Thứ bảy 18/04/2026 05:51
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến chuyển nhượng kết quả giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng

Bài viết nghiên cứu cơ sở pháp lý của việc chuyển nhượng kết quả giảm phát thải từ tình trạng mất rừng và suy thoái rừng (REDD+), các quy định của pháp luật quốc tế và của Việt Nam, chỉ ra những hạn chế của pháp luật, từ đó, tác giả đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật được đầy đủ, thống nhất, minh bạch trong quản lý hoạt động này.

1. Sáng kiến giảm phát thải khí nhà kính từ mất rừng và suy thoái rừng

Rừng đóng vai trò quan trọng trong việc hấp thụ và lưu giữ khí các-bon (CO2), một loại khí nhà kính từ khí quyển. Khi mất rừng hoặc suy thoái rừng sẽ làm phát thải khí CO2 vào khí quyển. Tại Hội nghị các bên tham gia Công ước khung của Liên Hợp quốc về biến đổi khí hậu lần thứ 11 (COP11) năm 2005 đã đề ra sáng kiến: “Giảm phát thải khí nhà kính từ mất rừng và suy thoái rừng (Reducing Emission from Deforestation and Forest Degradation - REDD)”. Ý tưởng ban đầu của REDD là hỗ trợ tài chính cho các quốc gia và cộng đồng thực hiện giảm phát thải khí nhà kính từ rừng. Theo thời gian thực hiện, sáng kiến REDD không chỉ giúp các quốc gia, cộng đồng đạt được kết quả giảm phát thải khí nhà kính mà còn mang lại nhiều lợi ích hơn trong ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo tồn đa dạng sinh học, duy trì các dịch vụ môi trường và giải quyết vấn đề nghèo đói ở nông thôn, khu vực miền núi. Với những lợi ích gia tăng trên, hiện nay, sáng kiến REDD được mở rộng hơn và được biết đến với tên gọi là REDD+. Các hoạt động chính của REDD+ gồm 05 nội dung: Hạn chế mất rừng, hạn chế suy thoái rừng, bảo tồn trữ lượng các-bon rừng, quản lý bền vững tài nguyên rừng và tăng cường trữ lượng các-bon rừng.

Trong khuôn khổ Công ước khung của Liên Hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC), Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu được thông qua tại COP21 năm 2015 đánh dấu cam kết mạnh mẽ của các quốc gia về cắt giảm khí nhà kính, bảo tồn và tăng cường một cách phù hợp các bể chứa và hấp thụ khí nhà kính, kể cả rừng[1]. Đồng thời, cũng hướng mục tiêu hỗ trợ chính sách, tài chính cho các quốc gia đang phát triển thực hiện các hoạt động REDD+, lồng ghép các vấn đề thích ứng và giảm nhẹ với quản lý rừng bền vững. Điều 6 Thỏa thuận Paris đưa ra 03 cơ chế hỗ trợ các quốc gia đạt mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính gồm: (i) Các cơ chế hợp tác để tạo ra các kết quả giảm phát thải khí nhà kính có thể được mua bán, trao đổi trên thị trường quốc tế (ITMOs); (ii) Cơ chế thúc đẩy giảm phát thải khí nhà kính và phát triển bền vững; (iii) Cơ chế hợp tác giữa các quốc gia hướng tới mục tiêu giảm phát thải của quốc gia nhưng không dựa vào thị trường các-bon. Các cơ chế này mở ra cơ hội hợp tác cho các quốc gia về chuyển nhượng kết quả giảm phát thải khí nhà kính và tạo nguồn tài chính tái đầu tư cho các hoạt động phát triển bền vững, bảo vệ và phát triển rừng, đa dạng sinh học cũng như hỗ trợ sinh kế cho người dân, cộng đồng dân cư. Việc lựa chọn áp dụng các cơ chế này do các quốc gia quyết định phù hợp với điều kiện và bối cảnh của quốc gia.

2. Cơ sở pháp lý và một số hạn chế trong quy định pháp luật Việt Nam liên quan đến chuyển nhượng kết quả giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng

Năm 2016, Việt Nam tham gia Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu. Ngày 28/10/2016 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 2053/QĐ-TTg về việc ban hành kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu, trong đó đưa ra các nhiệm vụ, giải pháp gồm xây dựng và phát triển thị trường các-bon trong nước và các cơ chế hợp tác khác về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính theo Điều 6 của Thỏa thuận Paris, thực hiện thí điểm trong các lĩnh vực có tiềm năng.

Theo đó, lâm nghiệp là một trong những lĩnh vực tiềm năng giảm phát thải khí nhà kính của Việt Nam đã nhận được nhiều hỗ trợ thực hiện các chương trìn/dự án REDD+. Các kết quả giảm phát thải từ REDD+ bao gồm lượng giảm phát thải khí nhà kính thu được nhờ việc hấp thụ và lưu giữ khí CO2 từ rừng đã được đo đạc, tính toán và cụ thể hóa thành các tín chỉ các-bon (mỗi tín chỉ các-bon tương đương với 01 tấn CO2 hoặc 01 tấn CO2 quy đổi tương đương từ các loại khí nhà kính khác); các giá trị thu được bổ sung từ giảm phát thải như hỗ trợ sinh kế cho người dân, cộng đồng dân cư và các đối tượng dễ bị tổn thương; bảo vệ đa dạng sinh học… Các kết quả giảm phát thải từ REDD+ có thể được mua, bán, trao đổi, chuyển nhượng trên thị trường các-bon.

Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 130/2007/QĐ-TTg ngày 02/8/2007 về một số cơ chế, chính sách tài chính đối với dự án đầu tư theo cơ chế phát triển sạch (CDM). Theo đó, các chương trình, dự án giảm phát thải từ rừng có thể được xác minh và cấp tín chỉ các-bon theo cơ chế CDM và thực hiện theo quy định tại Quyết định số 130/2007/QĐ-TTg, bao gồm quy định về lệ phí bán tín chỉ các-bon được cấp (CERs), quy định về thuế thu nhập doanh nghiệp (miễn thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng chứng chỉ giảm phát thải của doanh nghiệp được cấp chứng chỉ giảm phát thải). Luật Phí và lệ phí năm 2015 quy định một trong những lệ phí liên quan đến sản xuất, kinh doanh bao gồm: “Lệ phí chuyển nhượng chứng chỉ, tín chỉ giảm phát thải khí nhà kính” và lệ phí này thuộc nguồn thu của ngân sách nhà nước theo quy định tại Luật Ngân sách nhà nước năm 2015. Các quy định này cũng chỉ đang được áp dụng đối với các giao dịch CERs hình thành từ dự án CDM.

Các chương trình/dự án giảm phát thải từ REDD+ không đăng ký, thực hiện theo cơ chế CDM hoặc thực hiện chuyển nhượng kết quả giảm phát thải từ REDD+ theo các thỏa thuận chi trả giảm phát thải/thỏa thuận song phương thì trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay chưa có quy định cụ thể về việc giao dịch, chuyển nhượng; các quyền gắn với kết quả giảm phát thải từ REDD+, các quyền gắn với kết quả giảm phát thải như quyền sở hữu, quyền bù trừ kết quả giảm phát thải từ REDD+ với lượng phát thải khí nhà kính; quyền sử dụng nguồn thu từ chuyển nhượng kết quả giảm phát thải từ REDD+. Đây là khoảng trống pháp lý trong hệ thống pháp luật Việt Nam dẫn đến khó khăn, vướng mắc cho các bên (gồm tổ chức, doanh nghiệp, các cơ quan quản lý nhà nước) trong thực tiễn triển khai chuyển nhượng kết quả giảm phát thải từ REDD+.

Riêng đối với việc thực hiện Thỏa thuận chi trả giảm phát thải khí nhà kính vùng Bắc Trung Bộ (Thỏa thuận ERPA) năm 2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 107/2022/NĐ-CP ngày 28/12/2022 về thí điểm chuyển nhượng kết quả giảm phát thải và quản lý tài chính Thỏa thuận ERPA (Nghị định số 107/2022/NĐ-CP) và được coi là một loại dịch vụ môi trường rừng đối với hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng, giảm phát thải khí nhà kính từ hạn chế mất rừng và suy thoái rừng, quản lý rừng bền vững, tăng trưởng xanh theo quy định tại Luật Lâm nghiệp năm 2017. Nghị định số 107/2022/NĐ-CP đã quy định cụ thể về nguyên tắc chuyển nhượng và quản lý tài chính Thỏa thuận ERPA, quy định về tiếp nhận nguồn thu và đối tượng hưởng lợi từ Thỏa thuận ERPA; các nội dung được chi trả gồm hỗ trợ hoạt động lâm nghiệp để giảm phát thải khí nhà kính, tăng cường thực thi pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, hoạt động đóng góp trực tiếp cho giảm phát thải khí nhà kính, hoạt động hỗ trợ phát triển sinh kế, hoạt động quản lý và việc chia sẻ lợi ích từ Thỏa thuận ERPA thực hiện thí điểm thông qua Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng… Các quy định này được áp dụng thí điểm để thực hiện Thỏa thuận chi trả giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ nên đối với các chương trình/dự án REDD+ có phát sinh chuyển nhượng kết quả giảm phát thải khác vẫn chưa có cơ sở pháp lý rõ ràng để thực hiện.

Luật Lâm nghiệp năm 2017 và Nghị định số 156/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp quy định 05 loại dịch vụ môi trường rừng, trong đó có: Hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng; giảm phát thải khí nhà kính từ hạn chế mất rừng và suy thoái rừng, quản lý rừng bền vững, tăng trưởng xanh. Tuy nhiên, các văn bản này chỉ quy định chung về nguyên tắc chi trả dịch vụ môi trường rừng, đối tượng, hình thức chi trả và quản lý sử dụng tiền dịch vụ môi trường rừng. Theo đó: (i) Bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng trả tiền trực tiếp cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng; hoặc (ii) Bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng ủy thác qua Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng và đối tượng chi trả dịch vụ môi trường rừng là các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh gây phát thải khí nhà kính lớn. Đối với dịch vụ môi trường rừng từ “hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng; giảm phát thải khí nhà kính từ hạn chế mất rừng và suy thoái rừng, quản lý rừng bền vững, tăng trưởng xanh” cũng chưa có quy định và hướng dẫn cụ thể về việc thực hiện và quản lý loại dịch vụ môi trường rừng này.

Ngoài ra, đối tượng chi trả dịch vụ môi trường rừng là các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh gây phát thải khí nhà kính lớn, trong khi đối tượng nhận chuyển nhượng kết quả giảm phát thải từ REDD+ (đối tượng trả tiền cho kết quả giảm phát thải từ REDD+) thực tế gồm cả các quốc gia, quỹ tài chính, các tổ chức, nhà đầu tư trong và nước ngoài. Vì vậy, ở đây có sự khác biệt về đối tượng tham gia.

Nghị định số 107/2022/NĐ-CP thí điểm việc chuyển nhượng kết quả giảm phát thải từ REDD+ là một loại dịch vụ môi trường rừng; quy định về tiếp nhận nguồn thu và chính sách chi trả từ nguồn thu nhận được từ Thỏa thuận chi trả giảm phát thải theo hướng Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam tiếp nhận nguồn tiền và thực hiện điều phối cho Quỹ bảo vệ và Phát triển rừng cấp tỉnh tiếp tục điều phối và chi trả cho các đối tượng hưởng lợi (chủ rừng, Ủy ban nhân dân cấp xã và tổ chức khác được Nhà nước giao trách nhiệm quản lý rừng tự nhiên; cộng đồng dân cư, Ủy ban nhân dân cấp xã có Thỏa thuận tham gia hoạt động quản lý rừng; các đối tượng khác có liên quan). Việc xác định nguồn thu và chi trả nguồn thu liên quan đến việc xác định các quyền liên quan đến kết quả giảm phát thải từ REDD+ cần được quy định, chi trả bảo đảm rõ ràng, minh bạch tới các bên hưởng lợi.

Do đó, sau khi kết thúc thí điểm chuyển nhượng kết quả giảm phát thải và quản lý tài chính Thỏa thuận ERPA theo Nghị định số 107/2022/NĐ-CP thì kết quả thực hiện cần được đánh giá, tổng kết cụ thể. Từ đó, đề xuất các giải pháp và quy định rõ ràng hơn việc chuyển nhượng kết quả giảm phát thải từ REDD+ để tạo cơ sở pháp lý triển khai thực hiện.

3. Thực tiễn triển khai các chương trình/dự án giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng tại Việt Nam

Việt Nam đã chủ động tham gia sáng kiến REDD+ và được đánh giá là hướng đi phù hợp với mục tiêu bảo vệ và phát triển rừng, khuyến khích người nghèo, người dân miền núi tham gia bảo vệ, quản lý, sử dụng và phục hồi rừng lâu dài, bền vững, phù hợp với trình độ và điều kiện từng nơi, góp phần phát triển kinh tế nhanh và bền vững hướng tới nền kinh tế xanh. Các chương trình/dự án REDD+ được triển khai rất sớm như: Chương trình UN - REDD Việt Nam từ năm 2007. Trong giai đoạn 2009 - 2014, tại Việt Nam đã có 44 dự án liên quan hoặc hỗ trợ REDD+ được tiến hành với kinh phí đạt 84,31 triệu USD, trong đó có 24 dự án đã kết thúc với tổng số vốn 18,65 triệu USD và 20 dự án đang hoạt động với tổng số vốn là 65,66 triệu USD[2]. Ngày 05/4/2017, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 419/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình quốc gia về giảm phát thải khí nhà kính thông qua hạn chế mất rừng và suy thoái rừng, bảo tồn, nâng cao trữ lượng các-bon và quản lý bền vững tài nguyên rừng đến năm 2030 nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững và chống biến đổi khí hậu, thu hút sự hỗ trợ của quốc tế, tiến tới tiếp cận thị trường tín chỉ các-bon và nâng cao đời sống của người dân.

Các chương trình/dự án REDD+ được triển khai trong thời gian dài với ba giai đoạn: Giai đoạn sẵn sàng (là giai đoạn thu hút và nhận các nguồn tài chính để hỗ trợ các quốc gia chuẩn bị cho các chương trình/dự án REDD+); Giai đoạn thực thi (là giai đoạn nguồn tại chính được chuyển sang để thực hiện các chương trình/dự án REDD+); Giai đoạn chi trả dựa trên kết quả (là giai đoạn các quốc gia chuyển sang tìm kiếm nguồn tài chính để chi trả cho kết quả đạt được trong giai đoạn thực thi)[3].

Tại Việt Nam, đa phần các chương trình/dự án REDD+ đã chuyển sang giai đoạn ba và đang tìm kiếm nguồn tài chính chi trả và thực hiện chuyển nhượng kết quả giảm phát thải. Ngày 22/10/2020, Việt Nam đã ký kết thành công Thỏa thuận ERPA (gồm diện tích rừng tự nhiên thuộc 06 tỉnh: Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế) giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Ngân hàng Tái thiết và Phát triển quốc tế - IBRD (bên được ủy thác của Quỹ đối tác các-bon lâm nghiệp - FCPF). Theo đó, Việt Nam chuyển nhượng cho FCPF 10,3 triệu tấn CO2tđ với giá 5 USD/tấn và nhận được 51,5 triệu USD; Sau khi chuyển nhượng, 95% kết quả giảm phát thải sẽ được chuyển giao cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để sử dụng cho Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) của Việt Nam.

Thỏa thuận ERPA đánh dấu là Thỏa thuận chi trả giảm phát thải đầu tiên của Việt Nam, mở ra các cơ hội đàm phán khác với các đối tác phát triển. Thực tiễn, một số Thỏa thuận chi trả giảm phát thải cho các dự án khác mà Việt Nam đang đàm phán như: Dự án tại 05 tỉnh vùng Tây Nguyên và 06 tỉnh vùng Nam Trung Bộ chuyển nhượng cho Liên minh giảm phát thải và tăng cường tài chính lâm nghiệp (LEAF) ủy thác qua Tổ chức Tăng cường tài chính Lâm nghiệp (Emergent) với tổng số 11 triệu tấn CO2tđ trong giai đoạn 2022 - 2026 với giá dự kiến 10 USD/tấn CO2tđ; Dự án giảm phát thải trong lâm nghiệp vùng trung du, miền núi phía Bắc Việt Nam (SK Forest) dự kiến thực hiện tại 15 tỉnh phía Bắc với tiềm năng tạo ra 30 triệu tín chỉ các-bon rừng trong giai đoạn 2023 - 2030; Dự án chi trả giảm phát thải do JICA chủ trì trình Quỹ GCF cho giai đoạn 2014 - 2018, với tổng số tiền chi trả dự kiến tối thiểu là 50 triệu USD tại các tỉnh miền núi phía Bắc và duyên hải Nam Trung Bộ. Ngoài ra, một số tỉnh cũng đề xuất xây dựng đề án thí điểm chuyển nhượng kết quả giảm phát thải từ REDD+ như: Quảng Nam, Sơn La, Lào Cai, Nghệ An…

4. Một số đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật về chuyển nhượng kết quả giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng

Một là, rà soát, hoàn thiện quy định của Luật Lâm nghiệp năm 2017, Nghị định số 156/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp và các văn bản liên quan về chuyển nhượng kết quả giảm phát thải từ REDD+, trong đó cần quy định rõ khái niệm về kết quả giảm phát thải từ REDD+, nguyên tắc, điều kiện chuyển nhượng; quy định các quyền liên quan đến kết quả giảm phát thải từ REDD+ như: Quyền sở hữu đối với kết quả giảm phát thải, quyền sử dụng các kết quả giảm phát thải, quyền hưởng lợi, quyền định đoạt và quyền bù trừ kết quả giảm phát thải với lượng phát thải khí nhà kính hay kết hợp các quyền trên bảo đảm phù hợp với điều kiện quốc gia, tuân thủ cam kết quốc tế.

Hai là, rà soát, bổ sung quy định về chia sẻ lợi ích giữa các bên liên quan và việc lựa chọn phương án chia sẻ lợi ích phù hợp với bối cảnh, điều kiện của Việt Nam. Quyết định của Công ước khung của Liên Hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) quy định, khi chuyển nhượng kết quả giảm phát thải từ REDD+ đều phải thực hiện chia sẻ lợi ích cho các bên liên quan. Hiện nay có 03 cơ chế chia sẻ lợi ích đang được các quốc gia xem xét, thảo luận và áp dụng, gồm: (i) Cơ chế chia sẻ lợi ích ở quy mô quốc gia - trong đó Chính quyền trung ương (đại diện bởi một bộ hoặc cơ quan nhà nước cụ thể) là nơi toàn quyền điều phối và phân bổ lợi ích tới các bên hưởng lợi; (ii) Cơ chế chia sẻ lợi ích theo quy mô quốc gia nhưng được thực hiện và đóng góp bởi chính quyền địa phương kết hợp với các chương trình dự án; (iii) Cơ chế chia sẻ lợi ích theo mô hình dự án và chương trình. Phần lớn các quốc gia đang lựa chọn cơ chế thứ hai để bảo đảm tính tự chủ của quốc gia, tiết kiệm chi phí và nguồn lực trong thiết kế, giám sát, điều hành và hạn chế rủi ro do tranh chấp về lợi ích của các bên.

Việt Nam cần xem xét bản chất của các chương trình, dự án REDD+ cũng như thực tế thực hiện cơ chế chia sẻ lợi ích liên quan đến chuyển nhượng các kết quả giảm phát thải thời gian vừa qua để đề xuất phương án chia sẻ lợi ích giữa các bên cho phù hợp, đặc biệt đối với trường hợp (ii) và (iii) nêu trên.

Ba là, đánh giá, tổng kết việc thực hiện thí điểm chi trả kết quả giảm phát thải khí nhà kính vùng Bắc Trung Bộ theo Nghị định số 107/2022/NĐ-CP về thí điểm chuyển nhượng kết quả giảm phát thải và quản lý tài chính Thỏa thuận ERPA để có đánh giá toàn diện và làm rõ các vấn đề về chuyển nhượng kết quả giảm pháp thải từ REDD+ và dịch vụ môi trường rừng. Từ đó, đề xuất giải pháp trình cấp có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thống nhất, minh bạch trong quy định và thuận lợi trong thực hiện.

Bốn là, rà soát, bổ sung quy định về quản lý và sử dụng nguồn thu từ chuyển nhượng kết quả giảm phát thải từ REDD+: Bên cạnh quy định chung về REDD+ thì việc xây dựng các quy định về quản lý tài chính và chia sẻ lợi ích từ kết quả chuyển nhượng phát thải cũng cần thực hiện song song, đặc biệt liên quan đến chi trả kết quả giảm phát thải từ REDD+ với rừng tự nhiên hoặc chương trình/dự án sử dụng một phần hoặc toàn bộ kinh phí triển khai thực hiện từ ngân sách nhà nước. Theo đó, cần rà soát quy định về ưu đãi cho các chương trình/dự án giảm phát thải từ REDD+; quy định về thuế (thuế nhu nhập doanh nghiệp); quy định về phí, lệ phí chuyển nhượng kết quả giảm phát thải; bổ sung quy định về quản lý nguồn thu từ chi trả kết quả giảm phát thải và bán tín chỉ các-bon từ chương trình/dự án REDD+ và quy định về cơ chế chi trả giảm phát thải;…

Đồng thời, cần cân nhắc các mục tiêu của quốc gia khi sử dụng nguồn tài chính thu được từ chuyển nhượng kết quả giảm phát thải để tái đầu tư vào các chương trình, dự án phát triển bền vững, bảo đảm tính công bằng, hiệu suất và hiệu quả khuyến khích, lồng ghép các nguồn lực đóng góp cho mục tiêu giảm phát thải cũng như hỗ trợ cải thiện sinh kế của cộng đồng và dân cư sống phụ thuộc vào rừng./.

ThS. Trần Hồng Nhung

Vụ Pháp chế, Bộ Tài chính

[1]. Điều 5 Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu.

[2]. Lê Văn Cường, Đăng Việt Quang, Trương Tất Đơ: Xác định dòng tài chính REDD+ tại Việt Nam giai đoạn 2009 - 2013, Báo cáo trong chương trình REDD của Forest Trends, Hà Nội, 2014.

[3]. A brief explainer of how REDD+ finance works, CIFOR, 30/5/2018 https://forestsnews.cifor.org/56485/a-brief-explainer-of-how-redd-finance-works?fnl=en, truy cập ngày 20/03/2024.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 401), tháng 3/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.

Theo dõi chúng tôi trên: