Thứ bảy 24/10/2026 18:40
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về hóa đơn, chứng từ trong lĩnh vực thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam

Pháp luật về hóa đơn, chứng từ ở Việt Nam thời gian qua luôn được bổ sung, cập nhật phù hợp với tình hình mới. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, pháp luật về hóa đơn, chứng từ trong lĩnh vực thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam còn tồn tại một số bất cập chưa được giải quyết. Trong bài viết này, tác giả phân tích thực trạng chính sách, pháp luật về hóa đơn, chứng từ trong lĩnh vực thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam, từ đó, đưa ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về hóa đơn, chứng từ trong lĩnh vực thuế giá trị gia tăng tại Việt Nam.


1. Thực trạng chính sách, pháp luật về hóa đơn, chứng từ trong lĩnh vực thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam

Theo các số liệu thống kê qua các năm, thuế giá trị gia tăng luôn là loại thuế có mức đóng góp cao nhất vào tổng thu của Ngân sách Nhà nước (chiếm trên 25%). Chính vì vậy, để phát huy được hiệu quả vai trò của thuế giá trị gia tăng, cần thiết phải xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về hóa đơn, chứng từ để cơ quan quản lý thuế có thể kiểm soát tốt các hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nền kinh tế. Pháp luật về hóa đơn, chứng từ trong lĩnh vực thuế giá trị gia tăng có những đóng góp quan trọng như: (i) Góp phần ổn định trật tự trên các phương diện về pháp lý, kinh tế và chính trị, xã hội. Các chính sách, pháp luật là công cụ để Nhà nước điều tiết các hoạt động sản xuất, kinh doanh của thể nhân, pháp nhân nhằm đảm bảo cho những hoạt động này vừa vận hành theo đúng quy luật thị trường vừa đảm bảo lợi ích của Nhà nước; (ii) Tạo cơ sở pháp lý bảo vệ quyền lợi cho các thể nhân và pháp nhân trong xã hội. Việc lưu giữ hóa đơn sẽ giúp người tiêu dùng chứng minh được quyền sử dụng, quyền sở hữu hàng hóa, dịch vụ; hưởng chế độ khuyến mãi, chế độ hậu mãi, xổ số hoặc được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật; được dùng để hạch toán kế toán hoạt động mua hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật về kế toán; kê khai các loại thuế; đăng ký quyền sử dụng, quyền sở hữu và để kê khai thanh toán vốn ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật. Đối với người sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, pháp luật về hóa đơn sẽ hỗ trợ cho công tác quản lý tài chính chặt chẽ và hiệu quả; đánh giá chính xác nhất kết quả lãi lỗ; xác định đúng chi phí hợp lý, hợp lệ.

Nhận thức được tầm quan trọng ở trên, trong thời gian qua, pháp luật về hóa đơn ở nước ta luôn được bổ sung, cập nhật liên tục, từ đó, đạt được nhiều kết quả tích cực. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Thuế, năm 2019, cơ quan thuế các cấp đã phát hiện 1.137 doanh nghiệp với 54.988 hóa đơn vi phạm, xử lý truy thu thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp gần 51,2 tỷ đồng[1]. Bên cạnh đó, để hiện thực hóa chủ trương số hóa quốc gia, đưa khoa học công nghệ vào khối hành chính công và các hoạt động sản xuất, kinh doanh, từ năm 2010, Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ được ban hành. Đây được coi là cơ sở pháp lý chính thức đầu tiên để khuyến khích các doanh nghiệp thay thế hóa đơn giấy bằng hóa đơn điện tử. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, pháp luật về hóa đơn, chứng từ trong lĩnh vực thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam vẫn còn tồn tại một số bất cập chưa được giải quyết. Cụ thể:

Một là, các văn bản pháp luật quy định về hóa đơn chưa có sự thống nhất trong việc sử dụng thuật ngữ. Cụ thể, trong Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 và Nghị định số 04/2014/NĐ-CP ngày 17/01/2014 của Chính phủ quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ có hướng dẫn cụ thể về hành vi dẫn đến trốn thuế là “sử dụng hóa đơn bất hợp pháp”. Tuy nhiên, điểm d khoản 1 Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 chỉ quy định về hành vi trốn thuế sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp... Mặc dù cụm từ “bất hợp pháp” có thể được hiểu đồng nghĩa với “không hợp pháp”, tuy nhiên, do không thống nhất trong sử dụng thuật ngữ pháp lý đã làm cho pháp luật Việt Nam thiếu tính đồng bộ. Bên cạnh đó, các văn bản của Bộ Tài chính cũng thể hiện hành vi dẫn đến trốn thuế còn có cả dạng hành vi “sử dụng bất hợp pháp hóa đơn”. Vì vậy, dường như Bộ luật Hình sự liệt kê thiếu dạng hành vi này trong điểm d khoản 1 Điều 200, gây khó khăn trong công tác thực thi trên thực tế. Phải nhấn mạnh rằng, hành vi “sử dụng bất hợp pháp hóa đơn” và “sử dụng hóa đơn bất hợp pháp” hoàn toàn khác nhau. Nội dung này đã được khẳng định trong Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn.

Hai là, quy định về thời hiệu bắt buộc áp dụng hóa đơn điện tử chưa thống nhất. Nghị định số 119/2018/NĐ-CP ngày 12/9/2018 của Chính phủ quy định về hóa đơn điện tử khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ (Nghị định số 119/2018/NĐ-CP) đặt ra mốc thời gian bắt buộc sử dụng hóa đơn điện tử từ ngày 01/11/2020, trong khi Chương X Luật Quản lý thuế năm 2019 lại đưa ra mốc thời gian từ ngày 01/7/2022. Điều này gây ra nhiều băn khoăn cho người nộp thuế, Tổng Cục thuế đã phải ra nhiều công văn phản hồi về nội dung này cho các doanh nghiệp[2].

Ba là, quy định về xử lý đối với các vi phạm về hóa đơn còn thiếu tính răn đe. Hàng loạt các vụ việc liên quan tới mua bán trái phép hóa đơn liên tiếp diễn ra. Điển hình mới đây là vụ Công an tỉnh An Giang khởi tố vụ án, khởi tố 10 bị can trong đường dây mua bán hóa đơn giá trị gia tăng khống để trốn thuế, trong đó có 03 cán bộ thuế đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tạo điều kiện cho một số doanh nghiệp mua hóa đơn khống để hưởng lợi bất chính trên 600 triệu đồng. Đường dây này gây thiệt hại cho Ngân sách Nhà nước hơn 10 tỷ đồng[3]. Bên cạnh đó là một số vụ khác như: Tháng 7/2020, Công an tỉnh Phú Thọ phát hiện đường dây mua bán trái phép hóa đơn giá trị gia tăng trị giá gần 2.000 tỷ đồng do đối tượng Doãn Ngọc Huy ngụ tại TP. Hồ Chí Minh cầm đầu[4]. Tháng 9/2020, Công an TP. Hải Phòng phối hợp với các cơ quan chức năng đã tống đạt các quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và thi hành lệnh bắt tạm giam đối với đại gia Ngô Văn Phát (Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Xăng dầu Phát) về hành vi “mua bán trái phép hóa đơn” với giao dịch lên đến 5.000 tỷ đồng như một số báo chí đã đưa tin. Gần đây nhất, tháng 3/2021, Công an Hà Nội đã khởi tố bị can đối với Lê Thị Hạnh về hành vi lập 28 doanh nghiệp “ma” để thực hiện mua bán trái phép hóa đơn giá trị gia tăng là hóa đơn điện tử với số tiền 1.553 tỷ đồng[5]. Điểm chung của các vụ việc này là thời điểm được cơ quan chức năng phát hiện đều đã chiếm đoạt được hàng trăm, thậm chí hàng tỷ đồng tiền thuế của Nhà nước. Tuy nhiên, theo Điều 203 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, với hành vi mua bán hóa đơn, mức án cao nhất chỉ là phạt tù đến 5 năm và phạt tiền như điều luật quy định so với lợi ích đạt được từ việc trốn thuế là chưa đủ để tạo ra tính răn đe cần thiết.

Bên cạnh những tồn tại trong quy định pháp luật, hệ thống tổ chức thực thi cũng còn nhiều vấn đề cần khắc phục. Thực tế trong những năm qua, việc tổ chức bộ máy quản lý chưa đáp ứng được yêu cầu của quản lý thuế, quản lý hóa đơn. Một bộ phận cán bộ thuế có tinh thần trách nhiệm chưa cao, thậm chí, có trường hợp còn “tiếp tay” cho hành vi trốn thuế, như trường hợp ở tỉnh An Giang... Cán bộ thuế tạo điều kiện cho các đối tượng thành lập doanh nghiệp “ma” để mua bán hóa đơn giá trị gia tăng khống, hưởng lợi trên 600 triệu đồng. Một vấn đề khác cũng cần quan tâm đó là trong khi pháp luật về hóa đơn luôn cố gắng bắt kịp với các thành tựu của khoa học - công nghệ mới, thì hệ thống cơ sở hạ tầng lại có tốc độ phát triển chậm hơn, dẫn tới tình trạng “có luật nhưng không thực hiện được”. Nghị định số 119/2018/NĐ-CP đề ra thời hiệu áp dụng hóa đơn điện tử trên phạm vi toàn quốc kể từ tháng 11/2020, thế nhưng đến tháng 9/2020, việc triển khai hỗ trợ cho các doanh nghiệp sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế vẫn chỉ dừng ở bước thí điểm tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng...

2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về hóa đơn, chứng từ trong lĩnh vực thuế giá trị gia tăng tại Việt Nam

Thứ nhất, cần bổ sung, sửa đổi các chế tài hiện nay đối với hành vi sử dụng hóa đơn bất hợp pháp và sử dụng bất hợp pháp hóa đơn theo hướng tăng nặng mức xử phạt cả về xử phạt vi phạm hành chính và vi phạm pháp luật hình sự. Đồng thời, để sớm phát hiện hành vi vi phạm trên thực tế, có thể nghiên cứu học tập “chính sách khoan hồng”, trao thưởng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với những cá nhân, tổ chức trong đường dây vi phạm nhưng đã đứng ra tố giác.

Thứ hai, đề xuất thống nhất sử dụng hóa đơn giá trị gia tăng cho hoạt động bán hàng hóa, dịch vụ trong nước; hoạt động vận tải quốc tế; xuất vào khu phi thuế quan và các trường hợp xuất khẩu hàng hóa, cung ứng dịch vụ ra nước ngoài. Vì lý do thực tế, hóa đơn giá trị gia tăng và hóa đơn xuất khẩu chỉ để phân biệt hàng hóa, dịch vụ được tiêu dùng trong nước hay nước ngoài, còn nội dung về thuế thì tương đồng. Do đó, nên thống nhất thành một loại hóa đơn để giảm thiểu chi phí cho doanh nghiệp khi phải in hai loại hóa đơn khác nhau, dễ dàng kê khai nộp thuế, hạn chế nhầm lẫn hóa đơn.

Thứ ba, ngoài các quy định pháp luật cũng như sự hỗ trợ của Chính phủ về xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, cần có các biện pháp khuyến khích để thúc đẩy doanh nghiệp tích cực sử dụng hóa đơn điện tử. Việt Nam có thể học tập kinh nghiệm của Italia trong việc ưu đãi hoàn tiền thuế giá trị gia tăng hàng năm và đảm bảo các dịch vụ tạo, truyền, lưu giữ hóa đơn điện tử được cung cấp miễn phí cho tất cả người nộp thuế đã đăng ký thuế giá trị gia tăng[6]. Nhà nước cũng cần có biện pháp kinh tế khuyến khích người tiêu dùng nhận hóa đơn sau khi mua hàng hóa, dịch vụ. Người tiêu dùng là người nộp thuế giá trị gia tăng, song việc lấy hóa đơn không mang lại lợi ích nào nên không tạo nên động lực mạnh mẽ để người tiêu dùng tham gia vào quy trình kiểm soát hoạt động kinh tế phát sinh. Việc sử dụng các biện pháp kinh tế trong điều kiện người tiêu dùng chưa có ý thức, thói quen lấy hóa đơn sau khi mua hàng là giải pháp hoàn thiện pháp luật về hóa đơn mang tính khả thi. Trên thế giới, để khuyến khích người tiêu dùng cá nhân lấy hóa đơn, Chính phủ nhiều nước đã đẩy mạnh việc sử dụng hóa đơn điện tử và xổ số hóa đơn trực tuyến. Đây là kết quả của sự thay đổi từ lý thuyết về tội phạm kinh tế (sử dụng biện pháp hành chính để phòng ngừa tội phạm) sang lý thuyết thúc đẩy mới, mà ở đó, các biện pháp kinh tế được đề xuất để khuyến khích tuân thủ pháp luật thuế.

Tóm lại, trong thời gian sắp tới, việc cấp bách cần thực hiện chính là hoàn thiện các văn bản pháp luật quy định về hóa đơn điện tử cũng như xây dựng, nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật để thống nhất áp dụng trên phạm vi toàn quốc. Trong tương lai, Nhà nước cần đề ra các biện pháp kinh tế phù hợp đảm bảo pháp luật về hóa đơn thực sự trở thành công cụ hữu hiệu trong việc ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật thuế giá trị gia tăng.

TS. Nguyễn Minh Hằng
ThS. Nguyễn Thu Trang
Đại học Luật Hà Nội


[1]. Xem: Tăng cường quản lý, sử dụng hóa đơn của người nộp thuế

[2]. Cụ thể là: Công văn số 2576/TCT-CS ngày 23/6/2020 trả lời Công ty TNHH MM Mega Market Việt Nam về thời hạn áp dụng hóa đơn điện tử; Công văn số 2577/TCT-CS ngày 23/6/2020 trả lời Tổng Công ty Lương thực Miền Nam về hóa đơn; Công văn số 2578/TCT-CS ngày 23/6/2020 trả lời Công ty Cổ phần Bệnh viện Đa khoa Vĩnh Đức về hóa đơn...

[3]. Xem: Cảnh Nhật, Khởi tố 3 cán bộ thuế liên quan mua bán trái phép hóa đơn

[4]. Xem: Vi Di, Lật tẩy chiêu thức băng nhóm mua bán hóa đơn trị giá 2.000 tỷ

[5]. Xem: Hải Ninh, Nữ quái mua bán hóa đơn nghìn tỷ: Đối mặt án phạt 5 năm tù… quá nhẹ?

[6]. Xem: ThS. Phạm Thị Thu Hồng, Áp dụng hóa đơn điện tử ở Việt Nam và một số kiến nghị

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: