Thứ ba 28/07/2026 11:52
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu[1]

Bài viết phân tích những bất cập, vướng mắc trong quy định của pháp luật hiện hành về hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu, qua đó, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu.

1. Khái quát về hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu

Theo quy định pháp luật hiện hành, hợp đồng vô hiệu là hợp đồng không đáp ứng đầy đủ các điều kiện để hợp đồng có hiệu lực theo quy định pháp luật. Hay nói cách khác, đây là loại hợp đồng không có giá trị pháp lý và không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia giao kết hợp đồng.

Do hợp đồng dân sự cũng là một dạng giao dịch dân sự nên khi giao kết, các bên phải đáp ứng các điều kiện để một giao dịch dân sự có hiệu lực. Theo Điều 407 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì “quy định về giao dịch dân sự vô hiệu từ Điều 123 đến Điều 133 của Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng được áp dụng đối với hợp đồng vô hiệu”.

Hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu là hợp đồng không tuân thủ các điều kiện có hiệu lực do pháp luật quy định nên không có giá trị pháp lý, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Khi đó, các chủ thể tham gia không phải thực hiện điều khoản đã ký kết trong hợp đồng, không phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường do không thực hiện hợp đồng. Theo đó, bên bán không phải giao hàng, chuyển quyền sở hữu cho bên mua, đồng thời bên mua sẽ không phải thanh toán, nhận hàng và nhận quyền sở hữu hàng hóa từ bên bán. Khi một hợp đồng vô hiệu, thì xem như hợp đồng đó chưa tồn tại, hiệu lực của nó sẽ không phát sinh ở hiện tại, kể cả tương lai hay quá khứ cũng không có hiệu lực.

Có thể xem xét các đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa trong mối liên hệ với hợp đồng mua bán tài sản theo nguyên lý của mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung. Hợp đồng mua bán hàng hóa cũng có những đặc điểm chung của hợp đồng mua bán tài sản trong dân sự[2]:

- Là hợp đồng ưng thuận, tức là hợp đồng được coi là giao kết tại thời điểm các bên thỏa thuận xong các điều khoản cơ bản, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng không phụ thuộc vào thời điểm bàn giao hàng hóa, việc bàn giao hàng hóa chỉ được coi là hành động của bên bán nhằm thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng mua bán đã có hiệu lực.

- Có tính đền bù, bên bán khi thực hiện nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua thì sẽ nhận từ bên mua một lợi ích tương đương với giá trị hàng hóa theo thỏa thuận dưới dạng khoản tiền thanh toán.

- Là hợp đồng song vụ, mỗi bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa đều bị ràng buộc bởi nghĩa vụ đối với bên kia, đồng thời cũng là bên có quyền đòi hỏi bên kia thực hiện nghĩa vụ đối với mình. Trong hợp đồng mua bán hàng hóa tồn tại hai nghĩa vụ chính mang tính chất qua lại và liên quan mật thiết với nhau: Nghĩa vụ của bên bán là phải bàn giao hàng hóa cho bên mua và nghĩa vụ của bên mua là phải thanh toán cho bên bán.

Ngoài ra, với tư cách là hình thức pháp lý của quan hệ mua bán hàng hóa, hợp đồng mua bán hàng hóa có một số điểm đặc thù xuất phát từ bản chất thương mại của hành vi mua bán hàng hóa[3]:

- Về chủ thể, hợp đồng mua bán hàng hóa được thiết lập giữa các chủ thể chủ yếu là thương nhân. Luật Thương mại năm 2005 quy định, thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp; cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh. Ngoài ra, các tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa. Theo khoản 3 Điều 1 Luật Thương mại năm 2005, hoạt động của bên chủ thể không phải là thương nhân và không nhằm mục đích lợi nhuận trong quan hệ mua bán hàng hóa phải tuân theo Luật Thương mại khi chủ thể này lựa chọn áp dụng Luật Thương mại.

- Về hình thức, hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được thể hiện dưới hình thức lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể của các bên giao kết. Trong một số trường hợp nhất định, pháp luật quy định bắt buộc các bên phải giao kết hợp đồng dưới hình thức văn bản, ví dụ như hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải được thể hiện dưới hình thức văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương như điện báo, telex, fax hay thông điệp dữ liệu.

- Về đối tượng, hợp đồng mua bán hàng hóa có đối tượng là hàng hóa. Theo nghĩa thông thường, có thể hiểu, hàng hóa là sản phẩm lao động của con người, được tạo ra nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu của con người. Cùng với sự phát triển của xã hội, hàng hóa càng trở nên phong phú. Khái niệm hàng hóa được quy định trong luật pháp các nước hiện nay dù có những khác biệt nhất định song đều có xu hướng mở rộng các đối tượng là hàng hóa được phép lưu thông.

Theo Luật Thương mại năm 2005, hàng hóa là đối tượng của quan hệ mua bán có thể là tất cả các loại động sản kể cả các loại động sản hình thành trong tương lai; những vật gắn liền với đất đai[4]. Những loại hàng hóa thuộc danh mục hàng hóa cấm kinh doanh, hàng hóa hạn chế kinh doanh, hàng hóa kinh doanh có điều kiện và điều kiện để kinh doanh hàng hóa đó được Chính phủ quy định cụ thể[5].

2. Thực trạng quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu

Hiện nay, pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thể về thuật ngữ “hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu và các vấn đề pháp lý liên quan”. Tuy nhiên, theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, “giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác”[6]. Hợp đồng là một trong những loại giao dịch dân sự bên cạnh hành vi pháp lý đơn phương nên có thể áp dụng điều luật này để diễn giải về hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu. Theo đó, một hợp đồng mua bán hàng hóa được coi là vô hiệu nếu không đáp ứng một trong các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng[7], cụ thể: (i) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với hợp đồng; (ii) Chủ thể tham gia hợp đồng hoàn toàn tự nguyện; (iii) Mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; (iv) Hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật.

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, các trường hợp mua bán hàng hóa vô hiệu được áp dụng theo quy định về giao dịch dân sự vô hiệu nói chung được quy định từ Điều 123 đến Điều 129. Việc quy định cụ thể các trường hợp hợp đồng vô hiệu giúp xử lý một cách phù hợp và hiệu quả các hợp đồng vô hiệu có sự khác nhau về tính chất và mức độ ảnh hưởng, bảo vệ lợi ích của các bên trong hợp đồng cũng như các chủ thể liên quan. Theo đó, các trường hợp hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu được quy định như sau:

Thứ nhất, do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội: Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định, còn đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng. Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu trong trường hợp này không bị hạn chế.

Thứ hai, hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu do giả tạo: Khi các bên giao kết hợp đồng một cách giả tạo nhằm che giấu một hợp đồng khác thì hợp đồng giả tạo vô hiệu, còn hợp đồng bị che dấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp hợp đồng bị che dấu cũng vô hiệu theo quy định của pháp luật.

Thứ ba, do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện.

Thứ tư, do bị nhầm lẫn: Một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của hợp đồng mà giao kết thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của hợp đồng đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu.

Thứ năm, do bị lừa dối đe dọa, cưỡng ép: Đe dọa là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải giao kết và thực hiện hợp đồng nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản của mình hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình. Khi một bên giao kết hợp đồng do bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng đó vô hiệu.

Thứ sáu, do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi: Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã giao kết hợp đồng vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng đó là vô hiệu.

Thứ bảy, do không tuân thủ quy định về hình thức: Trong trường hợp pháp luật quy định hình thức hợp đồng là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mà các bên không tuân theo thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của hợp đồng trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu.

Hiện nay, theo thống kê của Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) cho thấy, vấn đề tranh chấp trong thương mại có xu hướng gia tăng theo từng năm, trong đó, năm 2022, mua bán hàng hóa tiếp tục là lĩnh vực có số vụ tranh chấp thụ lý và giải quyết cao nhất tại VIAC với tỷ lệ 37,5%[8]/tổng số vụ. Theo tổng kết công tác năm 2022 của Tòa án nhân dân tối cao, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động mà Tòa án thụ lý có 444.402 vụ việc; đã giải quyết, xét xử được 386.944 vụ việc[9], trong lĩnh vực kinh doanh thương mại có 4.704 bản án, quyết định được công bố[10].

Có thể nói, hợp đồng vô hiệu nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu nói riêng là hợp đồng không thỏa mãn đầy đủ các điều kiện có hiệu lực theo quy định của pháp luật. Việc ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu có thể dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng và ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên. Tuy nhiên, hiện nay, Bộ luật Dân sự năm 2015 mới chỉ quy định chung về hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu mà chưa có quy định rõ ràng, cụ thể cho từng trường hợp hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu. Điều này gây khó khăn cho việc áp dụng pháp luật vào thực tiễn, dẫn đến tình trạng xử lý chưa thống nhất giữa các cơ quan nhà nước. Trong một số trường hợp, hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu có dấu hiệu tương tự như hợp đồng có hiệu lực, dẫn đến khó khăn trong việc phân biệt. Bên cạnh đó, pháp luật hiện hành chưa quy định chế tài xử lý đối với hành vi ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu, dẫn đến việc có thể tạo kẽ hở cho hành vi gian lận, lừa đảo.

Hiện nay, các quy định về hợp đồng thương mại vô hiệu được các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa vận dụng hết sức linh hoạt vào thực tiễn giao kết các hợp đồng, hay nói cách khác, các chủ thể giao kết hợp đồng đã chú trọng hơn đến việc nghiên cứu pháp luật có liên quan, tham khảo sự tư vấn của các luật sư, các trung tâm luật sư, các chuyên gia pháp lý và các luật gia… nên cũng đã phần nào hạn chế các trường hợp hợp đồng thương mại nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng vô hiệu do sự thiếu hiểu biết về pháp luật của các bên chủ thể.

Các trường hợp hợp đồng vô hiệu thường gặp là do không đáp ứng điều kiện kinh doanh và nếu trong thương mại quốc tế có thể thường là đồng tiền thanh toán không phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật của các quốc gia trên thế giới luôn tôn trọng sự thỏa thuận của các bên, sự tự do thỏa thuận hợp đồng và tạo điều kiện cho công dân thực hiện quyền tự do kinh doanh. Do đó, bất cập này đã được các chủ thể trong quá trình kinh doanh khắc phục bằng việc xin và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh bổ sung và thỏa thuận lại việc thanh toán bằng đồng Việt Nam hoặc thỏa thuận sử dụng ngoại tệ làm đồng tiền định giá nhưng việc thanh toán vẫn là đồng tiền Việt Nam. Vì vậy, các vụ việc liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa và hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu cũng phần nào được hạn chế.

3. Một số kiến nghị

Thứ nhất, cần bổ sung điều khoản định nghĩa hoàn chỉnh về “hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu” và một quy định riêng về điều kiện có hiệu lực hợp đồng mua bán hàng hóa. Hiện nay, các vấn đề pháp lý liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa sẽ căn cứ vào cả quy định của Luật Thương mại năm 2005 và các quy định chung trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Trong đó, các quy định về hợp đồng trong lĩnh vực dân sự có tính chất chung, khái quát, chưa thực sự phù hợp với hợp đồng mua bán hàng hóa mang tính đặc thù, chuyên biệt. Mặt khác, Luật Thương mại năm 2005 cũng có nhiều quy định về hợp đồng mua bán hàng hóa trùng với quy định liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Vì vậy, theo tác giả, cần quy định riêng các vấn đề pháp lý liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu, không nên đưa vào quy định chung trong Bộ luật Dân sự năm 2015 để tránh việc trùng lặp, chồng chéo các quy định pháp luật, gây khó khăn trong việc thực thi pháp luật của các chủ thể của hợp đồng cũng như các cơ quan nhà nước có thầm quyền trong việc áp dụng luật để giải quyết tranh chấp liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu.

Thứ hai, cần sửa đổi khái niệm “thương nhân” trong Luật Thương mại năm 2005 cho phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội và quy định pháp luật hiện hành theo hướng thương nhân là chủ thể hoạt động thương mại hợp pháp, thường xuyên, độc lập nhằm mục đích sinh lợi[11]. Theo Điều 6 Luật Thương mại năm 2005, thương nhân phải đăng ký kinh doanh, tuy nhiên, Điều 7 Luật Thương mại năm 2005 lại quy định, trong trường hợp chưa đăng ký kinh doanh, thương nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật là có sự mâu thuẫn, chưa phù hợp. Bởi lẽ, khi chưa đăng ký kinh doanh thì tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động thương mại chưa được coi là thương nhân. Mặt khác, Luật Doanh nghiệp năm 2020[12] định nghĩa thương nhân là các cá nhân, tổ chức kinh doanh những ngành, nghề chưa đăng ký kinh doanh thì chỉ cần thông báo về ngành, nghề kinh doanh với Cơ quan đăng ký kinh doanh thì vẫn xác định là thương nhân. Quy định pháp luật như vậy là chưa thống nhất, thiếu đồng bộ, gây khó khăn cho các bên chủ thể của hợp đồng và việc áp dụng pháp luật của cơ quan có thầm quyền khi xem xét các hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu.

Thứ ba, cần tuyên truyền, phổ biến và hướng dẫn các chủ thể của hợp đồng hiểu rõ hơn về các quy định của pháp luật khi ký kết các hợp đồng mua bán hàng hóa, tránh rơi vào trường hợp hợp đồng vô hiệu gây tổn thất cho các bên chủ thể của hợp đồng, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật thông qua việc tổ chức các buổi tọa đàm, hội thảo, khóa học và cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật dễ hiểu, dễ tiếp cận cho các doanh nghiệp.

Thứ tư, đẩy mạnh việc tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, trao đổi kinh nghiệm, cập nhật kiến thức pháp luật mới nhằm nâng cao trình độ chuyên môn cho các cán bộ thuộc cơ quan có thẩm quyền khi xem xét, giải quyết các vụ việc liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu. Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác kiểm tra nhằm kịp thời phát hiện, xử lý các vi phạm pháp luật, ngăn chặn các hành vi lợi dụng hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu để trục lợi./.

TS. Bùi Thị Long & nhóm sinh viên

Đại học Quy Nhơn

[1]. Bài viết này được thực hiện trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên của Trường Đại học Quy Nhơn với mã số S202387937, nhóm sinh viên thực hiện: Lê Thị Hồng Nhung (Lớp Luật 44B) và Trần Thị Kim Liền (Lớp Luật 44A).

[2]. https://luatduonggia.vn/khai-niem-dac-diem-va-noi-dung-cua-hop-dong-mua-ban-hang-hoa/, truy cập ngày 01/3/2024.

[3]. Đinh Ngọc Thương (2016), Hợp đồng mua bán hàng hóa trong kinh doanh thương mại vô hiệu theo pháp luật Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ Luật học.

[4]. Khoản 2 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005.

[5]. Phụ lục IA, phụ lục IIA và phụ lục IIIA ban hành kèm theo Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ngày 12/6/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện.

[6]. Điều 122 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[7]. Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[8]. Trung tâm Trọng tài quốc tế (VIAC), “Thống kế hoạt động giải quyết tranh chấp năm 2022”, https://www.viac.vn/thong-ke/thong-ke-hoat-dong-giai-quyet-tranh-chap-nam-2022-s40.html, truy cập ngày 06/3/2024.

[9]. Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao, https://capcaodanang.toaan.gov.vn/webcenter/portal/tatc/chi-tiet-chi-dao-dieu-hanh?dDocName=TAND284234, truy cập ngày 06/3/2024.

[10]. Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao, Thống kê công bố bản án các Tòa án năm 2022, https://congbobanan.toaan.gov.vn/6tatcvn/Thong-ke, truy cập ngày 07/3/2024.

[11]. Trần Văn Biên (2023), Hợp đồng thương mại vô hiệu theo pháp luật Việt Nam, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Trường Đại học Hòa Bình, Số 07, Tháng 3/2023.

[12]. Điều 31 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 401), tháng 3/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: