Thứ ba 28/07/2026 21:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về mua, bán nợ xấu của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam

Bài viết tập trung làm rõ khái niệm, đặc điểm của hoạt động mua, bán nợ xấu của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC), những bất cập của pháp luật về vấn đề này, từ đó, đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về mua, bán nợ xấu của VAMC.

1. Khái niệm, đặc điểm mua, bán nợ xấu của VAMC

1.1. Khái niệm mua, bán nợ xấu

Nợ xấu là khoản nợ phát sinh trên cơ sở hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tín dụng (TCTD). Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS), nợ xấu bao gồm toàn bộ các khoản cho vay đã quá hạn 90 ngày và có dấu hiệu người đi vay không trả được nợ. Ở Việt Nam, theo Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các TCTD (Nghị quyết số 42/2017/QH14), Thông tư số 11/2021/TT-NHNN ngày 30/7/2021 của Ngân hàng Nhà nước quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn). Từ đó, có thể hiểu, nợ xấu là các khoản nợ phát sinh trên cơ sở hoạt động cấp tín dụng của các TCTD, đã quá hạn trả nợ từ 90 ngày trở lên và con nợ bị nghi ngờ về khả năng trả nợ. Khoản nợ bao gồm số tiền nợ gốc, nợ lãi và các nghĩa vụ tài chính khác liên quan đến khoản nợ mà khách hàng chưa trả theo hợp đồng hoặc thỏa thuận cấp tín dụng.

Mua, bán nợ xấu của VAMC được hiểu là sự thỏa thuận thể hiện thông qua hợp đồng bằng văn bản giữa TCTD (bên bán nợ) và VAMC (bên mua nợ) về việc chuyển nhượng quyền sở hữu khoản nợ từ bên bán nợ sang bên mua nợ theo các điều kiện, nguyên tắc, phương thức và quy trình luật định.

1.2. Đặc điểm của mua, bán nợ xấu

Thứ nhất, hoạt động mua, bán nợ xấu của VAMC được thực hiện bởi bên bán nợ là TCTD có khoản nợ xấu và bên mua nợ là VAMC. Sau khi mua nợ từ TCTD, VAMC có thể bán nợ cho các tổ chức, cá nhân đủ điều kiện kinh doanh nợ xấu. TCTD và VAMC thỏa thuận về việc mua, bán nợ trong hợp đồng mua, bán nợ. Toàn bộ các quyền và lợi ích gắn liền với khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm và biện pháp bảo đảm khác cho khoản nợ xấu bên bán nợ có trách nhiệm giữ nguyên hiện trạng và chuyển giao cho bên mua nợ theo hợp đồng mua, bán nợ.

Thứ hai, các khoản nợ xấu được mua, bán bởi VAMC phải thỏa mãn điều kiện nhất định. Đây là khoản nợ xấu của TCTD, bao gồm nợ xấu trong các hoạt động cấp tín dụng, mua trái phiếu doanh nghiệp, ủy thác mua trái phiếu doanh nghiệp, ủy thác cấp tín dụng và hoạt động khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước; khoản nợ xấu có tài sản bảo đảm; khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm phải hợp pháp và có hồ sơ, giấy tờ hợp lệ; khách hàng vay còn tồn tại; số dư của khoản nợ xấu hoặc dư nợ xấu của khách hàng vay không thấp hơn mức quy định của Ngân hàng Nhà nước. Điều này cho thấy, không phải khoản nợ xấu nào của các TCTD cũng được VAMC mua mà chỉ những khoản nợ xấu có tài sản bảo đảm thì mới thuộc đối tượng mua, bán của VAMC. TCTD có tỷ lệ nợ xấu từ 03% so với tổng dư nợ tín dụng trở lên phải bán nợ cho VAMC. Trên cơ sở kết quả thanh tra, định giá, kiểm toán độc lập, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu TCTD phải bán nợ cho VAMC để bảo đảm tỷ lệ nợ xấu của TCTD ở mức an toàn và áp dụng các biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật.

Thứ ba, các nguyên tắc mua, bán nợ xấu của VAMC. Khi mua, bán nợ xấu, VAMC phải tuân thủ các nguyên tắc chung của xử lý nợ xấu của TCTD và các nguyên tắc đặc thù khi mua, bán nợ xấu của VAMC. Các nguyên tắc chung của xử lý nợ xấu là: Bảo đảm công khai, minh bạch, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; phù hợp với cơ chế thị trường trên nguyên tắc thận trọng, bảo đảm quyền lợi của người gửi tiền và giữ vững sự ổn định, an toàn hệ thống; không sử dụng ngân sách nhà nước để xử lý nợ xấu; cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật để xảy ra nợ xấu và trong quá trình xử lý nợ xấu phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Các nguyên tắc đặc thù khi mua, bán nợ xấu của VAMC bao gồm: Tuân thủ đúng quy định của pháp luật và hợp đồng mua, bán nợ; hạn chế rủi ro và chi phí trong mua, bán nợ xấu; việc mua, bán nợ xấu được thực hiện đối với từng khoản nợ xấu hoặc theo từng khách hàng vay trong trường hợp khách hàng vay có nhiều khoản nợ xấu tại một TCTD hoặc theo từng nhóm khách hàng vay trong trường hợp một tài sản bảo đảm cho các khoản nợ xấu của nhiều khách hàng vay tại một TCTD hoặc theo hình thức khác do các bên thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật[1]. Có thể thấy, các nguyên tắc mua, bán nợ xấu của VAMC trước hết nhằm mục tiêu bảo vệ quyền lợi của chủ nợ là các TCTD cho vay, bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, hài hòa hóa lợi ích giữa Nhà nước, các ngân hàng (chủ nợ) và VAMC và bảo đảm sự an toàn cho các TCTD. Điều này cũng phù hợp với các nguyên tắc quản lý nợ xấu của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng.

Thứ tư, các phương thức mua, bán nợ xấu của VAMC. Khác với mua, bán nợ xấu của các tổ chức, cá nhân khác, VAMC mua, bán nợ xấu theo hai phương thức: Mua nợ xấu của TCTD theo giá trị ghi sổ bằng trái phiếu đặc biệt do VAMC phát hành và mua nợ xấu của TCTD theo giá trị thị trường bằng nguồn vốn không phải trái phiếu đặc biệt. Trái phiếu đặc biệt là giấy tờ có giá có thời hạn do VAMC phát hành để mua nợ xấu của TCTD. Trái phiếu phát hành trực tiếp cho TCTD bán nợ để mua nợ xấu theo giá trị thị trường là giấy tờ có giá có thời hạn do VAMC phát hành trực tiếp cho TCTD bán nợ khi mua nợ xấu theo giá trị thị trường. VAMC thực hiện phát hành trái phiếu đặc biệt để mua nợ xấu của TCTD. Mệnh giá của trái phiếu tương ứng với giá trị của khoản nợ xấu mà VAMC mua của ngân hàng thương mại. Việc mua nợ xấu bằng trái phiếu đặc biệt của VAMC phải tuân theo điều kiện, quy trình luật định. Trái phiếu đặc biệt có thể được gia hạn, tổng thời hạn gia hạn và thời gian gốc của trái phiếu đặc biệt tối đa không quá 10 năm kể từ ngày phát hành. Một trái phiếu, trái phiếu đặc biệt được phát hành tương ứng với một khoản nợ xấu được mua, bán, có lãi suất 0%.

Thứ năm, hoạt động mua, bán nợ xấu của VAMC được điều chỉnh trong văn bản pháp luật đặc thù, khác với mua, bán nợ xấu của các tổ chức, cá nhân khác. Hiện nay, ở Việt Nam, Nghị quyết số 42/2017/QH14 áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân xử lý nợ xấu của TCTD, trong đó có VAMC. Tuy nhiên, để cụ thể hóa hoạt động xử lý nợ xấu của VAMC thì có văn bản riêng điều chỉnh (Thông tư số 19/2013/TT-NHNN, Nghị định số 53/2013/NĐ-CP ngày 18/5/2013 của Chính phủ quy định về thành lập, tổ chức và hoạt động của VAMC). Hoạt động mua, bán nợ của Công ty trách nhiệm hữu hạn Mua, bán nợ Việt Nam (DATC) được điều chỉnh bởi Thông tư số 135/2015/TT-BTC ngày 31/8/2015 của Bộ Tài chính ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của DATC. Còn các chủ thể khác tham gia xử lý nợ xấu chịu sự điều chỉnh của văn bản khác (Thông tư số 09/2015/TT-NHNN ngày 17/7/2015 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động mua, bán nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài). Điều này cho thấy tầm quan trọng của VAMC trong xử lý nợ xấu. Đây là công ty xử lý nợ xấu của Nhà nước, được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ. VAMC đã thành lập Sàn giao dịch nợ (chính thức đi vào hoạt động từ ngày 15/10/2021), tạo kênh xử lý nợ xấu ngân hàng hiệu quả, góp phần tích cực tư vấn, hỗ trợ việc mua bán, cơ cấu nợ của các TCTD được diễn ra nhanh chóng, khách quan, công khai và minh bạch[2].

2. Một số bất cập của pháp luật về hoạt động mua, bán nợ xấu của VAMC

Pháp luật về mua, bán nợ xấu của VAMC đã được ban hành, tuy nhiên vẫn còn những bất cập cần được hoàn thiện, cụ thể như sau:

Một là, về quyền thu giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu: Theo điểm b khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 42/2017/QH14, các chủ thể mua, bán nợ xấu (trong đó có VAMC) chỉ được thu giữ tài sản bảo đảm khi hợp đồng bảo đảm có thỏa thuận về việc bên bảo đảm đồng ý cho TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có quyền thu giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu khi xảy ra trường hợp xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật. Vì vậy, VAMC rất khó thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý vì hầu hết các hợp đồng bảo đảm ký kết trước thời điểm Nghị quyết số 42/2017/QH14 có hiệu lực đều không có thỏa thuận về việc đồng ý của bên bảo đảm cho TCTD thu giữ tài sản bảo đảm, bởi lẽ lúc đó Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm quy định quyền thu giữ tài sản bảo đảm là quyền đương nhiên của TCTD nhận bảo đảm. Do vậy, VAMC khó thực hiện được quyền thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý nợ xấu.

Hai là, pháp luật quy định về quyền và nghĩa vụ của VAMC chưa thực sự hợp lý, VAMC phụ thuộc nhiều vào Ngân hàng Nhà nước khi giải quyết các vấn đề trong quá trình thực hiện hoạt động mua, bán nợ xấu của TCTD. Khi mua nợ xấu theo phương thức phát hành trái phiếu đặc biệt hay theo giá trị thị trường thì VAMC đều phải làm hồ sơ xin phép và được sự chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về các phương án này. Điều này ảnh hưởng đến tiến độ xử lý nợ xấu và tính độc lập của VAMC trong hoạt động xử lý nợ xấu.

Ba là, Điều 12 Nghị quyết số 42/2017/QH14 quy định thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu như sau: Số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu, sau khi trừ chi phí bảo quản, thu giữ và chi phí xử lý tài sản bảo đảm được ưu tiên thanh toán cho nghĩa vụ nợ được bảo đảm cho TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu trước khi thực hiện nghĩa vụ thuế, nghĩa vụ khác không có bảo đảm của bên bảo đảm. Tuy nhiên, theo Công văn số 736/TCT-DNL ngày 05/3/2018 của Tổng cục Thuế về việc khai, nộp thuế khi bán tài sản bảo đảm thì: Trường hợp khi chuyển nhượng bất động sản mà tài sản bảo đảm vẫn thuộc sở hữu của khách hàng vay nợ, VAMC đứng ra bán tài sản bảo đảm thì VAMC phải khai, nộp thay thuế thu nhập cá nhân hoặc thuế thu nhập doanh nghiệp đối với thu nhập chuyển nhượng bất động sản theo quy định. Vậy, VAMC vẫn phải trả thuế trước khi thanh toán nghĩa vụ nợ. Điều này cho thấy, quy định của Nghị quyết số 42/2017/QH14 chưa thống nhất với các văn bản khác liên quan, gây khó khăn cho VAMC khi thực hiện mua, bán và xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu.

Bốn là, khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số 42/2017/QH14 quy định: Tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu được mua khoản nợ xấu đang hạch toán trong, ngoài bảng cân đối kế toán của TCTD, trừ TCTD liên doanh và TCTD 100% vốn nước ngoài. Điều này cho thấy, VAMC chỉ được mua khoản nợ xấu của TCTD trong nước, không được mua nợ xấu của TCTD có vốn đầu tư nước ngoài. Như vậy, pháp luật đã giới hạn các khoản nợ được mua bởi VAMC và tạo sự cạnh tranh không bình đẳng giữa các TCTD trong nước và TCTD có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Điều này chưa thực sự hợp lý, bởi lẽ Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) không quy định và thể hiện sự không biệt đối xử giữa các loại hình TCTD, bảo đảm quyền tự chủ và tự quyết của các loại hình TCTD. Do đó, về nguyên tắc, TCTD nước ngoài cũng có quyền tự quyết việc bán khoản nợ xấu cho VAMC và trên cơ sở đó bảo đảm sự an toàn trong hoạt động ngân hàng.

Năm là, trong quá trình mua, bán nợ xấu, VAMC được tự thực hiện đấu giá tài sản là khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản (Điều 35 Thông tư số 19/2013/TT-NHNN). Tuy nhiên, hoạt động đấu giá tài sản của VAMC chỉ giới hạn trong phạm vi các khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu mà VAMC đã mua của TCTD, dẫn đến trên thực tế VAMC gặp một số khó khăn trong quá trình mua, bán nợ xấu như: (i) Các khoản nợ mua bằng trái phiếu đặc biệt sẽ được chuyển giao lại TCTD khi đến hạn thanh toán, VAMC sẽ không có quyền tiếp tục thực hiện bán đấu giá và TCTD sẽ phải thực hiện đấu giá lại từ đầu các khoản nợ, tài sản bảo đảm của khoản nợ; (ii) Khi VAMC thực hiện mua các khoản nợ đồng tài trợ với các TCTD, thì VAMC cũng không thể thực hiện đấu giá toàn bộ khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu; (iii) Nhiều khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu được niêm yết trên Sàn giao dịch nợ của VAMC và có các hợp đồng nguyên tắc, môi giới khoản nợ xấu giữa VAMC và TCTD, VAMC cũng không thể tự thực hiện việc đấu giá này do khoản nợ, tài sản bảo đảm của khoản nợ không thuộc phạm vi, đối tượng đấu giá của VAMC… Với vai trò của VAMC là tổ chức do Nhà nước thành lập để xử lý nợ xấu thì hoạt động đấu giá tài sản của VAMC được thực hiện trong phạm vi khá hẹp, chưa phù hợp với chức năng của tổ chức xử lý nợ xấu chuyên nghiệp[3].

Sáu là, các điều kiện mua nợ xấu của VAMC theo giá trị thị trường hiện pháp luật quy định khá chặt chẽ. Ngoài các điều kiện như đối với khoản nợ xấu mua theo phương thức phát hành trái phiếu đặc biệt (khoản 1 Điều 16 Thông tư số 19/2013/TT-NHNN), các khoản nợ VAMC mua theo giá trị thị trường phải thỏa mãn thêm các điều kiện như: Được VAMC đánh giá có khả năng thu hồi đầy đủ số tiền mua nợ; tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu có khả năng phát mại hoặc khách hàng vay có triển vọng phục hồi khả năng trả nợ; trường hợp chuyển khoản nợ xấu đã mua bằng trái phiếu đặc biệt thành khoản nợ xấu mua theo giá trị thị trường thì trái phiếu đặc biệt tương ứng với khoản nợ xấu đó còn phải đáp ứng điều kiện chưa đến hạn thanh toán và đang không bị phong tỏa tại Ngân hàng Nhà nước (Điều 23 Thông tư số 19/2013/TT-NHNN). Quy định này dẫn đến việc mua, bán nợ xấu theo giá trị thị trường rất hạn chế. Hầu hết các khoản nợ VAMC mua là theo phương thức phát hành trái phiếu đặc biệt. Tuy nhiên, phương thức này về bản chất chỉ thể hiện việc “giữ hộ” nợ xấu của VAMC cho các TCTD.

3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về mua, bán nợ xấu của VAMC

Một là, khẳng định quyền thu giữ tài sản bảo đảm là quyền đương nhiên của VAMC vì VAMC là chủ thể mua nợ xấu từ TCTD, tiếp nhận các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ khoản nợ xấu, trong đó có quyền xử lý tài sản bảo đảm đối với khoản nợ khi khoản nợ quá hạn. Việc có thỏa thuận hay không có thỏa thuận với bên bảo đảm về việc giao tài sản bảo đảm không quan trọng vì khi hợp đồng bảo đảm có hiệu lực và bên được bảo đảm (khách hàng) vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì bên nhận bảo đảm có quyền thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý, thu hồi nợ. Vậy quyền thu giữ tài sản bảo đảm là một trong các quyền phát sinh từ bản chất của hợp đồng bảo đảm. Nếu hợp đồng này được xác lập một cách hợp pháp thì đương nhiên quyền thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý và thu hồi nợ là quyền đương nhiên của bên nhận bảo đảm và VAMC (là bên mua khoản nợ có bảo đảm).

Hai là, pháp luật cần quy định rõ thứ tự thanh toán các khoản thuế và lệ phí trực tiếp liên quan đến việc chuyển nhượng tài sản bảo đảm khi xử lý nợ xấu của VAMC (thuế thu nhập cá nhân, lệ phí trước bạ, thuế thu nhập doanh nghiệp). Các khoản chi phí này cần được ưu tiên thực hiện trước khi thanh toán nghĩa vụ nợ cho TCTD, từ đó bảo đảm quyền bán tài sản bảo đảm và thu hồi nợ của VAMC.

Ba là, pháp luật cần quy định đa dạng các khoản nợ xấu được mua, bán bởi VAMC, trong đó có thể là nợ xấu của TCTD được thành lập trên cơ sở nguồn vốn của các tổ chức, cá nhân trong nước và nợ xấu của các TCTD có vốn đầu tư nước ngoài, từ đó bảo đảm sự cạnh tranh bình đẳng giữa các loại hình TCTD và bảo đảm sự ổn định, phát triển của hệ thống ngân hàng.

Bốn là, pháp luật cần quy định mở rộng phạm vi tài sản bán đấu giá thuộc thẩm quyền của VAMC như tài sản thuộc khoản nợ được đưa ra bán đấu giá trên Sàn giao dịch nợ, các tài sản bảo đảm cho các khoản nợ đồng tài trợ. Điều này sẽ mang lại nhiều tác động tích cực đến hoạt động xử lý nợ xấu của VAMC nói riêng và của toàn Ngành Ngân hàng nói chung[4], tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa VAMC và các TCTD trong hoạt động xử lý nợ xấu, góp phần đẩy nhanh việc xử lý nợ xấu hiệu quả, góp phần thúc đẩy thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam.

Năm là, các điều kiện đối với khoản nợ xấu được mua theo giá trị thị trường cần được đơn giản hóa, khác với các khoản nợ được mua theo phương thức phát hành trái phiếu đặc biệt, từ đó có thể kích thích thị trường mua, bán nợ xấu phát triển. Ví dụ, không cần thiết các khoản nợ xấu này phải có tài sản bảo đảm mà có thể có bảo lãnh của bên thứ ba và khách hàng vay có triển vọng phục hồi khả năng trả nợ. Đây là hai vấn đề rất quan trọng, có thể tác động mạnh tới việc thu hồi khoản nợ xấu.

Nguyễn Thái Thu Hà

Trung tâm Giáo dục và Đào tạo quốc tế, Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội

[1]. Điều 8 Thông tư số 19/2013/TT-NHNN ngày 06/9/2013 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về việc mua, bán và xử lý nợ xấu của VAMC, được sửa đổi, bổ sung bởi các thông tư của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam như: Thông tư số 14/2015/TT-NHNN, Thông tư số 08/2016/TT-NHNN, Thông tư số 09/2017/TT-NHNN (sau đây gọi là Thông tư số 19/2013/TT-NHNN).

[2]. TS. Cấn Văn Lực (2023), Bức tranh nợ xấu của ngành Ngân hàng và một số kiến nghị, https://www.sbv.gov.vn/webcenter/portal/vi/menu/fm/ddnhnn/nctd/nctd_chitiet?.

[3]. Ngô Thị Minh Thảo, Phạm Thị Tú Anh (2023), Quá trình hoàn thiện pháp lý liên quan đến hoạt động mua bán, xử lý nợ xấu từ khi VAMC được thành lập đến nay, https://sbvamc.vn/bai-viet/qua-trinh-hoan-thien-phap-ly-lien-quan-en-hoat-5855

[4]. Ngô Thị Minh Thảo, Phạm Thị Tú Anh (2023), Quá trình hoàn thiện pháp lý liên quan đến hoạt động mua bán, xử lý nợ xấu từ khi VAMC được thành lập đến nay, https://sbvamc.vn/bai-viet/qua-trinh-hoan-thien-phap-ly-lien-quan-en-hoat-5855.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 384), tháng 7/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: