Thứ bảy 10/10/2026 05:39
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về mua, bán nợ xấu của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam

Bài viết tập trung làm rõ khái niệm, đặc điểm của hoạt động mua, bán nợ xấu của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC), những bất cập của pháp luật về vấn đề này, từ đó, đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về mua, bán nợ xấu của VAMC.

1. Khái niệm, đặc điểm mua, bán nợ xấu của VAMC

1.1. Khái niệm mua, bán nợ xấu

Nợ xấu là khoản nợ phát sinh trên cơ sở hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tín dụng (TCTD). Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS), nợ xấu bao gồm toàn bộ các khoản cho vay đã quá hạn 90 ngày và có dấu hiệu người đi vay không trả được nợ. Ở Việt Nam, theo Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các TCTD (Nghị quyết số 42/2017/QH14), Thông tư số 11/2021/TT-NHNN ngày 30/7/2021 của Ngân hàng Nhà nước quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn). Từ đó, có thể hiểu, nợ xấu là các khoản nợ phát sinh trên cơ sở hoạt động cấp tín dụng của các TCTD, đã quá hạn trả nợ từ 90 ngày trở lên và con nợ bị nghi ngờ về khả năng trả nợ. Khoản nợ bao gồm số tiền nợ gốc, nợ lãi và các nghĩa vụ tài chính khác liên quan đến khoản nợ mà khách hàng chưa trả theo hợp đồng hoặc thỏa thuận cấp tín dụng.

Mua, bán nợ xấu của VAMC được hiểu là sự thỏa thuận thể hiện thông qua hợp đồng bằng văn bản giữa TCTD (bên bán nợ) và VAMC (bên mua nợ) về việc chuyển nhượng quyền sở hữu khoản nợ từ bên bán nợ sang bên mua nợ theo các điều kiện, nguyên tắc, phương thức và quy trình luật định.

1.2. Đặc điểm của mua, bán nợ xấu

Thứ nhất, hoạt động mua, bán nợ xấu của VAMC được thực hiện bởi bên bán nợ là TCTD có khoản nợ xấu và bên mua nợ là VAMC. Sau khi mua nợ từ TCTD, VAMC có thể bán nợ cho các tổ chức, cá nhân đủ điều kiện kinh doanh nợ xấu. TCTD và VAMC thỏa thuận về việc mua, bán nợ trong hợp đồng mua, bán nợ. Toàn bộ các quyền và lợi ích gắn liền với khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm và biện pháp bảo đảm khác cho khoản nợ xấu bên bán nợ có trách nhiệm giữ nguyên hiện trạng và chuyển giao cho bên mua nợ theo hợp đồng mua, bán nợ.

Thứ hai, các khoản nợ xấu được mua, bán bởi VAMC phải thỏa mãn điều kiện nhất định. Đây là khoản nợ xấu của TCTD, bao gồm nợ xấu trong các hoạt động cấp tín dụng, mua trái phiếu doanh nghiệp, ủy thác mua trái phiếu doanh nghiệp, ủy thác cấp tín dụng và hoạt động khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước; khoản nợ xấu có tài sản bảo đảm; khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm phải hợp pháp và có hồ sơ, giấy tờ hợp lệ; khách hàng vay còn tồn tại; số dư của khoản nợ xấu hoặc dư nợ xấu của khách hàng vay không thấp hơn mức quy định của Ngân hàng Nhà nước. Điều này cho thấy, không phải khoản nợ xấu nào của các TCTD cũng được VAMC mua mà chỉ những khoản nợ xấu có tài sản bảo đảm thì mới thuộc đối tượng mua, bán của VAMC. TCTD có tỷ lệ nợ xấu từ 03% so với tổng dư nợ tín dụng trở lên phải bán nợ cho VAMC. Trên cơ sở kết quả thanh tra, định giá, kiểm toán độc lập, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu TCTD phải bán nợ cho VAMC để bảo đảm tỷ lệ nợ xấu của TCTD ở mức an toàn và áp dụng các biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật.

Thứ ba, các nguyên tắc mua, bán nợ xấu của VAMC. Khi mua, bán nợ xấu, VAMC phải tuân thủ các nguyên tắc chung của xử lý nợ xấu của TCTD và các nguyên tắc đặc thù khi mua, bán nợ xấu của VAMC. Các nguyên tắc chung của xử lý nợ xấu là: Bảo đảm công khai, minh bạch, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; phù hợp với cơ chế thị trường trên nguyên tắc thận trọng, bảo đảm quyền lợi của người gửi tiền và giữ vững sự ổn định, an toàn hệ thống; không sử dụng ngân sách nhà nước để xử lý nợ xấu; cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật để xảy ra nợ xấu và trong quá trình xử lý nợ xấu phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Các nguyên tắc đặc thù khi mua, bán nợ xấu của VAMC bao gồm: Tuân thủ đúng quy định của pháp luật và hợp đồng mua, bán nợ; hạn chế rủi ro và chi phí trong mua, bán nợ xấu; việc mua, bán nợ xấu được thực hiện đối với từng khoản nợ xấu hoặc theo từng khách hàng vay trong trường hợp khách hàng vay có nhiều khoản nợ xấu tại một TCTD hoặc theo từng nhóm khách hàng vay trong trường hợp một tài sản bảo đảm cho các khoản nợ xấu của nhiều khách hàng vay tại một TCTD hoặc theo hình thức khác do các bên thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật[1]. Có thể thấy, các nguyên tắc mua, bán nợ xấu của VAMC trước hết nhằm mục tiêu bảo vệ quyền lợi của chủ nợ là các TCTD cho vay, bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, hài hòa hóa lợi ích giữa Nhà nước, các ngân hàng (chủ nợ) và VAMC và bảo đảm sự an toàn cho các TCTD. Điều này cũng phù hợp với các nguyên tắc quản lý nợ xấu của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng.

Thứ tư, các phương thức mua, bán nợ xấu của VAMC. Khác với mua, bán nợ xấu của các tổ chức, cá nhân khác, VAMC mua, bán nợ xấu theo hai phương thức: Mua nợ xấu của TCTD theo giá trị ghi sổ bằng trái phiếu đặc biệt do VAMC phát hành và mua nợ xấu của TCTD theo giá trị thị trường bằng nguồn vốn không phải trái phiếu đặc biệt. Trái phiếu đặc biệt là giấy tờ có giá có thời hạn do VAMC phát hành để mua nợ xấu của TCTD. Trái phiếu phát hành trực tiếp cho TCTD bán nợ để mua nợ xấu theo giá trị thị trường là giấy tờ có giá có thời hạn do VAMC phát hành trực tiếp cho TCTD bán nợ khi mua nợ xấu theo giá trị thị trường. VAMC thực hiện phát hành trái phiếu đặc biệt để mua nợ xấu của TCTD. Mệnh giá của trái phiếu tương ứng với giá trị của khoản nợ xấu mà VAMC mua của ngân hàng thương mại. Việc mua nợ xấu bằng trái phiếu đặc biệt của VAMC phải tuân theo điều kiện, quy trình luật định. Trái phiếu đặc biệt có thể được gia hạn, tổng thời hạn gia hạn và thời gian gốc của trái phiếu đặc biệt tối đa không quá 10 năm kể từ ngày phát hành. Một trái phiếu, trái phiếu đặc biệt được phát hành tương ứng với một khoản nợ xấu được mua, bán, có lãi suất 0%.

Thứ năm, hoạt động mua, bán nợ xấu của VAMC được điều chỉnh trong văn bản pháp luật đặc thù, khác với mua, bán nợ xấu của các tổ chức, cá nhân khác. Hiện nay, ở Việt Nam, Nghị quyết số 42/2017/QH14 áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân xử lý nợ xấu của TCTD, trong đó có VAMC. Tuy nhiên, để cụ thể hóa hoạt động xử lý nợ xấu của VAMC thì có văn bản riêng điều chỉnh (Thông tư số 19/2013/TT-NHNN, Nghị định số 53/2013/NĐ-CP ngày 18/5/2013 của Chính phủ quy định về thành lập, tổ chức và hoạt động của VAMC). Hoạt động mua, bán nợ của Công ty trách nhiệm hữu hạn Mua, bán nợ Việt Nam (DATC) được điều chỉnh bởi Thông tư số 135/2015/TT-BTC ngày 31/8/2015 của Bộ Tài chính ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của DATC. Còn các chủ thể khác tham gia xử lý nợ xấu chịu sự điều chỉnh của văn bản khác (Thông tư số 09/2015/TT-NHNN ngày 17/7/2015 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động mua, bán nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài). Điều này cho thấy tầm quan trọng của VAMC trong xử lý nợ xấu. Đây là công ty xử lý nợ xấu của Nhà nước, được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ. VAMC đã thành lập Sàn giao dịch nợ (chính thức đi vào hoạt động từ ngày 15/10/2021), tạo kênh xử lý nợ xấu ngân hàng hiệu quả, góp phần tích cực tư vấn, hỗ trợ việc mua bán, cơ cấu nợ của các TCTD được diễn ra nhanh chóng, khách quan, công khai và minh bạch[2].

2. Một số bất cập của pháp luật về hoạt động mua, bán nợ xấu của VAMC

Pháp luật về mua, bán nợ xấu của VAMC đã được ban hành, tuy nhiên vẫn còn những bất cập cần được hoàn thiện, cụ thể như sau:

Một là, về quyền thu giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu: Theo điểm b khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 42/2017/QH14, các chủ thể mua, bán nợ xấu (trong đó có VAMC) chỉ được thu giữ tài sản bảo đảm khi hợp đồng bảo đảm có thỏa thuận về việc bên bảo đảm đồng ý cho TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có quyền thu giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu khi xảy ra trường hợp xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật. Vì vậy, VAMC rất khó thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý vì hầu hết các hợp đồng bảo đảm ký kết trước thời điểm Nghị quyết số 42/2017/QH14 có hiệu lực đều không có thỏa thuận về việc đồng ý của bên bảo đảm cho TCTD thu giữ tài sản bảo đảm, bởi lẽ lúc đó Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm quy định quyền thu giữ tài sản bảo đảm là quyền đương nhiên của TCTD nhận bảo đảm. Do vậy, VAMC khó thực hiện được quyền thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý nợ xấu.

Hai là, pháp luật quy định về quyền và nghĩa vụ của VAMC chưa thực sự hợp lý, VAMC phụ thuộc nhiều vào Ngân hàng Nhà nước khi giải quyết các vấn đề trong quá trình thực hiện hoạt động mua, bán nợ xấu của TCTD. Khi mua nợ xấu theo phương thức phát hành trái phiếu đặc biệt hay theo giá trị thị trường thì VAMC đều phải làm hồ sơ xin phép và được sự chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về các phương án này. Điều này ảnh hưởng đến tiến độ xử lý nợ xấu và tính độc lập của VAMC trong hoạt động xử lý nợ xấu.

Ba là, Điều 12 Nghị quyết số 42/2017/QH14 quy định thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu như sau: Số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu, sau khi trừ chi phí bảo quản, thu giữ và chi phí xử lý tài sản bảo đảm được ưu tiên thanh toán cho nghĩa vụ nợ được bảo đảm cho TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu trước khi thực hiện nghĩa vụ thuế, nghĩa vụ khác không có bảo đảm của bên bảo đảm. Tuy nhiên, theo Công văn số 736/TCT-DNL ngày 05/3/2018 của Tổng cục Thuế về việc khai, nộp thuế khi bán tài sản bảo đảm thì: Trường hợp khi chuyển nhượng bất động sản mà tài sản bảo đảm vẫn thuộc sở hữu của khách hàng vay nợ, VAMC đứng ra bán tài sản bảo đảm thì VAMC phải khai, nộp thay thuế thu nhập cá nhân hoặc thuế thu nhập doanh nghiệp đối với thu nhập chuyển nhượng bất động sản theo quy định. Vậy, VAMC vẫn phải trả thuế trước khi thanh toán nghĩa vụ nợ. Điều này cho thấy, quy định của Nghị quyết số 42/2017/QH14 chưa thống nhất với các văn bản khác liên quan, gây khó khăn cho VAMC khi thực hiện mua, bán và xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu.

Bốn là, khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số 42/2017/QH14 quy định: Tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu được mua khoản nợ xấu đang hạch toán trong, ngoài bảng cân đối kế toán của TCTD, trừ TCTD liên doanh và TCTD 100% vốn nước ngoài. Điều này cho thấy, VAMC chỉ được mua khoản nợ xấu của TCTD trong nước, không được mua nợ xấu của TCTD có vốn đầu tư nước ngoài. Như vậy, pháp luật đã giới hạn các khoản nợ được mua bởi VAMC và tạo sự cạnh tranh không bình đẳng giữa các TCTD trong nước và TCTD có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Điều này chưa thực sự hợp lý, bởi lẽ Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) không quy định và thể hiện sự không biệt đối xử giữa các loại hình TCTD, bảo đảm quyền tự chủ và tự quyết của các loại hình TCTD. Do đó, về nguyên tắc, TCTD nước ngoài cũng có quyền tự quyết việc bán khoản nợ xấu cho VAMC và trên cơ sở đó bảo đảm sự an toàn trong hoạt động ngân hàng.

Năm là, trong quá trình mua, bán nợ xấu, VAMC được tự thực hiện đấu giá tài sản là khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản (Điều 35 Thông tư số 19/2013/TT-NHNN). Tuy nhiên, hoạt động đấu giá tài sản của VAMC chỉ giới hạn trong phạm vi các khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu mà VAMC đã mua của TCTD, dẫn đến trên thực tế VAMC gặp một số khó khăn trong quá trình mua, bán nợ xấu như: (i) Các khoản nợ mua bằng trái phiếu đặc biệt sẽ được chuyển giao lại TCTD khi đến hạn thanh toán, VAMC sẽ không có quyền tiếp tục thực hiện bán đấu giá và TCTD sẽ phải thực hiện đấu giá lại từ đầu các khoản nợ, tài sản bảo đảm của khoản nợ; (ii) Khi VAMC thực hiện mua các khoản nợ đồng tài trợ với các TCTD, thì VAMC cũng không thể thực hiện đấu giá toàn bộ khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu; (iii) Nhiều khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu được niêm yết trên Sàn giao dịch nợ của VAMC và có các hợp đồng nguyên tắc, môi giới khoản nợ xấu giữa VAMC và TCTD, VAMC cũng không thể tự thực hiện việc đấu giá này do khoản nợ, tài sản bảo đảm của khoản nợ không thuộc phạm vi, đối tượng đấu giá của VAMC… Với vai trò của VAMC là tổ chức do Nhà nước thành lập để xử lý nợ xấu thì hoạt động đấu giá tài sản của VAMC được thực hiện trong phạm vi khá hẹp, chưa phù hợp với chức năng của tổ chức xử lý nợ xấu chuyên nghiệp[3].

Sáu là, các điều kiện mua nợ xấu của VAMC theo giá trị thị trường hiện pháp luật quy định khá chặt chẽ. Ngoài các điều kiện như đối với khoản nợ xấu mua theo phương thức phát hành trái phiếu đặc biệt (khoản 1 Điều 16 Thông tư số 19/2013/TT-NHNN), các khoản nợ VAMC mua theo giá trị thị trường phải thỏa mãn thêm các điều kiện như: Được VAMC đánh giá có khả năng thu hồi đầy đủ số tiền mua nợ; tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu có khả năng phát mại hoặc khách hàng vay có triển vọng phục hồi khả năng trả nợ; trường hợp chuyển khoản nợ xấu đã mua bằng trái phiếu đặc biệt thành khoản nợ xấu mua theo giá trị thị trường thì trái phiếu đặc biệt tương ứng với khoản nợ xấu đó còn phải đáp ứng điều kiện chưa đến hạn thanh toán và đang không bị phong tỏa tại Ngân hàng Nhà nước (Điều 23 Thông tư số 19/2013/TT-NHNN). Quy định này dẫn đến việc mua, bán nợ xấu theo giá trị thị trường rất hạn chế. Hầu hết các khoản nợ VAMC mua là theo phương thức phát hành trái phiếu đặc biệt. Tuy nhiên, phương thức này về bản chất chỉ thể hiện việc “giữ hộ” nợ xấu của VAMC cho các TCTD.

3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về mua, bán nợ xấu của VAMC

Một là, khẳng định quyền thu giữ tài sản bảo đảm là quyền đương nhiên của VAMC vì VAMC là chủ thể mua nợ xấu từ TCTD, tiếp nhận các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ khoản nợ xấu, trong đó có quyền xử lý tài sản bảo đảm đối với khoản nợ khi khoản nợ quá hạn. Việc có thỏa thuận hay không có thỏa thuận với bên bảo đảm về việc giao tài sản bảo đảm không quan trọng vì khi hợp đồng bảo đảm có hiệu lực và bên được bảo đảm (khách hàng) vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì bên nhận bảo đảm có quyền thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý, thu hồi nợ. Vậy quyền thu giữ tài sản bảo đảm là một trong các quyền phát sinh từ bản chất của hợp đồng bảo đảm. Nếu hợp đồng này được xác lập một cách hợp pháp thì đương nhiên quyền thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý và thu hồi nợ là quyền đương nhiên của bên nhận bảo đảm và VAMC (là bên mua khoản nợ có bảo đảm).

Hai là, pháp luật cần quy định rõ thứ tự thanh toán các khoản thuế và lệ phí trực tiếp liên quan đến việc chuyển nhượng tài sản bảo đảm khi xử lý nợ xấu của VAMC (thuế thu nhập cá nhân, lệ phí trước bạ, thuế thu nhập doanh nghiệp). Các khoản chi phí này cần được ưu tiên thực hiện trước khi thanh toán nghĩa vụ nợ cho TCTD, từ đó bảo đảm quyền bán tài sản bảo đảm và thu hồi nợ của VAMC.

Ba là, pháp luật cần quy định đa dạng các khoản nợ xấu được mua, bán bởi VAMC, trong đó có thể là nợ xấu của TCTD được thành lập trên cơ sở nguồn vốn của các tổ chức, cá nhân trong nước và nợ xấu của các TCTD có vốn đầu tư nước ngoài, từ đó bảo đảm sự cạnh tranh bình đẳng giữa các loại hình TCTD và bảo đảm sự ổn định, phát triển của hệ thống ngân hàng.

Bốn là, pháp luật cần quy định mở rộng phạm vi tài sản bán đấu giá thuộc thẩm quyền của VAMC như tài sản thuộc khoản nợ được đưa ra bán đấu giá trên Sàn giao dịch nợ, các tài sản bảo đảm cho các khoản nợ đồng tài trợ. Điều này sẽ mang lại nhiều tác động tích cực đến hoạt động xử lý nợ xấu của VAMC nói riêng và của toàn Ngành Ngân hàng nói chung[4], tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa VAMC và các TCTD trong hoạt động xử lý nợ xấu, góp phần đẩy nhanh việc xử lý nợ xấu hiệu quả, góp phần thúc đẩy thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam.

Năm là, các điều kiện đối với khoản nợ xấu được mua theo giá trị thị trường cần được đơn giản hóa, khác với các khoản nợ được mua theo phương thức phát hành trái phiếu đặc biệt, từ đó có thể kích thích thị trường mua, bán nợ xấu phát triển. Ví dụ, không cần thiết các khoản nợ xấu này phải có tài sản bảo đảm mà có thể có bảo lãnh của bên thứ ba và khách hàng vay có triển vọng phục hồi khả năng trả nợ. Đây là hai vấn đề rất quan trọng, có thể tác động mạnh tới việc thu hồi khoản nợ xấu.

Nguyễn Thái Thu Hà

Trung tâm Giáo dục và Đào tạo quốc tế, Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội

[1]. Điều 8 Thông tư số 19/2013/TT-NHNN ngày 06/9/2013 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về việc mua, bán và xử lý nợ xấu của VAMC, được sửa đổi, bổ sung bởi các thông tư của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam như: Thông tư số 14/2015/TT-NHNN, Thông tư số 08/2016/TT-NHNN, Thông tư số 09/2017/TT-NHNN (sau đây gọi là Thông tư số 19/2013/TT-NHNN).

[2]. TS. Cấn Văn Lực (2023), Bức tranh nợ xấu của ngành Ngân hàng và một số kiến nghị, https://www.sbv.gov.vn/webcenter/portal/vi/menu/fm/ddnhnn/nctd/nctd_chitiet?.

[3]. Ngô Thị Minh Thảo, Phạm Thị Tú Anh (2023), Quá trình hoàn thiện pháp lý liên quan đến hoạt động mua bán, xử lý nợ xấu từ khi VAMC được thành lập đến nay, https://sbvamc.vn/bai-viet/qua-trinh-hoan-thien-phap-ly-lien-quan-en-hoat-5855

[4]. Ngô Thị Minh Thảo, Phạm Thị Tú Anh (2023), Quá trình hoàn thiện pháp lý liên quan đến hoạt động mua bán, xử lý nợ xấu từ khi VAMC được thành lập đến nay, https://sbvamc.vn/bai-viet/qua-trinh-hoan-thien-phap-ly-lien-quan-en-hoat-5855.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 384), tháng 7/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.

Theo dõi chúng tôi trên: