Thứ ba 26/05/2026 23:51
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về vận động bầu cử ở Việt Nam hiện nay

Vận động bầu cử là một công đoạn không thể thiếu trong quá trình bầu cử, được coi như “linh hồn của bầu cử tiến bộ và công bằng”[3]. Ở nhiều quốc gia trên thế giới, thuật ngữ “vận động tranh cử” được sử dụng với nghĩa tương ứng.

1. Khái quát về bầu cử và vận động bầu cử

Trong đời sống xã hội của các quốc gia hiện đại trên thế giới, bầu cử có một vị trí và ý nghĩa chính trị đặc biệt quan trọng. Bầu cử là phương thức hình thành bộ máy nhà nước hiện đại, trong đó, nhân dân lựa chọn và ủy thác quyền lực cho những người mình bầu ra. Nhân dân - với tư cách là chủ thể của quyền lực nhà nước có quyền lựa chọn ai thay mặt mình tham gia vào công việc của Nhà nước. Cách thức nhân dân thể hiện quyết định của mình là lá phiếu bầu cử. Chủ thể nào được lựa chọn thông qua bầu cử, chủ thể đó nhận quyền lực từ nhân dân. Do đó, bầu cử còn là thước đo mức độ dân chủ của một quốc gia, là “trái tim của nền dân chủ”[1]. Quyền bầu cử thường được ghi nhận trong Hiến pháp của các quốc gia cũng như các điều ước quốc tế quan trọng về quyền con người[2].

Vận động bầu cử là một công đoạn không thể thiếu trong quá trình bầu cử, được coi như “linh hồn của bầu cử tiến bộ và công bằng”[3]. Ở nhiều quốc gia trên thế giới, thuật ngữ “vận động tranh cử” được sử dụng với nghĩa tương ứng. Vận động bầu cử là việc các ứng cử viên thông qua những hoạt động nhất định nhằm thuyết phục cử tri, để cử tri tin và bỏ phiếu bầu cho mình. Bản chất của bầu cử là sự lựa chọn của cử tri. Vận động bầu cử cung cấp thông tin và cơ hội cho cử tri để có được sự lựa chọn tối ưu. Có thể nhận thấy vận động bầu cử có những vai trò quan trọng trong bầu cử.

Thứ nhất, vận động bầu cử đảm bảo tính cạnh tranh của cuộc bầu cử. Cạnh tranh là tiêu chuẩn quan trọng được thừa nhận rộng rãi trong các cuộc bầu cử dân chủ và công bằng. “Theo nhận thức phổ biến trên thế giới, một cuộc bầu cử dân chủ bao giờ cũng phải là một cuộc bầu cử mang tính cạnh tranh. Triệt tiêu yếu tố cạnh tranh, bầu cử mất đi ý nghĩa đích thực của nó”[4]. Bầu cử không phải là sự thỏa hiệp. Bản chất của bầu cử là cuộc cạnh tranh mà kết quả phụ thuộc vào việc cử tri chọn ai. Cạnh tranh trong bầu cử phải là cạnh tranh công bằng - tức đảm bảo sự lành mạnh và tuân thủ tuyệt đối những quy định của pháp luật. Người dân khó có thể lựa chọn được người đủ tâm và tầm đại diện cho mình nếu cuộc bầu cử đó không có tính cạnh tranh giữa các ứng cử viên. Thông qua vận động bầu cử, cử tri nhận biết khả năng đại diện của các ứng viên, từ đó, sẽ có khả năng lựa chọn đại biểu tốt hơn. Nếu không có cạnh tranh, rất có thể kết quả bầu cử đơn giản chỉ là sự thỏa hiệp hoặc sự sắp đặt.

Thứ hai, đối với các ứng cử viên, vận động bầu cử là nơi để ứng cử viên thể hiện năng lực chính trị của mình. Có thể coi đây là “phiên trình diễn” của ứng cử viên, là nơi để ứng cử viên thể hiện sự chuyên nghiệp của mình để “tỏa sáng” trong mắt cử tri. Ứng cử viên nào thể hiện tốt hơn sẽ thu hút được sự chú ý của cử tri, thuyết phục được cử tri rằng họ xứng đáng là người đại diện. Cử tri, với lá phiếu của mình, trên cơ sở đó sẽ quyết định ai trúng cử.

Thứ ba, đối với các cử tri, vận động bầu cử là kênh nối giữa ứng cử viên với cử tri, tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử, trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu dân cử. Vận động bầu cử gia tăng tính chuyên nghiệp của các cử tri. Thông qua vận động bầu cử, cử tri có thông tin về các ứng cử viên để từ đó, lá phiếu cử tri là sự lựa chọn chứ không phải cảm tính. Đồng thời, vận động bầu cử tạo thói quen ứng xử dân chủ và thu hút quần chúng vào hoạt động chính trị, nâng cao tính trách nhiệm và nhận thức chính trị cho cử tri.

Thứ tư, đối với nhiều quốc gia trên thế giới, bầu cử là sự cạnh tranh giữa các đảng phái, nên vận động bầu cử là bước mà sự cạnh tranh này thể hiện rất rõ, thậm chí rất khốc liệt. Các ứng cử viên, các đảng phái có thể sử dụng vận động tranh cử như một phương thức hữu hiệu nhằm kiểm tra, giám sát lẫn nhau. Vận động tranh cử ở những nước này còn bao gồm cả sự phê bình, chỉ trích qua lại của những ứng viên về đường lối tranh cử của các đối thủ. Các ứng cử viên và các lực lượng hậu thuẫn có thể tìm mọi cách để thắng cử, kể cả gian lận bầu cử. Do đó, vận động bầu cử trước hết là biện pháp nhằm kiểm soát hoạt động của đối thủ, tiến tới loại bỏ đối thủ.

2. Pháp luật Việt Nam về vận động bầu cử

Với vai trò, ý nghĩa quan trọng, vận động bầu cử được quy định chặt chẽ trong hệ thống pháp luật các quốc gia và là hoạt động rất được coi trọng trong thực tiễn công tác bầu cử. Pháp luật bầu cử ở Việt Nam hiện nay quy định một số nội dung cơ bản về vận động bầu cử:

Thứ nhất, về kinh phí dành cho vận động bầu cử

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, chi phí dành cho vận động bầu cử hoàn toàn lấy từ ngân sách nhà nước. Trong giới hạn của vận động bầu cử cũng có quy định cấm sử dụng hoặc hứa tặng, cho tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất để lôi kéo, mua chuộc cử tri (khoản 4 Điều 68 Luật Bầu của đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015). Điều này hoàn toàn phù hợp bởi vì: Một là, bảo đảm sự bình đẳng và công bằng trong bầu cử. Bầu cử là quyền của dân chúng chứ không phải đặc quyền của bất kỳ tầng lớp, giai cấp nào. Vì thế, các ứng cử viên không được dùng ưu thế về vật chất của mình để vận động cử tri bỏ phiếu cho mình. Hai là, xuất phát từ bản chất nhà nước Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Bầu cử là hoạt động tạo lập chính quyền bằng phương thức dân chủ. Đây là công việc của Nhà nước. Ba là, ở Việt Nam chỉ có một lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội, đó là Đảng cộng sản Việt Nam. Ở nước ta, bầu cử không phải là sự cạnh tranh giữa các đảng phái nên không có sự chạy đua, kể cả về tiềm lực kinh tế.

Thứ hai, về hình thức vận động bầu cử

Pháp luật nước ta quy định người ứng cử thực hiện vận động bầu cử thông qua hai hình thức. Hình thức thứ nhất là gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri tại hội nghị tiếp xúc cử tri ở địa phương nơi mình ứng cử. Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh chủ trì phối hợp với Ủy ban nhân dân (UBND) ở đơn vị bầu cử tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri cho những người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh. Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện, cấp xã phối hợp với UBND cấp xã tại đơn vị bầu cử tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri cho những người ứng cử đại biểu HĐND cấp mình. Thành phần tham dự hội nghị tiếp xúc cử tri gồm đại diện các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cử tri ở địa phương. Hình thức thứ hai là thông qua phương tiện thông tin đại chúng. Với hình thức này, người ứng cử đại biểu Quốc hội, người ứng cử đại biểu HĐND trình bày với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nếu được bầu làm đại biểu khi trả lời phỏng vấn trên các phương tiện thông tin đại chúng và trên trang thông tin điện tử về bầu cử.

Như vậy, trong cả hai hình thức vận động bầu cử, người ứng cử đều phải báo cáo với cử tri chương trình hành động của mình nếu được bầu làm đại biểu. Riêng vận động theo hình thức tiếp xúc cử tri thì có công đoạn khá quan trọng là cử tri nêu ý kiến, kiến nghị, đề đạt nguyện vọng với người ứng cử. Cử tri và người ứng cử trao đổi ý kiến có tính chất đối thoại theo nguyên tắc dân chủ, thẳng thắn, cởi mở về những vấn đề hai bên cùng quan tâm.

Thứ ba, về giới hạn của vận động bầu cử

Ở Việt Nam, những hành vi sau đây bị cấm trong vận động bầu cử (Điều 68 Luật Bầu của đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015):

- Lợi dụng vận động bầu cử để tuyên truyền trái với Hiến pháp và pháp luật hoặc làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền, lợi ích hợp pháp khác của tổ chức, cá nhân khác.

- Lạm dụng chức vụ, quyền hạn để sử dụng phương tiện thông tin đại chúng trong vận động bầu cử.

- Lợi dụng vận động bầu cử để vận động tài trợ, quyên góp ở trong nước và nước ngoài cho tổ chức, cá nhân mình.

- Sử dụng hoặc hứa tặng, cho, ủng hộ tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất để lôi kéo, mua chuộc cử tri.

Từ những quy định của pháp luật về vận động bầu cử như đã trình bày, có thể nhận thấy trong chế độ bầu cử ở Việt Nam, vận động bầu cử đã được ghi nhận là một công đoạn không thể thiếu. Tinh thần lớn nhất trong vận động bầu cử ở nước ta là sự bình đẳng giữa các ứng cử viên. Các ứng cử viên, không phân biệt về tài sản, thành phần xã hội, địa vị nghề nghiệp… đều có quyền tham gia vận động bầu cử và tuân thủ pháp luật bầu cử như nhau. Điều này khác với nhiều quốc gia trên thế giới, khi mà ứng cử viên có có tài sản hoặc địa vị có thể dành ưu thế riêng khi tranh cử.

Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam về vận động bầu cử và thực tiễn thi hành cũng bộc lộ một số tồn tại nhất định:

Một là, nội dung vận động bầu cử còn quy định khá đơn giản, bao gồm: Từng người ứng cử báo cáo với cử tri về chương trình hành động của mình nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; cử tri nêu ý kiến, đề đạt nguyện vọng của mình với những người ứng cử; người ứng cử và cử tri trao đổi dân chủ, thẳng thắn và cởi mở những vấn đề cùng quan tâm. Nếu qua phương tiện thông tin đại chúng thì nội dung vận động bầu cử chỉ là việc ứng cử viên trả lời phỏng vấn về dự kiến chương trình hành động của mình nếu được bầu làm đại biểu. Với nội dung như vậy, giữa cử tri và ứng cử viên dường như chưa đủ một không gian để đối thoại, chất vấn một cách thẳng thắn. Cũng vì thế mà ứng cử viên chưa có nhiều cơ hội để “phô diễn” hết năng lực đại diện của mình trước cử tri và ngược lại, cử tri không thể dựa vào vận động bầu cử để có được sự lựa chọn tối ưu.

Hai là, hình thức vận động bầu cử ở Việt Nam còn khá đơn giản. Pháp luật chỉ quy định hai hình thức vận động là thông qua hội nghị cử tri và thông qua phương tiện thông tin đại chúng. Các hình thức vận động bầu cử khác không được pháp luật quy định và không được thừa nhận trên thực tế.

Ba là, về tiếp xúc cử tri trong vận động bầu cử. Đây là hình thức vận động bầu cử trực tiếp giữa ứng cử viên và cử tri nơi ứng cử, tuy nhiên, cả về thực tiễn và pháp lý còn tồn tại một số vấn đề sau: Trình tự, thủ tục tiếp xúc chưa tạo điều kiện để người ứng cử có cơ hội thể hiện được năng lực, trình độ, bản lĩnh của mình; thành phần tham dự không phải tất cả các cử tri mà chỉ là đại diện một số cơ quan đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, tổ chức đoàn thể; có sự chênh lệch giữa các tỉnh, thành phố về số lượng cuộc tiếp xúc cử tri; việc tiếp xúc cử tri đôi khi còn sơ sài, hình thức.

Bốn là, về vận động bầu cử thông qua phương tiện truyền thông đại chúng. Thực tiễn cho thấy, việc đăng tải các thông tin về người ứng cử trên các phương tiện truyền thông đại chúng ở địa phương còn hạn chế. Thường các địa phương chỉ phát sóng truyền hình một vài lần và đăng tải một lần tóm tắt chương trình hành động của ứng cử viên trên báo địa phương trong suốt quá trình tổ chức vận động bầu cử[5]. Ngoài ra, thực tế cho thấy một số ứng cử viên có cơ hội và lợi thế trong vận động bầu cử đã vô tình “lạm dụng” phương tiện thông tin đại chúng. Đó là các ứng cử viên là lãnh đạo, ứng cử viên ở các ngành, lĩnh vực có báo chuyên ngành; ứng cử viên là người có chức sắc ở các địa phương.

3. Một số kiến nghị nhằm đổi mới vận động bầu cử ở Việt Nam hiện nay

Đổi mới vận động bầu cử không chỉ góp phần tạo nên cuộc bầu cử tiến bộ, dân chủ, công bằng mà còn hướng tới mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở Việt Nam. Để đổi mới vận động bầu cử ở Việt Nam, cần lưu ý một số nội dung sau:

Thứ nhất, cần nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò, ý nghĩa của vận động bầu cử. Vận động bầu cử không phải là hình thức, chiếu lệ cho có mà đó là “linh hồn” của bầu cử, là nhân tố làm nên một cuộc bầu cử tiến bộ và công bằng. Phải coi vận động bầu cử là một kênh cung cấp thông tin quan trọng cho cử tri về bầu cử, là sợi dây gắn kết giữa cử tri và ứng cử viên, để từ đó cử tri tâm huyết với bầu cử và tha thiết với lá phiếu của mình. Thay đổi nhận thức về vận động bầu cử cũng đồng nghĩa với việc cần phải thừa nhận cạnh tranh là một thuộc tính của bầu cử dân chủ. Với quy định hiện nay về vận động bầu cử thì hoạt động này còn khá đơn điệu và hình thức. Cần tạo điều kiện cho các ứng cử viên có thể cạnh tranh một cách lành mạnh và bình đẳng trong vận động bầu cử.

Thứ hai, mở rộng các hình thức vận động bầu cử.

Ngoài các hình thức là tiếp xúc cử tri và trả lời phỏng vấn trên các phương tiện thông tin đại chúng, có thể xem xét quy định bổ sung các hình thức vận động bầu cử khác như vận động bầu cử trên internet. Điều này cũng phù hợp với bối cảnh hiện nay, khi khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ và đạt những thành tựu to lớn. Cơ quan, tổ chức phụ trách bầu cử có thể mở một ngân hàng dữ liệu, các trang web riêng cho các ứng cử viên, trong đó các thông tin về họ được lưu trữ và sẵn sàng cung cấp một cách đầy đủ. Cử tri có nhu cầu tìm hiểu về ứng cử viên nào chỉ cần sử dụng điện thoại hoặc máy tính là có đầy đủ thông tin về ứng cử viên đó. Ngoài ra, cũng nên tạo cơ hội cho ứng cử viên được tổ chức vận động bầu cử, chẳng hạn bằng các hình thức như trực tiếp gặp gỡ với cử tri, trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc các hình thức “quảng cáo” khác ở một mức độ nhất định. Tất nhiên, sự bình đẳng và minh bạch trong bầu cử vẫn phải được đảm bảo. Trong trường hợp này, những hoạt động vận động bầu cử vẫn phải bị kiểm soát bởi một tổ chức phụ trách bầu cử có thẩm quyền để đảm bảo tính chính xác và trung thực.

Thứ ba, tăng cường hiệu quả của vận động bầu cử.

Tính thực chất của vận động bầu cử là vấn đề rất trăn trở trong vận động bầu cử ở Việt Nam hiện nay. Đối với hình thức tiếp xúc cử tri, cần quy định thống nhất về tiếp xúc cử tri: Số lượng cuộc tiếp xúc, số lượng tối thiểu ứng cử viên tham dự; nội dung, hình thức, thời gian ứng cử viên trình bày chương trình hành động trước hội nghị tiếp xúc cử tri; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri; tăng cường giám sát của cử tri đối với đại biểu thông qua chương trình hành động bởi đây là lời hứa hẹn khi vận động bầu cử. Trong cuộc tiếp xúc, cần tăng cường trao đổi tranh luận giữa các ứng cử viên, đối thoại giữa ứng cử viên với cử tri về những vấn đề cùng quan tâm, tạo điều kiện cho ứng cử viên thể hiện được năng lực chính trị của mình. Ngoài ra, cũng cần mở rộng đối tượng cử tri tham dự hội nghị tiếp xúc cử tri. Càng nhiều cử tri quan tâm và tham dự, vận động bầu cử càng phát huy vai trò của mình, càng chứng tỏ tính dân chủ và thực chất của cuộc bầu cử.

Bên cạnh đó, cần phát huy vai trò tích cực của các phương tiện thông tin đại chúng trong quá trình bầu cử, đặc biệt là trong việc cung cấp thông tin về các ứng cử viên. Hiện nay, các phương tiện thông tin đại chúng ở Việt Nam chủ yếu mới chỉ dừng ở việc đưa tin một cách chung chung, còn ít quan tâm đến các ứng cử viên cụ thể. Việc trả lời phỏng vấn trên phương tiện thông tin đại chúng cũng không đồng đều nhau giữa các ứng cử viên. Cần quy định cụ thể về trách nhiệm của các phương tiện thông tin đại chúng trong vận động bầu cử, về số lượng lần trả lời phỏng vấn của các ứng cử viên. Các phương tiện thông tin đại chúng cần phải cung cấp những thông tin có chiều sâu hơn, tiến tới phân tích những điểm mạnh, điểm yếu của từng ứng cử viên để giúp cử tri định hướng cho lựa chọn của mình trong ngày bầu cử. Cần kiểm soát các phương tiện thông tin đại chúng để đảm bảo tính dân chủ và trung thực trong vận hành chứ không bị lợi dụng, bị biến tướng, trở thành công cụ cho một nhóm người, nhóm lợi ích.

Thứ tư, pháp luật cần cụ thể hóa về cơ chế xử lý các hành vi bị cấm trong vận động bầu cử như “mua phiếu” dưới các hình thức tài trợ, ủng hộ, thiện nguyện; quy định trách nhiệm của các ứng cử viên trong vận động bầu cử; quy định trách nhiệm của các tổ chức phụ trách bầu cử trong giám sát hoạt động vận động bầu cử.

Thứ năm, tăng cường công tác thông tin tuyên truyền liên quan đến vận động bầu cử. Đối với cuộc bầu cử nói chung, công tác thông tin tuyên truyền là một trong những phương thức quan trọng để người dân nhận thức đầy đủ về cuộc bầu cử. Từ đó, tinh thần làm chủ và trách nhiệm công dân được nêu cao, nhân dân tự giác tham gia bầu cử và dành tâm sức của mình lựa chọn ra những đại biểu thực sự ưu tú để đại diện cho nhân dân. Trong đó, thông tin liên quan đến vận động bầu cử cần được cung cấp kịp thời và tuyên truyền sâu rộng đến mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt ở những vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện khó khăn. Trên thực tế, không phải cử tri nào cũng được tham dự vào hội nghị tiếp xúc cử tri. Hình thức vận động thông qua phương tiện thông tin đại chúng có tính mặc dù có tính phổ biến hơn, song, không phải cử tri nào cũng biết để theo dõi. Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan là phải cung cấp thông tin cho các cử tri một cách đầy đủ về hoạt động vận động bầu cử ở địa phương, nhất là chương trình phát sóng phần trả lời phỏng vấn của các ứng cử viên, có như vậy mới phát huy vai được vai trò, ý nghĩa thực sự của vận động bầu cử.

ThS. Nguyễn Mai Thuyên
Trường Đại học Luật Hà Nội


[1] Professor Goodwin- Gill (2006), The World of Parliaments (Quarterly Review of the Inter-Parliamentary Union), May 2006 - N°21.

- Lijphart, A. (1992), “Democratization and Constitutional Choices in Czecho-Slovakia, Hungary and Poland 1989-1991”, Journal of Theoretical Politics, 4(2).

[2] Điều 25, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR), 1966.

[3] Vũ Văn Nhiêm, Luận án tiến sĩ luật học: Chế độ bầu cử ở nước ta - những vấn đề lý luận và thực tiễn, 2009, tr. 56.

[4] Lưu Văn Quảng (2007), Đổi mới công tác bầu cử để có một Quốc hội mang tính đại diện cao, Nghiên cứu lập pháp, Số chủ đề Hiến kế lập pháp 21(94), tr.14-17.

[5] Phan Văn Ngọc, Luận án tiến sĩ luật học: Đổi mới chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội ở nước ta hiện nay, 2018, tr.105

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: