Thứ hai 09/03/2026 06:31
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu[1]

Bài viết phân tích những bất cập, vướng mắc trong quy định của pháp luật hiện hành về hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu, qua đó, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu.

1. Khái quát về hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu

Theo quy định pháp luật hiện hành, hợp đồng vô hiệu là hợp đồng không đáp ứng đầy đủ các điều kiện để hợp đồng có hiệu lực theo quy định pháp luật. Hay nói cách khác, đây là loại hợp đồng không có giá trị pháp lý và không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia giao kết hợp đồng.

Do hợp đồng dân sự cũng là một dạng giao dịch dân sự nên khi giao kết, các bên phải đáp ứng các điều kiện để một giao dịch dân sự có hiệu lực. Theo Điều 407 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì “quy định về giao dịch dân sự vô hiệu từ Điều 123 đến Điều 133 của Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng được áp dụng đối với hợp đồng vô hiệu”.

Hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu là hợp đồng không tuân thủ các điều kiện có hiệu lực do pháp luật quy định nên không có giá trị pháp lý, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Khi đó, các chủ thể tham gia không phải thực hiện điều khoản đã ký kết trong hợp đồng, không phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường do không thực hiện hợp đồng. Theo đó, bên bán không phải giao hàng, chuyển quyền sở hữu cho bên mua, đồng thời bên mua sẽ không phải thanh toán, nhận hàng và nhận quyền sở hữu hàng hóa từ bên bán. Khi một hợp đồng vô hiệu, thì xem như hợp đồng đó chưa tồn tại, hiệu lực của nó sẽ không phát sinh ở hiện tại, kể cả tương lai hay quá khứ cũng không có hiệu lực.

Có thể xem xét các đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa trong mối liên hệ với hợp đồng mua bán tài sản theo nguyên lý của mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung. Hợp đồng mua bán hàng hóa cũng có những đặc điểm chung của hợp đồng mua bán tài sản trong dân sự[2]:

- Là hợp đồng ưng thuận, tức là hợp đồng được coi là giao kết tại thời điểm các bên thỏa thuận xong các điều khoản cơ bản, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng không phụ thuộc vào thời điểm bàn giao hàng hóa, việc bàn giao hàng hóa chỉ được coi là hành động của bên bán nhằm thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng mua bán đã có hiệu lực.

- Có tính đền bù, bên bán khi thực hiện nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua thì sẽ nhận từ bên mua một lợi ích tương đương với giá trị hàng hóa theo thỏa thuận dưới dạng khoản tiền thanh toán.

- Là hợp đồng song vụ, mỗi bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa đều bị ràng buộc bởi nghĩa vụ đối với bên kia, đồng thời cũng là bên có quyền đòi hỏi bên kia thực hiện nghĩa vụ đối với mình. Trong hợp đồng mua bán hàng hóa tồn tại hai nghĩa vụ chính mang tính chất qua lại và liên quan mật thiết với nhau: Nghĩa vụ của bên bán là phải bàn giao hàng hóa cho bên mua và nghĩa vụ của bên mua là phải thanh toán cho bên bán.

Ngoài ra, với tư cách là hình thức pháp lý của quan hệ mua bán hàng hóa, hợp đồng mua bán hàng hóa có một số điểm đặc thù xuất phát từ bản chất thương mại của hành vi mua bán hàng hóa[3]:

- Về chủ thể, hợp đồng mua bán hàng hóa được thiết lập giữa các chủ thể chủ yếu là thương nhân. Luật Thương mại năm 2005 quy định, thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp; cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh. Ngoài ra, các tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa. Theo khoản 3 Điều 1 Luật Thương mại năm 2005, hoạt động của bên chủ thể không phải là thương nhân và không nhằm mục đích lợi nhuận trong quan hệ mua bán hàng hóa phải tuân theo Luật Thương mại khi chủ thể này lựa chọn áp dụng Luật Thương mại.

- Về hình thức, hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được thể hiện dưới hình thức lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể của các bên giao kết. Trong một số trường hợp nhất định, pháp luật quy định bắt buộc các bên phải giao kết hợp đồng dưới hình thức văn bản, ví dụ như hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải được thể hiện dưới hình thức văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương như điện báo, telex, fax hay thông điệp dữ liệu.

- Về đối tượng, hợp đồng mua bán hàng hóa có đối tượng là hàng hóa. Theo nghĩa thông thường, có thể hiểu, hàng hóa là sản phẩm lao động của con người, được tạo ra nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu của con người. Cùng với sự phát triển của xã hội, hàng hóa càng trở nên phong phú. Khái niệm hàng hóa được quy định trong luật pháp các nước hiện nay dù có những khác biệt nhất định song đều có xu hướng mở rộng các đối tượng là hàng hóa được phép lưu thông.

Theo Luật Thương mại năm 2005, hàng hóa là đối tượng của quan hệ mua bán có thể là tất cả các loại động sản kể cả các loại động sản hình thành trong tương lai; những vật gắn liền với đất đai[4]. Những loại hàng hóa thuộc danh mục hàng hóa cấm kinh doanh, hàng hóa hạn chế kinh doanh, hàng hóa kinh doanh có điều kiện và điều kiện để kinh doanh hàng hóa đó được Chính phủ quy định cụ thể[5].

2. Thực trạng quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu

Hiện nay, pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thể về thuật ngữ “hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu và các vấn đề pháp lý liên quan”. Tuy nhiên, theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, “giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác”[6]. Hợp đồng là một trong những loại giao dịch dân sự bên cạnh hành vi pháp lý đơn phương nên có thể áp dụng điều luật này để diễn giải về hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu. Theo đó, một hợp đồng mua bán hàng hóa được coi là vô hiệu nếu không đáp ứng một trong các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng[7], cụ thể: (i) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với hợp đồng; (ii) Chủ thể tham gia hợp đồng hoàn toàn tự nguyện; (iii) Mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; (iv) Hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật.

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, các trường hợp mua bán hàng hóa vô hiệu được áp dụng theo quy định về giao dịch dân sự vô hiệu nói chung được quy định từ Điều 123 đến Điều 129. Việc quy định cụ thể các trường hợp hợp đồng vô hiệu giúp xử lý một cách phù hợp và hiệu quả các hợp đồng vô hiệu có sự khác nhau về tính chất và mức độ ảnh hưởng, bảo vệ lợi ích của các bên trong hợp đồng cũng như các chủ thể liên quan. Theo đó, các trường hợp hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu được quy định như sau:

Thứ nhất, do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội: Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định, còn đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng. Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu trong trường hợp này không bị hạn chế.

Thứ hai, hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu do giả tạo: Khi các bên giao kết hợp đồng một cách giả tạo nhằm che giấu một hợp đồng khác thì hợp đồng giả tạo vô hiệu, còn hợp đồng bị che dấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp hợp đồng bị che dấu cũng vô hiệu theo quy định của pháp luật.

Thứ ba, do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện.

Thứ tư, do bị nhầm lẫn: Một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của hợp đồng mà giao kết thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của hợp đồng đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu.

Thứ năm, do bị lừa dối đe dọa, cưỡng ép: Đe dọa là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải giao kết và thực hiện hợp đồng nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản của mình hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình. Khi một bên giao kết hợp đồng do bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng đó vô hiệu.

Thứ sáu, do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi: Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã giao kết hợp đồng vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng đó là vô hiệu.

Thứ bảy, do không tuân thủ quy định về hình thức: Trong trường hợp pháp luật quy định hình thức hợp đồng là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mà các bên không tuân theo thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của hợp đồng trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu.

Hiện nay, theo thống kê của Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) cho thấy, vấn đề tranh chấp trong thương mại có xu hướng gia tăng theo từng năm, trong đó, năm 2022, mua bán hàng hóa tiếp tục là lĩnh vực có số vụ tranh chấp thụ lý và giải quyết cao nhất tại VIAC với tỷ lệ 37,5%[8]/tổng số vụ. Theo tổng kết công tác năm 2022 của Tòa án nhân dân tối cao, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động mà Tòa án thụ lý có 444.402 vụ việc; đã giải quyết, xét xử được 386.944 vụ việc[9], trong lĩnh vực kinh doanh thương mại có 4.704 bản án, quyết định được công bố[10].

Có thể nói, hợp đồng vô hiệu nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu nói riêng là hợp đồng không thỏa mãn đầy đủ các điều kiện có hiệu lực theo quy định của pháp luật. Việc ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu có thể dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng và ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên. Tuy nhiên, hiện nay, Bộ luật Dân sự năm 2015 mới chỉ quy định chung về hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu mà chưa có quy định rõ ràng, cụ thể cho từng trường hợp hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu. Điều này gây khó khăn cho việc áp dụng pháp luật vào thực tiễn, dẫn đến tình trạng xử lý chưa thống nhất giữa các cơ quan nhà nước. Trong một số trường hợp, hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu có dấu hiệu tương tự như hợp đồng có hiệu lực, dẫn đến khó khăn trong việc phân biệt. Bên cạnh đó, pháp luật hiện hành chưa quy định chế tài xử lý đối với hành vi ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu, dẫn đến việc có thể tạo kẽ hở cho hành vi gian lận, lừa đảo.

Hiện nay, các quy định về hợp đồng thương mại vô hiệu được các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa vận dụng hết sức linh hoạt vào thực tiễn giao kết các hợp đồng, hay nói cách khác, các chủ thể giao kết hợp đồng đã chú trọng hơn đến việc nghiên cứu pháp luật có liên quan, tham khảo sự tư vấn của các luật sư, các trung tâm luật sư, các chuyên gia pháp lý và các luật gia… nên cũng đã phần nào hạn chế các trường hợp hợp đồng thương mại nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng vô hiệu do sự thiếu hiểu biết về pháp luật của các bên chủ thể.

Các trường hợp hợp đồng vô hiệu thường gặp là do không đáp ứng điều kiện kinh doanh và nếu trong thương mại quốc tế có thể thường là đồng tiền thanh toán không phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật của các quốc gia trên thế giới luôn tôn trọng sự thỏa thuận của các bên, sự tự do thỏa thuận hợp đồng và tạo điều kiện cho công dân thực hiện quyền tự do kinh doanh. Do đó, bất cập này đã được các chủ thể trong quá trình kinh doanh khắc phục bằng việc xin và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh bổ sung và thỏa thuận lại việc thanh toán bằng đồng Việt Nam hoặc thỏa thuận sử dụng ngoại tệ làm đồng tiền định giá nhưng việc thanh toán vẫn là đồng tiền Việt Nam. Vì vậy, các vụ việc liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa và hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu cũng phần nào được hạn chế.

3. Một số kiến nghị

Thứ nhất, cần bổ sung điều khoản định nghĩa hoàn chỉnh về “hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu” và một quy định riêng về điều kiện có hiệu lực hợp đồng mua bán hàng hóa. Hiện nay, các vấn đề pháp lý liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa sẽ căn cứ vào cả quy định của Luật Thương mại năm 2005 và các quy định chung trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Trong đó, các quy định về hợp đồng trong lĩnh vực dân sự có tính chất chung, khái quát, chưa thực sự phù hợp với hợp đồng mua bán hàng hóa mang tính đặc thù, chuyên biệt. Mặt khác, Luật Thương mại năm 2005 cũng có nhiều quy định về hợp đồng mua bán hàng hóa trùng với quy định liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Vì vậy, theo tác giả, cần quy định riêng các vấn đề pháp lý liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu, không nên đưa vào quy định chung trong Bộ luật Dân sự năm 2015 để tránh việc trùng lặp, chồng chéo các quy định pháp luật, gây khó khăn trong việc thực thi pháp luật của các chủ thể của hợp đồng cũng như các cơ quan nhà nước có thầm quyền trong việc áp dụng luật để giải quyết tranh chấp liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu.

Thứ hai, cần sửa đổi khái niệm “thương nhân” trong Luật Thương mại năm 2005 cho phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội và quy định pháp luật hiện hành theo hướng thương nhân là chủ thể hoạt động thương mại hợp pháp, thường xuyên, độc lập nhằm mục đích sinh lợi[11]. Theo Điều 6 Luật Thương mại năm 2005, thương nhân phải đăng ký kinh doanh, tuy nhiên, Điều 7 Luật Thương mại năm 2005 lại quy định, trong trường hợp chưa đăng ký kinh doanh, thương nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật là có sự mâu thuẫn, chưa phù hợp. Bởi lẽ, khi chưa đăng ký kinh doanh thì tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động thương mại chưa được coi là thương nhân. Mặt khác, Luật Doanh nghiệp năm 2020[12] định nghĩa thương nhân là các cá nhân, tổ chức kinh doanh những ngành, nghề chưa đăng ký kinh doanh thì chỉ cần thông báo về ngành, nghề kinh doanh với Cơ quan đăng ký kinh doanh thì vẫn xác định là thương nhân. Quy định pháp luật như vậy là chưa thống nhất, thiếu đồng bộ, gây khó khăn cho các bên chủ thể của hợp đồng và việc áp dụng pháp luật của cơ quan có thầm quyền khi xem xét các hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu.

Thứ ba, cần tuyên truyền, phổ biến và hướng dẫn các chủ thể của hợp đồng hiểu rõ hơn về các quy định của pháp luật khi ký kết các hợp đồng mua bán hàng hóa, tránh rơi vào trường hợp hợp đồng vô hiệu gây tổn thất cho các bên chủ thể của hợp đồng, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật thông qua việc tổ chức các buổi tọa đàm, hội thảo, khóa học và cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật dễ hiểu, dễ tiếp cận cho các doanh nghiệp.

Thứ tư, đẩy mạnh việc tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, trao đổi kinh nghiệm, cập nhật kiến thức pháp luật mới nhằm nâng cao trình độ chuyên môn cho các cán bộ thuộc cơ quan có thẩm quyền khi xem xét, giải quyết các vụ việc liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu. Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác kiểm tra nhằm kịp thời phát hiện, xử lý các vi phạm pháp luật, ngăn chặn các hành vi lợi dụng hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu để trục lợi./.

TS. Bùi Thị Long & nhóm sinh viên

Đại học Quy Nhơn

[1]. Bài viết này được thực hiện trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên của Trường Đại học Quy Nhơn với mã số S202387937, nhóm sinh viên thực hiện: Lê Thị Hồng Nhung (Lớp Luật 44B) và Trần Thị Kim Liền (Lớp Luật 44A).

[2]. https://luatduonggia.vn/khai-niem-dac-diem-va-noi-dung-cua-hop-dong-mua-ban-hang-hoa/, truy cập ngày 01/3/2024.

[3]. Đinh Ngọc Thương (2016), Hợp đồng mua bán hàng hóa trong kinh doanh thương mại vô hiệu theo pháp luật Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ Luật học.

[4]. Khoản 2 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005.

[5]. Phụ lục IA, phụ lục IIA và phụ lục IIIA ban hành kèm theo Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ngày 12/6/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện.

[6]. Điều 122 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[7]. Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[8]. Trung tâm Trọng tài quốc tế (VIAC), “Thống kế hoạt động giải quyết tranh chấp năm 2022”, https://www.viac.vn/thong-ke/thong-ke-hoat-dong-giai-quyet-tranh-chap-nam-2022-s40.html, truy cập ngày 06/3/2024.

[9]. Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao, https://capcaodanang.toaan.gov.vn/webcenter/portal/tatc/chi-tiet-chi-dao-dieu-hanh?dDocName=TAND284234, truy cập ngày 06/3/2024.

[10]. Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao, Thống kê công bố bản án các Tòa án năm 2022, https://congbobanan.toaan.gov.vn/6tatcvn/Thong-ke, truy cập ngày 07/3/2024.

[11]. Trần Văn Biên (2023), Hợp đồng thương mại vô hiệu theo pháp luật Việt Nam, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Trường Đại học Hòa Bình, Số 07, Tháng 3/2023.

[12]. Điều 31 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 401), tháng 3/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.

Theo dõi chúng tôi trên: