hiểm tiền gửi; khoản 1 Điều 6 Nghị định 89/1999/NĐ-CP ngày 01/09/1999 của Chính phủ về bảo hiểm tiền gửi.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 401), tháng 3/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: