Thứ tư 21/01/2026 13:23
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về hóa đơn, chứng từ trong lĩnh vực thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam

Pháp luật về hóa đơn, chứng từ ở Việt Nam thời gian qua luôn được bổ sung, cập nhật phù hợp với tình hình mới. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, pháp luật về hóa đơn, chứng từ trong lĩnh vực thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam còn tồn tại một số bất cập chưa được giải quyết. Trong bài viết này, tác giả phân tích thực trạng chính sách, pháp luật về hóa đơn, chứng từ trong lĩnh vực thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam, từ đó, đưa ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về hóa đơn, chứng từ trong lĩnh vực thuế giá trị gia tăng tại Việt Nam.


1. Thực trạng chính sách, pháp luật về hóa đơn, chứng từ trong lĩnh vực thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam

Theo các số liệu thống kê qua các năm, thuế giá trị gia tăng luôn là loại thuế có mức đóng góp cao nhất vào tổng thu của Ngân sách Nhà nước (chiếm trên 25%). Chính vì vậy, để phát huy được hiệu quả vai trò của thuế giá trị gia tăng, cần thiết phải xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về hóa đơn, chứng từ để cơ quan quản lý thuế có thể kiểm soát tốt các hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nền kinh tế. Pháp luật về hóa đơn, chứng từ trong lĩnh vực thuế giá trị gia tăng có những đóng góp quan trọng như: (i) Góp phần ổn định trật tự trên các phương diện về pháp lý, kinh tế và chính trị, xã hội. Các chính sách, pháp luật là công cụ để Nhà nước điều tiết các hoạt động sản xuất, kinh doanh của thể nhân, pháp nhân nhằm đảm bảo cho những hoạt động này vừa vận hành theo đúng quy luật thị trường vừa đảm bảo lợi ích của Nhà nước; (ii) Tạo cơ sở pháp lý bảo vệ quyền lợi cho các thể nhân và pháp nhân trong xã hội. Việc lưu giữ hóa đơn sẽ giúp người tiêu dùng chứng minh được quyền sử dụng, quyền sở hữu hàng hóa, dịch vụ; hưởng chế độ khuyến mãi, chế độ hậu mãi, xổ số hoặc được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật; được dùng để hạch toán kế toán hoạt động mua hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật về kế toán; kê khai các loại thuế; đăng ký quyền sử dụng, quyền sở hữu và để kê khai thanh toán vốn ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật. Đối với người sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, pháp luật về hóa đơn sẽ hỗ trợ cho công tác quản lý tài chính chặt chẽ và hiệu quả; đánh giá chính xác nhất kết quả lãi lỗ; xác định đúng chi phí hợp lý, hợp lệ.

Nhận thức được tầm quan trọng ở trên, trong thời gian qua, pháp luật về hóa đơn ở nước ta luôn được bổ sung, cập nhật liên tục, từ đó, đạt được nhiều kết quả tích cực. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Thuế, năm 2019, cơ quan thuế các cấp đã phát hiện 1.137 doanh nghiệp với 54.988 hóa đơn vi phạm, xử lý truy thu thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp gần 51,2 tỷ đồng[1]. Bên cạnh đó, để hiện thực hóa chủ trương số hóa quốc gia, đưa khoa học công nghệ vào khối hành chính công và các hoạt động sản xuất, kinh doanh, từ năm 2010, Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ được ban hành. Đây được coi là cơ sở pháp lý chính thức đầu tiên để khuyến khích các doanh nghiệp thay thế hóa đơn giấy bằng hóa đơn điện tử. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, pháp luật về hóa đơn, chứng từ trong lĩnh vực thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam vẫn còn tồn tại một số bất cập chưa được giải quyết. Cụ thể:

Một là, các văn bản pháp luật quy định về hóa đơn chưa có sự thống nhất trong việc sử dụng thuật ngữ. Cụ thể, trong Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 và Nghị định số 04/2014/NĐ-CP ngày 17/01/2014 của Chính phủ quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ có hướng dẫn cụ thể về hành vi dẫn đến trốn thuế là “sử dụng hóa đơn bất hợp pháp”. Tuy nhiên, điểm d khoản 1 Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 chỉ quy định về hành vi trốn thuế sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp... Mặc dù cụm từ “bất hợp pháp” có thể được hiểu đồng nghĩa với “không hợp pháp”, tuy nhiên, do không thống nhất trong sử dụng thuật ngữ pháp lý đã làm cho pháp luật Việt Nam thiếu tính đồng bộ. Bên cạnh đó, các văn bản của Bộ Tài chính cũng thể hiện hành vi dẫn đến trốn thuế còn có cả dạng hành vi “sử dụng bất hợp pháp hóa đơn”. Vì vậy, dường như Bộ luật Hình sự liệt kê thiếu dạng hành vi này trong điểm d khoản 1 Điều 200, gây khó khăn trong công tác thực thi trên thực tế. Phải nhấn mạnh rằng, hành vi “sử dụng bất hợp pháp hóa đơn” và “sử dụng hóa đơn bất hợp pháp” hoàn toàn khác nhau. Nội dung này đã được khẳng định trong Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn.

Hai là, quy định về thời hiệu bắt buộc áp dụng hóa đơn điện tử chưa thống nhất. Nghị định số 119/2018/NĐ-CP ngày 12/9/2018 của Chính phủ quy định về hóa đơn điện tử khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ (Nghị định số 119/2018/NĐ-CP) đặt ra mốc thời gian bắt buộc sử dụng hóa đơn điện tử từ ngày 01/11/2020, trong khi Chương X Luật Quản lý thuế năm 2019 lại đưa ra mốc thời gian từ ngày 01/7/2022. Điều này gây ra nhiều băn khoăn cho người nộp thuế, Tổng Cục thuế đã phải ra nhiều công văn phản hồi về nội dung này cho các doanh nghiệp[2].

Ba là, quy định về xử lý đối với các vi phạm về hóa đơn còn thiếu tính răn đe. Hàng loạt các vụ việc liên quan tới mua bán trái phép hóa đơn liên tiếp diễn ra. Điển hình mới đây là vụ Công an tỉnh An Giang khởi tố vụ án, khởi tố 10 bị can trong đường dây mua bán hóa đơn giá trị gia tăng khống để trốn thuế, trong đó có 03 cán bộ thuế đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tạo điều kiện cho một số doanh nghiệp mua hóa đơn khống để hưởng lợi bất chính trên 600 triệu đồng. Đường dây này gây thiệt hại cho Ngân sách Nhà nước hơn 10 tỷ đồng[3]. Bên cạnh đó là một số vụ khác như: Tháng 7/2020, Công an tỉnh Phú Thọ phát hiện đường dây mua bán trái phép hóa đơn giá trị gia tăng trị giá gần 2.000 tỷ đồng do đối tượng Doãn Ngọc Huy ngụ tại TP. Hồ Chí Minh cầm đầu[4]. Tháng 9/2020, Công an TP. Hải Phòng phối hợp với các cơ quan chức năng đã tống đạt các quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và thi hành lệnh bắt tạm giam đối với đại gia Ngô Văn Phát (Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Xăng dầu Phát) về hành vi “mua bán trái phép hóa đơn” với giao dịch lên đến 5.000 tỷ đồng như một số báo chí đã đưa tin. Gần đây nhất, tháng 3/2021, Công an Hà Nội đã khởi tố bị can đối với Lê Thị Hạnh về hành vi lập 28 doanh nghiệp “ma” để thực hiện mua bán trái phép hóa đơn giá trị gia tăng là hóa đơn điện tử với số tiền 1.553 tỷ đồng[5]. Điểm chung của các vụ việc này là thời điểm được cơ quan chức năng phát hiện đều đã chiếm đoạt được hàng trăm, thậm chí hàng tỷ đồng tiền thuế của Nhà nước. Tuy nhiên, theo Điều 203 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, với hành vi mua bán hóa đơn, mức án cao nhất chỉ là phạt tù đến 5 năm và phạt tiền như điều luật quy định so với lợi ích đạt được từ việc trốn thuế là chưa đủ để tạo ra tính răn đe cần thiết.

Bên cạnh những tồn tại trong quy định pháp luật, hệ thống tổ chức thực thi cũng còn nhiều vấn đề cần khắc phục. Thực tế trong những năm qua, việc tổ chức bộ máy quản lý chưa đáp ứng được yêu cầu của quản lý thuế, quản lý hóa đơn. Một bộ phận cán bộ thuế có tinh thần trách nhiệm chưa cao, thậm chí, có trường hợp còn “tiếp tay” cho hành vi trốn thuế, như trường hợp ở tỉnh An Giang... Cán bộ thuế tạo điều kiện cho các đối tượng thành lập doanh nghiệp “ma” để mua bán hóa đơn giá trị gia tăng khống, hưởng lợi trên 600 triệu đồng. Một vấn đề khác cũng cần quan tâm đó là trong khi pháp luật về hóa đơn luôn cố gắng bắt kịp với các thành tựu của khoa học - công nghệ mới, thì hệ thống cơ sở hạ tầng lại có tốc độ phát triển chậm hơn, dẫn tới tình trạng “có luật nhưng không thực hiện được”. Nghị định số 119/2018/NĐ-CP đề ra thời hiệu áp dụng hóa đơn điện tử trên phạm vi toàn quốc kể từ tháng 11/2020, thế nhưng đến tháng 9/2020, việc triển khai hỗ trợ cho các doanh nghiệp sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế vẫn chỉ dừng ở bước thí điểm tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng...

2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về hóa đơn, chứng từ trong lĩnh vực thuế giá trị gia tăng tại Việt Nam

Thứ nhất, cần bổ sung, sửa đổi các chế tài hiện nay đối với hành vi sử dụng hóa đơn bất hợp pháp và sử dụng bất hợp pháp hóa đơn theo hướng tăng nặng mức xử phạt cả về xử phạt vi phạm hành chính và vi phạm pháp luật hình sự. Đồng thời, để sớm phát hiện hành vi vi phạm trên thực tế, có thể nghiên cứu học tập “chính sách khoan hồng”, trao thưởng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với những cá nhân, tổ chức trong đường dây vi phạm nhưng đã đứng ra tố giác.

Thứ hai, đề xuất thống nhất sử dụng hóa đơn giá trị gia tăng cho hoạt động bán hàng hóa, dịch vụ trong nước; hoạt động vận tải quốc tế; xuất vào khu phi thuế quan và các trường hợp xuất khẩu hàng hóa, cung ứng dịch vụ ra nước ngoài. Vì lý do thực tế, hóa đơn giá trị gia tăng và hóa đơn xuất khẩu chỉ để phân biệt hàng hóa, dịch vụ được tiêu dùng trong nước hay nước ngoài, còn nội dung về thuế thì tương đồng. Do đó, nên thống nhất thành một loại hóa đơn để giảm thiểu chi phí cho doanh nghiệp khi phải in hai loại hóa đơn khác nhau, dễ dàng kê khai nộp thuế, hạn chế nhầm lẫn hóa đơn.

Thứ ba, ngoài các quy định pháp luật cũng như sự hỗ trợ của Chính phủ về xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, cần có các biện pháp khuyến khích để thúc đẩy doanh nghiệp tích cực sử dụng hóa đơn điện tử. Việt Nam có thể học tập kinh nghiệm của Italia trong việc ưu đãi hoàn tiền thuế giá trị gia tăng hàng năm và đảm bảo các dịch vụ tạo, truyền, lưu giữ hóa đơn điện tử được cung cấp miễn phí cho tất cả người nộp thuế đã đăng ký thuế giá trị gia tăng[6]. Nhà nước cũng cần có biện pháp kinh tế khuyến khích người tiêu dùng nhận hóa đơn sau khi mua hàng hóa, dịch vụ. Người tiêu dùng là người nộp thuế giá trị gia tăng, song việc lấy hóa đơn không mang lại lợi ích nào nên không tạo nên động lực mạnh mẽ để người tiêu dùng tham gia vào quy trình kiểm soát hoạt động kinh tế phát sinh. Việc sử dụng các biện pháp kinh tế trong điều kiện người tiêu dùng chưa có ý thức, thói quen lấy hóa đơn sau khi mua hàng là giải pháp hoàn thiện pháp luật về hóa đơn mang tính khả thi. Trên thế giới, để khuyến khích người tiêu dùng cá nhân lấy hóa đơn, Chính phủ nhiều nước đã đẩy mạnh việc sử dụng hóa đơn điện tử và xổ số hóa đơn trực tuyến. Đây là kết quả của sự thay đổi từ lý thuyết về tội phạm kinh tế (sử dụng biện pháp hành chính để phòng ngừa tội phạm) sang lý thuyết thúc đẩy mới, mà ở đó, các biện pháp kinh tế được đề xuất để khuyến khích tuân thủ pháp luật thuế.

Tóm lại, trong thời gian sắp tới, việc cấp bách cần thực hiện chính là hoàn thiện các văn bản pháp luật quy định về hóa đơn điện tử cũng như xây dựng, nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật để thống nhất áp dụng trên phạm vi toàn quốc. Trong tương lai, Nhà nước cần đề ra các biện pháp kinh tế phù hợp đảm bảo pháp luật về hóa đơn thực sự trở thành công cụ hữu hiệu trong việc ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật thuế giá trị gia tăng.

TS. Nguyễn Minh Hằng
ThS. Nguyễn Thu Trang
Đại học Luật Hà Nội


[1]. Xem: Tăng cường quản lý, sử dụng hóa đơn của người nộp thuế

[2]. Cụ thể là: Công văn số 2576/TCT-CS ngày 23/6/2020 trả lời Công ty TNHH MM Mega Market Việt Nam về thời hạn áp dụng hóa đơn điện tử; Công văn số 2577/TCT-CS ngày 23/6/2020 trả lời Tổng Công ty Lương thực Miền Nam về hóa đơn; Công văn số 2578/TCT-CS ngày 23/6/2020 trả lời Công ty Cổ phần Bệnh viện Đa khoa Vĩnh Đức về hóa đơn...

[3]. Xem: Cảnh Nhật, Khởi tố 3 cán bộ thuế liên quan mua bán trái phép hóa đơn

[4]. Xem: Vi Di, Lật tẩy chiêu thức băng nhóm mua bán hóa đơn trị giá 2.000 tỷ

[5]. Xem: Hải Ninh, Nữ quái mua bán hóa đơn nghìn tỷ: Đối mặt án phạt 5 năm tù… quá nhẹ?

[6]. Xem: ThS. Phạm Thị Thu Hồng, Áp dụng hóa đơn điện tử ở Việt Nam và một số kiến nghị

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: