Thứ ba 10/03/2026 21:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về huy động vốn trong kinh doanh bất động sản tại Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về huy động vốn trong kinh doanh bất động sản tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết khái quát tình hình huy động vốn trong kinh doanh bất động sản tại Việt Nam, phân tích bất cập của pháp luật về huy động vốn trong kinh doanh bất động sản, từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.

Abstract: The article generalizes the situation of capital mobilization in real estate business in Vietnam, analyzes the inadequacies of the law on capital mobilization in real estate business, thereby proposing some solutions to improve the law on this issue.

1. Huy động vốn trong kinh doanh bất động sản - Thực tiễn và sự cần thiết điều chỉnh bằng pháp luật

Trong kinh doanh bất động sản, huy động vốn là hoạt động của chủ dự án bất động sản nhằm gia tăng vốn trong dự án bất động sản thông qua các hình thức khác nhau như chào bán cổ phần, cổ phiếu, phát hành trái phiếu hoặc vay của các tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính và các hình thức huy động vốn khác theo quy định của pháp luật để phục vụ hoạt động kinh doanh bất động sản. Nhà nước đã ban hành những quy phạm pháp luật về huy động vốn trong kinh doanh bất động sản nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội thuộc lĩnh vực này trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, minh bạch tài chính, bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ hợp pháp cho tất cả các chủ thể.

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã luôn quan tâm, chú trọng đến sự phát triển của pháp luật về huy động vốn trong kinh doanh bất động sản nhằm hướng tới một thị trường phát triển lành mạnh, hiện đại hóa, công khai hóa. Điều đó được thể hiện qua việc xây dựng khung pháp luật với xu hướng mở, nhằm thu hút ngày càng mạnh mẽ vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư nước ngoài vào thị trường đầy tiềm năng này phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Các quy định của pháp luật hiện hành đã và đang trở thành công cụ quản lý hữu hiệu thị trường vốn và thị trường bất động sản, kiểm soát và định hướng theo chiều tích cực đối với hoạt động huy động vốn trong kinh doanh bất động sản. Nhờ đó, thị trường kinh doanh bất động sản phát triển nhanh hơn, mạnh hơn, nhất là đối với một số phân khúc bất động sản phát triển vô cùng hiệu quả, có tác động sâu rộng tới sự phát triển kinh tế, văn hóa, an sinh xã hội của đất nước. Đặc biệt, thị trường bất động sản ở Việt Nam cũng đã và đang là cầu nối thu hút gắn kết và tạo đà phát triển cùng với các thị trường khác như: Thị trường tín dụng, tài chính, thị trường lao động, thị trường cung ứng dịch vụ...

Giai đoạn 2016 - 2021, thị trường vốn đã có bước phát triển nhanh, trở thành kênh huy động trung và dài hạn của nền kinh tế, phát triển cân bằng giữa thị trường vốn và thị trường tiền tệ; góp phần quan trọng vào tái cơ cấu nợ công và đầu tư công, quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và đóng góp cho sự phát triển chung của nền kinh tế[1]. Mặc dù gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của đại dịch Covid 19 nhưng hoạt động huy động vốn trong thị trường kinh doanh bất động sản cũng đã từng bước được khắc phục, thích ứng và dần đi vào trật tự, chuyển trạng thái tương đối linh hoạt để giữ vững được sự ổn định. Năm 2021, thị trường kinh doanh bất động sản đã thu hút được khoảng 2,6 tỷ USD vốn FDI, chiếm 8,6% tổng vốn FDI và đứng thứ 3 trong các lĩnh vực FDI. Đến tháng 9/2022, giá trị vốn hóa ngành bất động sản ước tính khoảng 1,7 đến 1,8 tỷ đồng[2].

Trong thời gian qua, các cơ quan quản lý nhà nước về dự án kinh doanh bất động sản đã tập trung rà soát và công khai các dự án không đủ điều kiện để được phép huy động vốn từ khách hàng cũng như từ các tổ chức tín dụng. Đây là một động thái tích cực từ phía cơ quan nhà nước để bảo đảm quyền lợi cho khách hàng, các bên liên quan và các tổ chức tín dụng, hạn chế tối đa các vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, từ đầu năm 2022, diễn biến nền kinh tế trở nên phức tạp, việc huy động vốn trong kinh doanh bất động sản đang trở nên khó khăn hơn. Doanh nghiệp bất động sản gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn tín dụng và huy động vốn thông qua trái phiếu. Đây là hệ quả bắt nguồn từ sự thiếu chặt chẽ trong kiểm soát dòng vốn đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh bất động sản. Đồng thời, trên thị trường bộc lộ những tồn tại cụ thể như: Chủ đầu tư có hành vi huy động vốn trái phép; chủ đầu tư sử dụng vốn sai mục đích; chủ đầu tư huy động vốn từ bất động sản hình thành trong tương lai trong khi dự án nhà ở chưa đủ điều kiện; chủ đầu tư thế chấp dự án, bất động sản trong dự án tại tổ chức tín dụng, mặc dù chưa giải chấp nhưng vẫn tổ chức huy động vốn nhằm mục đích bán nhà ở theo hình thức hợp đồng đầu tư góp vốn...

Thực trạng nêu trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau song không thể phủ nhận rằng, pháp luật về huy động vốn trong kinh doanh bất động sản hiện còn nhiều bất cập và khoảng trống trong quá trình thực thi. Điều đó cho thấy, cần phải nghiên cứu và đánh giá sâu rộng, toàn diện từ chủ trương, chính sách đối với thị trường bất động sản cho tới nội dung pháp luật thực định, cùng với những biến động diễn ra trên thị trường bất động sản để có sự điều chỉnh kịp thời, phù hợp, thắt chặt hoặc nới lỏng quy phạm pháp luật để tránh những vi phạm về huy động vốn.

2. Hoàn thiện pháp luật về huy động vốn trong kinh doanh bất động sản

Trên cơ sở nghiên cứu nội dung pháp luật thực định, nhóm tác giả đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về huy động vốn trong kinh doanh bất động sản như sau:

Thứ nhất, hoàn thiện quy định pháp luật về các nguyên tắc huy động vốn trong kinh doanh bất động sản.

Về cơ bản, các nguyên tắc được quy định trong Luật Kinh doanh bất động sản đã đầy đủ, phù hợp, có ý nghĩa định hướng cho hoạt động này. Tuy nhiên, nguyên tắc “bất động sản đưa vào kinh doanh phải có đủ điều kiện theo quy định của Luật Kinh doanh bất động sản” cần được sửa đổi, bổ sung cho đầy đủ, chính xác hơn. Bởi lẽ, bất động sản được đưa vào huy động vốn là rất đa dạng, bao gồm quyền sử dụng đất, nhà ở, công trình xây dựng, dịch vụ tiện ích... Do đó, các điều kiện cụ thể để bất động sản được phép đưa vào huy động vốn trong kinh doanh bất động sản không chỉ tuân thủ Luật Kinh doanh bất động sản mà còn phải tuân thủ quy định của Luật Đất đai và các quy định pháp luật có liên quan khác nhằm bảo đảm sự thống nhất giữa các văn bản quy phạm pháp luật trong quá trình thực thi. Vì vậy, nhóm tác giả đề xuất chỉnh sửa nguyên tắc này thành: “Bất động sản đưa vào kinh doanh phải có đủ điều kiện theo quy định của Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Đất đai và pháp luật khác có liên quan”.

Thứ hai, hoàn thiện các quy định pháp luật về vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư kinh doanh bất động sản.

Theo quy định của Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014, tổ chức, cá nhân muốn kinh doanh bất động sản chỉ cần có vốn pháp định tối thiểu 20 tỷ đồng là có thể đăng ký thành lập công ty kinh doanh bất động sản. Với quy định này, thị trường xuất hiện quá nhiều các công ty kinh doanh bất động sản, nhưng lại yếu kém về năng lực tài chính, hạn chế về nguồn vốn khiến cho thị trường trở nên “méo mó” và biến động ngoài quy luật. Điểm tích cực của những lần biến động thị trường chính là tăng năng lực cạnh tranh, tức là các doanh nghiệp yếu kém sẽ bị đào thải, các doanh nghiệp có năng lực sẽ trụ lại, tuy nhiên, thiệt hại mà nó gây ra cho nền kinh tế là không thể phủ nhận. Do vậy, để làm cho thị trường bất động sản minh bạch, ổn định hơn, cần tăng vốn pháp định cho các doanh nghiệp, chủ thể kinh doanh bất động sản, hạn chế việc các nhà đầu tư nhỏ, không đủ năng lực tài chính cũng tham gia vào gây nhiễu loạn thị trường.

Thứ ba, hoàn thiện pháp luật về các cơ chế huy động vốn dài hạn cho các dự án kinh doanh bất động sản.

Có thể nói, tìm ra các kênh để huy động vốn trong kinh doanh bất động sản một cách hiệu quả là vấn đề trọng tâm chưa có giải pháp phù hợp cho Việt Nam. Các dự án đầu tư kinh doanh bất động sản vẫn huy động vốn chủ yếu theo hình thức bán bất động sản hình thành trong tương lai và huy động vốn thông qua các tổ chức tín dụng, phát hành trái phiếu, nguồn vốn khác chỉ chiếm từ 15% - 30%. Vì vậy, cần áp dụng các kinh nghiệm về huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán, qua các quỹ tiết kiệm nhà ở, các quỹ xã hội để phát triển nhà ở cho các nhóm yếu thế như kinh nghiệm của Hoa Kỳ, Singapore, Australia... Đẩy mạnh chứng khoán hóa việc huy động vốn cho kinh doanh bất động sản như kinh nghiệm của Hoa Kỳ, Singapore, Thái Lan là giải pháp thay thế cho cơ chế huy động vốn thông qua bán bất động sản hình thành trong tương lai, nhằm làm giảm rủi ro đang ở mức độ cao như hiện nay.

Thứ tư, hoàn thiện pháp luật về các hình thức huy động vốn trong kinh doanh bất động sản.

- Hoàn thiện pháp luật về huy động vốn trong kinh doanh bất động sản thông qua vốn góp là quyền sử dụng đất. Trong thực tế, giao dịch góp vốn bằng quyền sử dụng đất để kinh doanh bất động sản và góp vốn bằng quyền sử dụng đất để tạo vốn điều lệ cho doanh nghiệp là khác nhau nhưng Luật Đất đai năm 2013 không phân biệt rõ cơ chế hoạt động của hai trường hợp góp vốn trên. Do đó, cần đề xuất sửa đổi cụ thể các quy định có liên quan đến góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo hướng quy định rõ hai loại hình góp vốn kể trên, gồm:

+ Góp vốn bằng quyền sử dụng đất hình thành pháp nhân mới (có chuyển quyền sử dụng đất): Giá trị quyền sử dụng đất của người sử dụng đất chuyển hóa thành cổ phần, vốn góp trong doanh nghiệp, người sử dụng đất không được đòi lại quyền sử dụng đất sau khi góp vốn để bảo đảm doanh nghiệp chủ động trong sản xuất kinh doanh. Việc sửa đổi này hoàn toàn phù hợp với quy định của Luật Đất đai và Luật Doanh nghiệp.

+ Góp vốn bằng quyền sử dụng đất không hình thành pháp nhân (không chuyển quyền sử dụng đất và có thời hạn góp vốn): Người sử dụng đất thỏa thuận trên cơ sở hợp đồng với các cá nhân, tổ chức kinh tế, để đưa quyền sử dụng đất vào hợp tác, sản xuất kinh doanh, bao gồm cả việc đưa quyền sử dụng đất vào hoạt động trong thị trường kinh doanh bất động sản theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đầu tư năm 2020.

Đồng thời, khoản 3 Điều 80 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai (Nghị định số 43/2014/NĐ-CP) chưa quy định rõ việc chấm dứt góp vốn đối với trường hợp bên nhận góp vốn là tổ chức kinh tế đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất cho tổ chức hoặc cá nhân. Trong khi đó, Điều 177 Luật Đất đai năm 2013 quy định, tổ chức kinh tế nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất được phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, cũng tức là các tổ chức kinh tế hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản được phép chuyển nhượng tài sản góp vốn là quyền sử dụng đất. Đây là sự chưa thống nhất trong nội dung của Luật và văn bản dưới Luật, do đó, đề nghị bổ sung vào khoản 3 Điều 80 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP nội dung về chấm dứt việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất, cụ thể: Việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất chấm dứt trong trường hợp bên nhận góp vốn là tổ chức kinh tế chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất cho tổ chức hoặc cá nhân.

- Hoàn thiện pháp luật về huy động vốn trong kinh doanh bất động sản thông qua các tổ chức tín dụng. Trong bối cảnh thị trường tài chính như hiện nay, tín dụng ngân hàng vẫn chính là kênh cung cấp vốn chủ yếu cho các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản. Tuy nhiên, để việc huy động vốn theo kênh này đạt hiệu quả cao thì cần phải tăng cường huy động vốn trung hạn và dài hạn của các ngân hàng kết hợp với nâng tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung và hài hạn. Đồng thời, cần phải thiết lập và nâng cao chất lượng các kênh thông tin về thị trường bất động sản để làm cơ sở cho các ngân hàng thẩm định dự án, đánh giá khả năng chi trả của các chủ đầu tư.

Luật Đất đai năm 2013 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 dường như chưa có đầy đủ, đồng bộ các quy định về căn cứ để xác định bất động sản hợp pháp để cho vay cũng như những quy định về việc xác định giá trị tài sản là bất động sản đã khiến cho nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn từ ngân hàng. Do đó, cần sớm hoàn thiện, sửa đổi và bổ sung một số quy định trong hệ thống pháp luật về đất đai, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động huy động vốn kinh doanh bất động sản. Trong đó, quy định cụ thể, thống nhất khi thế chấp dự án bất động sản để huy động vốn kinh doanh bất động sản cần xem xét đồng thời quyền sử dụng đất có đủ điều kiện thực hiện thế chấp theo quy định của Luật Đất đai hay không. Theo đó, đối với dự án bất động sản được Nhà nước cho thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê, thì chủ đầu tư dự án được quyền thế chấp. Còn đối với dự án bất động sản được Nhà nước cho thuê đất trả tiền hàng năm, thì chủ đầu tư không được thế chấp toàn bộ dự án, mà trong trường hợp này, chủ đầu tư chỉ được thế chấp các công trình xây dựng, các tài sản gắn liền với đất thuộc sở hữu của nhà đầu tư.

- Đối với hình thức huy động vốn bằng trái phiếu, để thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển, tháo gỡ khó khăn về vốn cho doanh nghiệp thì pháp luật nên có hướng mở rộng thêm quyền cho doanh nghiệp được phát hành trái phiếu kèm theo quyền mua nhà hoặc ưu tiên mua nhà. Đồng thời, cần quy định chi tiết và cụ thể về điều kiện để doanh nghiệp kinh doanh bất động sản được huy động vốn thông qua trái phiếu.

Thứ năm, hoàn thiện pháp luật về huy động vốn thông qua bất động sản hình thành trong tương lai.

Hiện nay, một số bất động sản mặc dù chưa đủ điều kiện theo Điều 55 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 nhưng vẫn được đưa vào huy động vốn dưới nhiều hình thức khác nhau nhằm trốn tránh các quy định của pháp luật như việc kí kết hợp đồng đặt cọc, hợp đồng thuê mua... Nhiều khách hàng sau khi thực hiện kí kết các loại hợp đồng này đã không nhận được nhà, chậm nhận nhà, thậm chí bị chủ đầu tư ôm tiền bỏ trốn. Đây chính là thực tiễn đang xảy ra đối với khá nhiều dự án bất động sản mà cho dù khách hàng có kiện ra tòa thì cũng khó đòi được tiền, chưa kể tới việc được đền bù thiệt hại. Do vậy, cần thắt chặt quy định hơn đối với các loại hợp đồng “dùng để lách luật”, quy định chi tiết về giá trị tối đa mà khách hàng thanh toán cho chủ đầu tư đối với các hợp đồng xoay quanh thị trường bất động sản, chỉ được thanh toán trước từ 30% - 50% trước khi được bàn giao bất động sản đã hoàn thiện.

Theo quy định của pháp luật, các loại nhà ở, các công trình xây dựng hình thành trong tương lai trước khi được mở bán phải được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nghiệm thu theo đúng các quy định của pháp luật, không được thiếu bất kì một điều kiện nào. Nếu như việc nghiệm thu diễn ra chưa đúng, để lọt bất động sản không đạt yêu cầu vào thị trường kinh doanh bất động sản, trách nhiệm không chỉ quy cho chủ đầu tư dự án mà những người thực hiện hoạt động nghiệm thu sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Đây chính là giải pháp tránh cho việc “lợi ích nhóm” xuất hiện, quyền đi liền với trách nhiệm, người thực hiện hoạt động nghiệm thu sẽ nghiêm túc thực hiện công việc của mình hơn, tránh tối đa những sai phạm xảy ra.

Thứ sáu, hoàn thiện pháp luật về huy động vốn thông qua các tổ chức tín dụng.

Khi vay vốn tại các tổ chức tín dụng, chủ đầu tư và các tổ chức tín dụng có thể thỏa thuận về lựa chọn biện pháp bảo đảm tiền vay, gồm: Cầm cố, thế chấp, đặt cược, ký quỹ, bảo lãnh, trong đó thế chấp là biện pháp bảo đảm được sử dụng nhiều nhất. Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành, Nhà nước đã gián tiếp cho phép các chủ đầu tư được thế chấp dự án kinh doanh bất động sản của mình để huy động vốn phục vụ cho việc đầu tư, xây dựng dự án kinh doanh bất động sản đó. Khi thế chấp dự án kinh doanh bất động sản, chủ đầu tư phải thực hiện theo quy định của pháp luật, cụ thể là quy định tại Thông tư số 07/2019/TT-BTP ngày 25/11/2919 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số nội dung về đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 174 Luật Đất đai năm 2013, đối với tài sản là quyền sử dụng đất, để thực hiện hoạt động thế chấp thì quyền sử dụng đất đó phải là do Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trả tiền một lần cho toàn bộ thời gian thuê. Vấn đề đặt ra là, nếu chủ đầu tư thế chấp toàn bộ dự án kinh doanh bất động sản, không tách biệt quyền sử dụng đất với các tài sản khác thì Bộ luật Dân sự năm 2015 không đặt ra những điều kiện hạn chế như quy định tại Luật Đất đai năm 2013. Như vậy, chủ đầu tư thế chấp dự án đầu tư bất động sản sẽ không loại trừ trường hợp được Nhà nước cho thuê đất trả tiền hàng năm. Sự thiếu chặt chẽ trong quy định của pháp luật như trên đã tạo ra những kẽ hở cho các nhà đầu tư kinh doanh bất động sản lợi dụng trong quá trình làm thẩm định tài sản thế chấp là các dự án đầu tư bất động sản. Vì vậy, nhóm tác giả đề xuất nghiên cứu, sửa đổi cho nội dung các quy định pháp luật đồng nhất với nhau, tránh sự chồng chéo, mâu thuẫn.

Thứ bảy, hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm đối với hoạt động huy động vốn trong kinh doanh bất động sản.

Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 chưa quy định rõ ràng về mức bồi thường thiệt hại về vi phạm đối với hoạt động huy động vốn trong kinh doanh bất động sản nên vấn đề này được điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại trong khi pháp luật dân sự đề cao sự thỏa thuận, pháp luật thương mại quy định mức phạt không quá 8%, vì vậy, trong thực tế, chủ đầu tư thường quy định mức phạt trong hợp đồng chỉ có 0,05% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm. Tiếp đó, tại Điều 58 Nghị định số 16/2022/NĐ-CP ngày 28/01/2022 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về xây dựng (Nghị định số 16/2022/NĐ-CP) đã quy định chi tiết về mức xử phạt hành chính đối với sai phạm trong kinh doanh bất động sản nói chung và huy động vốn trong kinh doanh bất động sản nói riêng. So với Nghị định số 139/2017/NĐ-CP ngày 27/11/2017 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng; khai thác, chế biến, kinh doanh khoáng sản làm vật liệu xây dựng, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; kinh doanh bất động sản, phát triển nhà ở, quản lý sử dụng nhà và công sở, mức phạt quy định tại Nghị định số 16/2022/NĐ-CP đã tăng lên rất nhiều với mức phạt cao nhất là 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng). Tuy nhiên, nếu so với lợi ích thu được từ việc vi phạm pháp luật về huy động trong kinh doanh bất động sản thì mức phạt này là quá thấp, nhiều nhà đầu tư biết luật nhưng vẫn cố tình làm trái luật, chấp nhận nộp phạt, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích chính đáng của các chủ thể khác. Vì vậy, cần tăng mức chế tài xử phạt đối với hành vi vi phạm trong hoạt động huy động vốn trong kinh doanh bất động sản, quy định rõ quy mô, mức độ vi phạm để đề ra trách nhiệm truy cứu hình sự và thu hồi giấy phép kinh doanh trong một thời gian nhất định hoặc tước giấy phép kinh doanh vĩnh viễn đối với các hành vi vi phạm quá nặng.

Huy động vốn trong kinh doanh bất động sản là một hoạt động phức tạp, có ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển của thị trường bất động sản và sự tăng trưởng của nền kinh tế. Do vậy, pháp luật về huy động vốn trong kinh doanh bất động sản cần hội tụ đủ các yếu tố: Tính đầy đủ, tính rõ ràng, tính thống nhất, tính ổn định. Để làm được điều này, cần phải thường xuyên rà soát, đánh giá thực tiễn thực thi để sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật.

Nguyễn Thị Ngần

Vũ Thương Thảo

Sinh viên Đại học Luật Hà Nội

[1]. https://moc.gov.vn/vn/tin-tuc/1206/71928/phat-trien-thi-truong-von-thi-truong-bat-dong-san-lanh-manh.aspx.

[2]. Theo Bộ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Thanh Nghị, Báo cáo về các nhóm vấn đề chất vấn và trả lời chất vấn, phiên chất vấn tại Quốc hội ngày 03/11/2022.

Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 376), tháng 3/2023

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.

Theo dõi chúng tôi trên: