Thứ sáu 06/11/2026 09:38
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc của viên chức

Bài viết phân tích các quy định pháp luật có liên quan đến quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc của viên chức cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật vấn đề này. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật đối với quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc của viên chức trong thời gian tới.

1. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc của viên chức và một số vướng mắc, bất cập

1.1. Cơ sở pháp lý về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc của viên chức

Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc của viên chức là việc viên chức tự nguyện chấm dứt việc tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hợp đồng và chấm dứt việc thụ hưởng quyền và lợi ích từ đơn vị sự nghiệp công lập khi thỏa mãn điều kiện luật định về trường hợp và thời gian báo trước. Đây là một quyền rất cơ bản của người lao động[1] nói chung và viên chức nói riêng. Rất nhiều quy định trong Luật Viên chức năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2019 (Luật Viên chức) về quyền, hợp đồng làm việc, chế độ thôi việc, chế độ hưu trí được quy định trên nền tảng của pháp luật lao động. Điều đó một phần thể hiện bản chất quan hệ lao động giữa viên chức và đơn vị nghiệp công lập - quan hệ pháp luật bình đẳng. Tuy nhiên, chính vì sự đặc thù về hoạt động nghề nghiệp và hợp đồng làm việc nên các trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng của viên chức cũng khác so với người lao động khác.

Khoản 5 Điều 5 Luật Viên chức quy định: “Hợp đồng làm việc là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa viên chức hoặc người được tuyển dụng làm viên chức với người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập về vị trí việc làm, tiền lương, chế độ đãi ngộ, điều kiện làm việc quyền và nghĩa vụ của mỗi bên”. Bên cạnh đó, “hoạt động nghề nghiệp của viên chức là việc thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ có yêu cầu về trình độ, năng lực, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”[2].

Không phải ngẫu nhiên mà quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của người lao động[3] được quy định trước cả quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của người sử dụng lao động[4], điều đó thể hiện pháp luật ưu tiên bảo vệ quyền lợi của bên yếu thế. Ngược lại, tại Điều 29 Luật Viên chức quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của đơn vị sự nghiệp[5] trước quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của viên chức[6]. Đây là một trong những chế định quan trọng trong pháp luật viên chức cũng như thể hiện sự cân bằng và hài hòa về lợi ích trong mối quan hệ của viên chức đối với đơn vị sự nghiệp công lập. Vì vậy, để thể hiện quyền bình đẳng trong mối quan hệ pháp luật đó, cần có những quy định về các trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng để thể hiện sự cân bằng và bảo đảm quyền và lợi ích của hai phía.

1.2. Các trường hợp viên chức được đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc

Tại Điều 29 Luật Viên chức đã quy định rõ về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc của đơn vị sự nghiệp công lập cũng như viên chức trong những trường hợp cụ thể. Đối với viên chức làm việc theo hợp đồng làm việc không xác định thời hạn thì Luật quy định viên chức có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng nhưng phải thông báo bằng văn bản cho người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập biết trước ít nhất 45 ngày[7]. Viên chức làm việc theo hợp đồng xác định thời hạn thì chỉ được thực hiện quyền này trong các trường hợp cụ thể quy định tại khoản 5 Điều 29 của Luật như sau: (i) Không được bố trí theo đúng vị trí việc làm, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm các điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng làm việc; (ii) Không được trả lương đầy đủ hoặc không được trả lương đúng thời hạn theo hợp đồng làm việc; (iii) Bị ngược đãi, bị cưỡng bức lao động; (iv) Bản thân hoặc gia đình thật sự có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng; (v) Viên chức nữ có thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở chữa bệnh; (vi) Viên chức ốm đau hoặc bị tai nạn đã điều trị từ 03 tháng liên tục mà khả năng làm việc chưa hồi phục. Trong các trường hợp này, viên chức phải thông báo bằng văn bản về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc cho người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập biết trước ít nhất 03 ngày, đối với trường hợp ốm đau hoặc bị tai nạn đã điều trị từ 03 tháng liên tục mà khả năng làm việc chưa hồi phục thì thông báo trước ít nhất 30 ngày.

Quy định này của Luật Viên chức thực chất là cụ thể hóa quy định pháp luật lao động là người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần phải có lý do nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động theo thời gian quy định. Tuy nhiên, quy định này đối với viên chức có một số trường hợp ngoại lệ mà đơn vị sự nghiệp chưa giải quyết thôi việc cho viên chức theo nguyện vọng.

Đặc thù của hoạt động nghề nghiệp của viên chức là việc thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ có yêu cầu về trình độ, năng lực, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập. Do đó, các nghị định hướng dẫn Luật Viên chức về sử dụng và quản lý viên chức (Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 của Chính phủ và Nghị định số 115/2020/NĐ-CP ngày 25/9/2020 của Chính phủ (Nghị định số 115/2020/NĐ-CP)) đều xác định một số trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập chưa giải quyết thôi việc cho viên chức như: (i) Đang trong thời hạn xử lý kỷ luật, đang bị điều tra, truy tố, xét xử; (ii) Chưa làm việc đủ thời gian cam kết với đơn vị sự nghiệp công lập khi được cử đi đào tạo; (iii) Chưa hoàn thành việc thanh toán các khoản tiền, tài sản thuộc trách nhiệm của viên chức đối với đơn vị sự nghiệp công lập; (iv) Do yêu cầu công tác và chưa bố trí được người thay thế[8]. Nếu thuộc các trường hợp này, đơn vị sự nghiệp công lập tạm thời chưa giải quyết thôi việc cho viên chức để có thể giải quyết xong vấn đề nêu trên. Quy định này không làm viên chức mất quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc mà chỉ tạm ngưng quá trình giải quyết thôi việc. Nếu như các trường hợp khác đều được quy định chi tiết về trình tự, thủ tục cũng như thực hiện khá rõ ràng thì trường hợp “do yêu cầu công tác và chưa bố trí được người thay thế” lại chưa được hướng dẫn chi tiết. Vì vậy, đã xảy ra một số trường hợp viên chức xin thôi việc đúng theo quy định của Luật Viên chức nhưng vì quy định này của Nghị định nên viên chức không được đơn vị đồng ý và sau đó vì lý do cá nhân khó khăn của mình, viên chức không thể tiếp tục thực hiện nhiệm vụ được giao thì lại bị kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc. Do đó, quyền lợi hợp pháp viên chức có thể bị ảnh hưởng.

1.3. Trách nhiệm giải quyết của đơn vị sự nghiệp công lập

Có thể thấy, quy định “do yêu cầu công tác và chưa bố trí được người thay thế” mà chưa giải quyết thôi việc của viên chức được đặt ra để bảo đảm hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập không bị ảnh hưởng do việc chấm dứt hợp đồng làm việc của viên chức. Quy định này được áp dụng khi thỏa mãn hai điều kiện: (i) Do yêu cầu công tác; (ii) Chưa bố trí được người thay thế tại đơn vị.

Tại các đơn vị sự nghiệp công lập, mỗi vị trí việc làm của viên chức đều gắn với công việc hoặc nhiệm vụ gắn với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lý tương ứng. Như vậy, điều kiện về yêu cầu công tác cần phải xác định rõ những công việc và nhiệm vụ nào mà viên chức đang được giao thực hiện mà không thể chuyển giao cho viên chức khác được, hoặc có cơ sở cho rằng chuyển giao đó sẽ không đạt hiệu quả, chất lượng. Hoặc trong trường hợp viên chức quản lý xin thôi việc nhưng đơn vị sự nghiệp công lập chưa lựa chọn được viên chức phù hợp để bổ nhiệm hoặc người được quy hoạch còn thiếu một số chứng chỉ, nghiệp vụ quản lý tương ứng để đủ điều kiện bổ nhiệm.

Vị trí việc làm của viên chức cũng là căn cứ xác định số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức để thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập[9]. Do đó, việc một viên chức thôi việc sẽ ảnh hưởng đến vị trí việc làm của đơn vị, do đó cần tiến hành xem xét, đánh giá vị trí việc làm để có thể quyết định điều động, bổ nhiệm thậm chí là tuyển dụng viên chức để bù đắp cho việc thiếu hụt do viên chức thôi việc. Như vậy, khi viên chức thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc mà đơn vị không bố trí được người thay thế thì trách nhiệm của đơn vị có cần báo cáo cơ quan chủ quản để có chỉ đạo giải quyết (đối với các đơn vị chưa được giao quyền tự chủ), hoặc đơn vị có thể quyết định viên chức khác thực hiện kiêm nhiệm hoặc phải tiến hành kế hoạch tuyển dụng viên chức mới thay thế (đơn vị đã được giao quyền tự chủ) hay không? Trách nhiệm này của đơn vị sự nghiệp vẫn chưa được đề cập trong pháp luật và rõ ràng nếu vì một lý do nào đó mà đơn vị không thể thực hiện hoặc vẫn chưa thể thực hiện được thì quyền lợi của viên chức lúc này bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Có thể thấy rằng, các trường hợp “chưa được giải quyết thôi việc” mà Nghị định số 115/2020/NĐ-CP nêu ra ở khoản 2 Điều 57 đều là sự cụ thể hóa quy định của Luật Viên chức. Cụ thể như sau:

- Trường hợp “đang trong thời hạn xử lý kỷ luật, đang bị điều tra, truy tố, xét xử”[10] là cụ thể hóa quy định tại khoản 3 Điều 56 Luật Viên chức: “Viên chức đang trong thời hạn xử lý kỷ luật, đang bị điều tra, truy tố, xét xử thì không được bổ nhiệm, biệt phái, đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết nghỉ hưu hoặc thôi việc”. Quy định này nhằm bảo đảm cho công tác xử lý kỷ luật, hoạt động điều tra, truy tố, xét xử được tiến hành thuận lợi.

- Trường hợp “chưa làm việc đủ thời gian cam kết với đơn vị sự nghiệp công lập khi được cử đi đào tạo” là cụ thể hóa quy định tại khoản 3 Điều 35 Luật Viên chức: “Viên chức được đơn vị sự nghiệp công lập cử đi đào tạo nếu đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc hoặc tự ý bỏ việc phải đền bù chi phí đào tạo theo quy định của Chính phủ”. Khi chưa thực hiện xong việc đền bù chi phí đào tạo thì chưa giải quyết cho thôi việc.

- Trường hợp “chưa hoàn thành việc thanh toán các khoản tiền, tài sản thuộc trách nhiệm của viên chức đối với đơn vị sự nghiệp công lập” là quy định chi tiết cho Điều 55 Luật Viên chức về trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của viên chức: “Viên chức làm mất, hư hỏng trang bị, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của đơn vị sự nghiệp công lập thì phải bồi thường thiệt hại. Viên chức khi thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ được phân công có lỗi gây thiệt hại cho người khác mà đơn vị sự nghiệp công lập phải bồi thường thì có nghĩa vụ hoàn trả cho đơn vị sự nghiệp công lập”. Khi chưa thực hiện xong trách nhiệm bồi thường, hoàn trả thì chưa được giải quyết cho thôi việc.

Tuy nhiên, quy định “do yêu cầu công tác và chưa bố trí được người thay thế” trong Nghị định số 115/2020/NĐ-CP là quy định mới, chưa được đề cập trong Luật Viên chức. Pháp luật xác định đơn vị sự nghiệp được quyền áp dụng “chưa được giải quyết” thôi việc nhưng trên thực tế, có lúc, có nơi lại vận dụng và thực hiện là “không giải quyết” thôi việc cho viên chức. Điều này ảnh hưởng đến quyền đơn phương chấm dứt hợp động làm việc của viên chức.

Do đó, trong trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập không đồng ý cho viên chức thôi việc bằng việc viện dẫn quy định “do yêu cầu công tác và chưa bố trí được người thay thế” thì phải trả lời viên chức bằng văn bản và nêu rõ lý do theo quy định. Trong đó, cần xác định rõ các vấn đề do yêu cầu công tác và chưa bố trí được người thay thế tại đơn vị. Đặc biệt, văn bản cần phải xác định một mốc thời gian cụ thể để giải quyết yêu cầu công tác cũng như bố trí người thay thế làm cơ sở giải quyết thôi việc cho viên chức.

1.4. Cân bằng lợi ích của viên chức và đơn vị sự nghiệp công lập

Điểm d khoản 1 Điều 29 Luật Viên chức quy định: “Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của Chính phủ làm cho đơn vị sự nghiệp công lập buộc phải thu hẹp quy mô, khiến vị trí việc làm mà viên chức đang đảm nhận không còn” thì đơn vị sự nghiệp công lập hoàn toàn có quyền chấm dứt hợp đồng làm việc (có xác định thời hạn hoặc không xác định thời hạn với viên chức một cách đương nhiên). Điều này là hợp lý vì đó là trường hợp bất khả kháng từ phía của đơn sự nghiệp công lập mà không có một trường hợp loại trừ. Tuy nhiên, nếu đặt trong hoàn cảnh ngược lại, không loại trừ viên chức có hoàn cảnh đặc biệt, hoàn cảnh bất khả kháng không thể tiếp tục làm việc thì lại không được giải quyết cho thôi việc mà lại bị ràng buộc bởi quy định “do yêu cầu công tác và chưa bố trí được người thay thế”. Nếu so sánh hai quy định này thì rõ ràng, Luật Viên chức có thể đã đặt lợi ích đơn vị sự nghiệp công lập cao hơn lợi ích viên chức.

Về quyền lợi của viên chức sau khi chấm dứt hợp đồng làm việc đúng quy định pháp luật, Điều 45 Luật Viên chức quy định: “Khi chấm dứt hợp đồng làm việc, viên chức được hưởng trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm hoặc chế độ bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về lao động và pháp luật về bảo hiểm xã hội”. Viên chức ký hợp đồng không xác định thời hạn sẽ không được hưởng trợ cấp thôi việc nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (i) Bị buộc thôi việc; (ii) Đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc mà vi phạm thời hạn báo trước[11].

Vì vậy, việc viên chức không được giải quyết cho đơn phương chấm dứt hợp đồng mà bị kỷ luật với hình thức buộc thôi việc là vi phạm quyền, lợi ích của viên chức.

2. Một số kiến nghị

Thứ nhất, cần bổ sung quy định về trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng trong Luật Viên chức “do yêu cầu công tác và chưa bố trí được người thay thế”, bởi đây thực sự là một trường hợp cần thiết nhằm bảo đảm lợi ích của đơn vị sự nghiệp công lập trong trường hợp vị trí việc làm đòi hỏi yêu cầu trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, chưa có người đảm nhận, thay thế. Đồng thời, bảo đảm sự hạn chế quyền của viên chức bằng một quy định của luật chứ không phải bằng quy định của văn bản hướng dẫn (dưới luật).

Thứ hai, cần bổ sung danh mục những vị trí việc làm đặc thù hoặc chức vụ quản lý và tương đương trở lên cho việc áp dụng quy định “do yêu cầu công tác và chưa bố trí được người thay thế”. Vì theo nhóm tác giả, đối với chức danh nghề nghiệp bình thường như giảng viên, nghiên cứu viên… thì không nên và cũng không cần áp dụng quy định này. Cùng với đó, cần quy định thêm thời gian cụ thể, tùy đặc thù của ngành, lĩnh vực, có thể là ba tháng hoặc cần thiết có thể kéo dài nhưng không quá sáu tháng để giải quyết cho thôi việc đối với viên chức. Thời gian đó là cần thiết cho đơn vị sự nghiệp công lập có thể chuẩn bị cho sự chuyển giao, bố trí người khác, tuyển dụng nhân sự hoặc tiếp nhận viên chức biệt phái đảm nhận vị trí, cũng như là thời gian để viên chức chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc nghỉ việc, bảo đảm quyền lợi của mình và thực hiện nghĩa vụ trong thời gian hạn định.

Như vậy, trường hợp viên chức sử dụng quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc thì đơn vị sự nghiệp cần cân nhắc giải quyết chấm dứt hợp đồng làm việc và giải quyết chế độ thôi việc một các hợp tình, hợp lý cho viên chức thay vì kết thúc với viên chức bằng một quyết định kỷ luật buộc thôi việc. Có thể thấy, việc cân bằng lợi ích giữa người sử dụng lao động và người lao động, trong trường hợp này là đơn vị sự nghiệp công lập và viên chức, là điều kiện tiên quyết bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của viên chức cũng như bảo đảm quá trình hoạt động cũng như sự phát triển của đơn vị sự nghiệp công lập trong tương lai.

Lâm Bá Khánh Toàn

Huỳnh Thị Cẩm Hồng

Trường Đại học Cần Thơ

[1]. Điểm đ khoản 1 Điều 5 Bộ luật Lao động năm 2019.

[2]. Điều 4 Luật Viên chức.

[3]. Điều 35 Bộ luật Lao động năm 2019.

[4]. Điều 36 Bộ luật Lao động năm 2019.

[5]. Khoản 1 Điều 29 Luật Viên chức.

[6]. Khoản 4, 5 Điều 29 Luật Viên chức.

[7]. Khoản 4 Điều 29 Luật Viên chức.

[8]. Khoản 2 Điều 57 Nghị định số 115/2020/NĐ-CP.

[9]. Khoản 1 Điều 7 Luật Viên chức .

[10]. Điểm a khoản 2 Điều 57 Nghị định số 115/2020/NĐ-CP .

[11]. Khoản 2 Điều 45 Luật Viên chức.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 386), tháng 8/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính

Tóm tắt: Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính là một trong những nội dung quan trọng của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012[I] và các văn bản quy định chi tiết. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy, các quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính còn một số bất cập, gồm: thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các chức danh chưa thống nhất trong hệ thống pháp luật; thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính của người chỉ huy tàu bay chưa được quy định đầy đủ; quy định về giao quyền xử phạt còn nhiều hạn chế. Vì vậy, nghiên cứu phân tích những bất cập này, từ đó, đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và khả thi của các quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính.
Xử lý hành vi không thực hiện nghĩa vụ tài chính sau khi trúng đấu giá quyền sử dụng đất thông qua hoạt động xét xử của Tòa án

Xử lý hành vi không thực hiện nghĩa vụ tài chính sau khi trúng đấu giá quyền sử dụng đất thông qua hoạt động xét xử của Tòa án

Tóm tắt: Tình trạng người trúng đấu giá quyền sử dụng đất không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính, thường gọi là “bỏ cọc”, đang được xử lý chủ yếu bằng cách tăng mức tiền đặt trước và áp dụng chế tài cấm tham gia đấu giá. Từ thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Tòa án, nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của khoản tiền đặt trước; tiêu chí phân định tranh chấp dân sự và hành chính; căn cứ xem xét quyết định hủy quyết định công nhận kết quả trúng đấu giá; yêu cầu kiểm soát tư pháp đối với quyết định cấm tham gia đấu giá và trách nhiệm tài sản của các bên. Trên cơ sở đánh giá dự thảo Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi) (dự thảo Luật), nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện xử lý hành vi không thực hiện nghĩa vụ tài chính sau khi trúng đấu giá quyền sử dụng đất thông qua hoạt động xét xử của Tòa án theo hướng chế tài được áp dụng thống nhất và chịu sự kiểm soát của Tòa án.
Hợp tác sản xuất, kinh doanh bằng quyền sử dụng đất - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện Luật Đất đai

Hợp tác sản xuất, kinh doanh bằng quyền sử dụng đất - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện Luật Đất đai

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 lần đầu định danh hợp tác sản xuất, kinh doanh bằng quyền sử dụng đất nhưng chưa thiết lập cơ chế điều chỉnh tương ứng. Nghiên cứu làm rõ bản chất pháp lý của quan hệ này; từ đó, chỉ ra 04 hạn chế của pháp luật hiện hành: (i) quyền hợp tác chưa rõ ràng, minh bạch cho cá nhân sử dụng đất; (ii) chưa xác định rõ phạm vi quyền sử dụng đất được đưa vào hợp tác; (iii) chưa có điều kiện thực hiện riêng; (iv) chưa xác định đầy đủ hệ quả pháp lý. Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) (dự thảo Luật) đã có một số điều chỉnh, nhưng chưa khắc phục triệt để những bất cập này. Nghiên cứu đề xuất ghi nhận hợp tác sản xuất, kinh doanh bằng quyền sử dụng đất thành quyền độc lập kèm theo tiêu chí xác định quan hệ theo bản chất, xác định rõ nhóm người sử dụng đất được thực hiện quyền, bổ sung điều kiện thực hiện phù hợp với đặc điểm không làm chuyển dịch quyền sử dụng đất, thiết lập cơ chế đăng ký, công khai quan hệ hợp tác gắn với việc xác định hiệu lực đối với người thứ ba và nguyên tắc bảo vệ các quyền có liên quan.
Hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện quyền bề mặt trong khai thác

Hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện quyền bề mặt trong khai thác

Tóm tắt: Quyền bề mặt được Bộ luật Dân sự năm 2015 ghi nhận là quyền khác đối với tài sản, cho phép chủ thể khai thác mặt đất, mặt nước, khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất thuộc quyền sử dụng đất của chủ thể khác. Đây là thiết chế có tiềm năng phân tách quyền khai thác không gian khỏi quyền sử dụng đất, huy động vốn đầu tư và phát triển bất động sản theo chiều cao, chiều sâu và đa công năng. Tuy nhiên, hiện, các quy định pháp luật chủ yếu dừng ở mức khái quát, chưa hình thành cơ chế pháp lý đồng bộ về xác lập, đăng ký, công khai hóa, hiệu lực đối kháng, giao dịch, thế chấp, định giá, bảo vệ quyền và xử lý tài sản khi quyền bề mặt chấm dứt. Luật Đất đai năm 2024 và các văn bản hướng dẫn đã tạo nền tảng mới về đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất và hệ thống thông tin đất đai, nhưng chưa trực tiếp thiết lập thủ tục đăng ký quyền bề mặt. Nghiên cứu phân tích bản chất và vai trò của quyền bề mặt, đánh giá những khoảng trống của pháp luật Việt Nam, tham chiếu kinh nghiệm của một số quốc gia và đề xuất mô hình hoàn thiện theo hướng: thừa nhận đầy đủ tính chất vật quyền; kiến nghị sửa đổi Điều 269 Bộ luật Dân sự năm 2015 theo hướng lấy đăng ký làm điều kiện đối kháng, kèm theo quy định chuyển tiếp; mô tả đối tượng theo không gian ba chiều; bảo đảm khả năng chuyển giao, thế chấp và tài trợ dự án; đồng thời, cân bằng lợi ích giữa Nhà nước, người sử dụng đất, chủ thể quyền bề mặt, nhà đầu tư và người thứ ba.
Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện

Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện

Tóm tắt: Tha tù trước thời hạn có điều kiện là chế định thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam, tạo cơ hội tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành án. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành còn một số bất cập, chồng chéo giữa các đạo luật về thẩm quyền, thủ tục, khiếu nại và kỹ thuật lập pháp. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện quy định theo hướng phân định rõ phạm vi điều chỉnh, bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và khả thi của pháp luật. Nghiên cứu phân tích các quy định pháp luật hiện hành về thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện; chỉ ra những hạn chế, bất cập trong quá trình áp dụng; từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành chế định này trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về văn bản quy phạm pháp luật để bảo đảm thích ứng có kiểm soát từ góc nhìn lý luận chính sách

Hoàn thiện pháp luật về văn bản quy phạm pháp luật để bảo đảm thích ứng có kiểm soát từ góc nhìn lý luận chính sách

Tóm tắt: Dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật[1] (dự thảo Luật) tiếp tục hoàn thiện quy trình xây dựng chính sách, trong đó, chú trọng xác định vấn đề, mục tiêu, giải pháp, đánh giá tác động chính sách và bổ sung cơ chế đánh giá kết quả thực hiện sau khi văn bản quy phạm pháp luật được ban hành. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích Chính sách 3 về đổi mới quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật[2], đánh giá khả năng điều chỉnh kịp thời các quy định pháp luật trước những thay đổi của thực tiễn và việc sử dụng kết quả thi hành pháp luật để tiếp tục hoàn thiện chính sách. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù dự thảo Luật đã bổ sung nhiều quy định nhằm nâng cao tính linh hoạt và hiệu quả của quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tuy nhiên, cơ chế theo dõi, đánh giá và tiếp nhận phản hồi từ thực tiễn thi hành chưa được quy định đầy đủ; bên cạnh đó, một số quy định còn thiếu thống nhất về phạm vi điều chỉnh, thuật ngữ và thẩm quyền. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện cơ chế kiểm soát chất lượng và đánh giá hiệu quả thi hành văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm việc sửa đổi, bổ sung pháp luật được thực hiện kịp thời, phù hợp với yêu cầu thực tiễn mà không làm gia tăng thủ tục.
Bàn về Điều luật “Quan lại nhận tiền của” trong Hoàng Việt luật lệ và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam

Bàn về Điều luật “Quan lại nhận tiền của” trong Hoàng Việt luật lệ và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Trước yêu cầu phòng, chống tham nhũng hiện nay, việc nghiên cứu di sản lập pháp truyền thống mang ý nghĩa thiết thực. Nghiên cứu phân tích Điều luật[I] “Quan lại nhận tiền của” thuộc Chương IX (Nhận hối lộ) trong Hoàng Việt luật lệ[II] nhằm làm rõ tư duy lập pháp và giá trị lịch sử của Điều luật. Phạm vi nghiên cứu tập trung phân tích Điều luật “Quan lại nhận tiền của”, đồng thời, so sánh với Quốc triều Hình luật, Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC) và Bộ luật Hình sự năm 2015[III]. Nghiên cứu sử dụng phương pháp sử liệu học để thu thập tư liệu cổ luật; các phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp để làm rõ các yếu tố cấu thành, giá trị, giới hạn lịch sử, đồng thời, so sánh Điều luật này với các quy định có liên quan. Từ đó, nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam.
Sử dụng đất kết hợp đa mục đích cho phát triển điện mặt trời tại Việt Nam - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Sử dụng đất kết hợp đa mục đích cho phát triển điện mặt trời tại Việt Nam - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Nghị quyết số 70-NQ/TW[1] xác định năng lượng tái tạo là ưu tiên chiến lược trong chuyển dịch cơ cấu năng lượng quốc gia. Trong bối cảnh điện mặt trời cần diện tích đất hoặc mặt nước lớn, cơ chế sử dụng đất kết hợp đa mục đích tại Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 được kỳ vọng góp phần khai thác hiệu quả quỹ đất. Nghiên cứu đánh giá mức độ đồng bộ, tính khả thi và khả năng dự báo của khung pháp lý đất đai hiện hành, trong mối liên hệ với pháp luật về xây dựng, môi trường và điện lực đối với mô hình này. Bằng phương pháp phân tích quy phạm kết hợp phân tích thể chế liên ngành, nghiên cứu làm rõ việc cụ thể hóa hai yêu cầu tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 đối với dự án phát điện thương mại có vòng đời kéo dài hàng chục năm, nhận diện bốn nhóm bất cập về quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đồng thời, đề xuất định hướng hoàn thiện theo ba giai đoạn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
Hoàn thiện pháp luật về xử lý trường hợp trúng đấu giá quyền sử dụng đất nhưng vi phạm nghĩa vụ tài chính

Hoàn thiện pháp luật về xử lý trường hợp trúng đấu giá quyền sử dụng đất nhưng vi phạm nghĩa vụ tài chính

Tóm tắt: Tình trạng người trúng đấu giá quyền sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ tài chính và hành vi thao túng đấu giá gây thất thu ngân sách, làm sai lệch giá đất, ảnh hưởng đến tính minh bạch của thị trường bất động sản. Nghiên cứu đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về xử lý các hành vi này trên cơ sở phân tích quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng. Bằng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh quy phạm pháp luật và nghiên cứu tình huống, kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật còn những bất cập về xử lý tiền đặt trước, hủy kết quả trúng đấu giá, xác định thời hạn cấm tham gia đấu giá, kiểm soát hành vi né tránh chế tài thông qua pháp nhân trung gian và giải quyết hậu quả sau khi hủy kết quả đấu giá. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện quy định về căn cứ, điều kiện và hậu quả pháp lý của các biện pháp xử lý; tăng cường kiểm soát lịch sử vi phạm, bảo đảm tính minh bạch và cạnh tranh trong đấu giá quyền sử dụng đất.
Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Tóm tắt: Đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động đo lường mức độ đạt được mục tiêu chính sách và tác động thực tế của quy định pháp luật sau khi tổ chức thi hành. Nghiên cứu khái quát các tiêu chí đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật, phân tích những quy định tương ứng trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật1 (dự thảo Luật). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù dự thảo Luật bước đầu xác lập cơ sở pháp lý cho hoạt động này, nhưng một số quy định còn hạn chế, bất cập. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí, phương thức đánh giá, xác định rõ trách nhiệm phối hợp giữa các chủ thể và cơ chế sử dụng kết quả đánh giá để điều chỉnh, hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Tóm tắt: Trong quá trình sửa đổi Luật Đất đai, việc xử lý đất có nguồn gốc nông, lâm trường đặt ra yêu cầu hoàn thiện điều kiện công nhận quyền sử dụng đất và cơ chế bảo đảm thực hiện quyền này trên thực tế. Nghiên cứu phân tích các quy phạm pháp luật hiện hành, đối chiếu với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)1 (dự thảo Luật). Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc công nhận quyền sử dụng đất còn phụ thuộc đáng kể vào công tác rà soát, lập phương án sử dụng đất và xử lý quỹ đất có nguồn gốc nông, lâm nghiệp. Những vướng mắc tập trung ở tiến độ thực hiện, điều kiện công nhận, mối quan hệ với các trường hợp không cấp Giấy chứng nhận và cơ chế xử lý khi công ty không thực hiện trách nhiệm. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định của dự thảo Luật về điều kiện công nhận quyền, sự tham gia của người đang sử dụng đất và cơ chế tiếp tục xử lý quỹ đất, nhằm bảo đảm khả năng thực hiện quyền của người đang sử dụng đất.
Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Xử lý vật chứng là hoạt động xác định địa vị pháp lý của vật chứng, đồng thời, tác động trực tiếp đến giá trị chứng minh và quyền tài sản. Nghiên cứu phân tích Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025 (BLTTHS năm 2015) trong mối liên hệ với Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (BLHS năm 2015) và pháp luật dân sự, tập trung làm rõ căn cứ tịch thu, thẩm quyền, hình thức và thủ tục xử lý; tiêu chí xác định công cụ, phương tiện phạm tội và lỗi của chủ sở hữu; cơ chế xử lý tài sản chung, tài sản thế chấp; phạm vi, trình tự giao vật chứng đặc thù cho cơ quan chuyên ngành và việc bảo đảm quyền của người thứ ba. Trên cơ sở nhận diện các bất cập, nghiên cứu đề xuất sửa đổi Điều 85, Điều 106 BLTTHS năm 2015, hoàn thiện thủ tục đối với tài sản bảo đảm và ban hành hướng dẫn liên ngành nhằm thống nhất hoạt động giao, tiếp nhận, bảo quản và xử lý vật chứng.
Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.

Theo dõi chúng tôi trên: