Thứ năm 14/05/2026 02:06
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định pháp luật về đất đai liên quan đến cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo

Bài viết nghiên cứu, phân tích quy định của pháp luật về đất đai liên quan đến cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, từ đó, kiến nghị, đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật trong lĩnh vực này.

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quy định của pháp luật về đất đai liên quan đến cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, từ đó, kiến nghị, đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật trong lĩnh vực này.

Abstract: The article researches and analyzes the provisions of the law on land related to belief and religious establishments, from which, proposes to improve the legal provisions in this field.

1. Khái quát quy định của pháp luật về đất đai liên quan đến cơ sơ tín ngưỡng, tôn giáo
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định: Tổ chức tôn giáo là tập hợp tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành của một tôn giáo được tổ chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận nhằm thực hiện các hoạt động tôn giáo[1]; cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, trụ sở của tổ chức tôn giáo, cơ sở hợp pháp khác của tổ chức tôn giáo[2]; cơ sở tín ngưỡng là nơi thực hiện hoạt động tín ngưỡng của cộng đồng như đình, đền, miếu, nhà thờ dòng họ và những cơ sở tương tự khác[3].
Cơ sở tôn giáo, cơ sở tín ngưỡng là nơi thờ tự, tu hành, nơi đào tạo người chuyên hoạt động tôn giáo. Trụ sở của tổ chức tôn giáo, tín ngưỡng và những cơ sở khác được Nhà nước công nhận như: Đình, đền, miếu, nhà thờ dòng họ, chùa, tu viện, thiền viện, tịnh xá, niệm phật đường, nhà thờ, nhà xứ, nhà thờ họ công giáo, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, trường đào tạo riêng của tôn giáo… Cơ sở thờ tự có phạm vi hẹp hơn so với cơ sở tôn giáo chỉ các cơ sở là nơi thờ cúng như đình, đền, miếu, chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường. Những cơ sở ngoài mục đích thờ cúng của tôn giáo không được coi là cơ sở thờ tự.
Đất cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng: Căn cứ vào mục đích sử dụng, đất đai được phân loại thành đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp, đất chưa sử dụng. Đất cơ sở tôn giáo, cơ sở tín ngưỡng thuộc nhóm đất phi nông nghiệp: (i) Đất cơ sở tôn giáo gồm đất thuộc chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, niệm phật đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo, các cơ sở khác của tôn giáo được Nhà nước cho phép hoạt động; (ii) Đất tín ngưỡng bao gồm đất có công trình đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ.
Như vậy, khái niệm về đất đai cơ sở tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và Luật Đất đai gần như tương đồng và phải đáp ứng các điều kiện: (i) Đất đó được Nhà nước giao và được sử dụng với mục đích tín ngưỡng, tôn giáo; (ii) Người sử dụng đất phải là tổ chức tôn giáo, tổ chức tín ngưỡng được Nhà nước cho phép hoạt động; (iii) Đất cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng thuộc nhóm đất phi nông nghiệp; (iv) Tổ chức tôn giáo, tín ngưỡng sử dụng không phải trả tiền sử dụng đất; (v) Tổ chức tôn giáo không có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê quyền sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; không được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi.
Hiện nay, Việt Nam đã công nhận và cấp đăng ký hoạt động cho 16 tôn giáo và 43 tổ chức tôn giáo[4] với trên 46,8 nghìn cơ sở thuộc các tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau (số cơ sở tôn giáo là 28,5 nghìn cơ sở, số cơ sở tín ngưỡng là 18,3 nghìn cơ sở)[5]. Diện tích đất cơ sở tôn giáo đang sử dụng là 13.217 ha, diện tích đất cơ sở tín ngưỡng đang sử dụng là 7.153 ha. Số cơ sở trên bao gồm cơ sở thờ tự, cơ sở đào tạo, cơ sở phụ trợ, cơ sở hoạt động xã hội của tôn giáo, tín ngưỡng.
Trong những năm gần đây, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo có những tiến bộ. Cả nước đã thực hiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo đạt khoảng 82%. Báo cáo của các địa phương cho thấy, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tín ngưỡng, tôn giáo đã đạt 94,2%. So với năm 2015, đây là một bước tiến lớn trong công tác quản lý nhà nước về đất tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo ở một số nơi vẫn còn chậm. Có địa phương mới chỉ đạt 26,6% đất cơ sở tôn giáo và 31,4% đất cơ sở tín ngưỡng[6]. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến chậm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như: Vi phạm các quy định về đất đai; các công trình tín ngưỡng, tôn giáo xây dựng trên đất nông nghiệp; chưa làm thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; sử dụng đất sai mục đích quy hoạch; tự ý mở rộng diện tích đất mà không kê khai… Qua nghiên cứu, những bất cập về pháp lý liên quan đến đất đai cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo cũng ảnh hưởng đến quá trình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, dẫn đến tranh chấp, kiếu kiện về đất đai gây ra những bức xúc, bất bình và điểm nóng tôn giáo.
2. Hạn chế, bất cập về pháp luật đất đai liên quan đến cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo
Luật Đất đai năm 2013 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2014), Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực từ năm 2018), nhưng trong quá trình thực hiện và triển khai vẫn còn có một số điểm hạn chế và bất cập liên quan đến giải quyết đất đai tín ngưỡng, tôn giáo.
2.1. Về hạn điền
Khoản 2 Điều 159 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào chính sách tôn giáo của Nhà nước, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt quyết định diện tích đất giao cho cơ sở tôn giáo”. Việc thực hiện khoản này còn có vướng mắc sau:
- Đa số các cơ sở tôn giáo (mới được Nhà nước công nhận) đều không nằm trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nên không có đất dự phòng để giao khi chấp thuận cho tổ chức tôn giáo thành lập hoặc thành lập tổ chức tôn giáo trực thuộc, tôn giáo tự tạo quỹ đất bằng việc mua bán, chuyển nhượng thì trái quy định pháp luật.
- Pháp luật về đất đai chưa đưa ra một quy định cụ thể (khung) về hạn mức đất đai dành cho cơ sở tôn giáo, mà tùy địa phương nên một số địa phương quy định hạn mức không giống nhau, áp dụng cho các tôn giáo khác nhau dẫn đến so bì giữa các tổ chức tôn giáo, ảnh hưởng đến việc thực hiện chủ trương bình đẳng giữa các tôn giáo trong giải quyết vấn đề đất đai. Chưa có quy định hạn điền nên một số nơi tôn giáo cố ý lấn chiếm, tạo thêm quỹ đất.
2.2. Về giao đất
Điểm b khoản 1 Điều 59 Luật Đất đai năm 2013 quy định thẩm quyền giao đất đối với cơ sở tôn giáo thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Khoản 2 Điều 181 Luật Đất đai năm 2013 quy định cơ sở tôn giáo, cộng đồng dân cư sử dụng đất không được chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, tặng cho quyền sử dụng đất; không được thế chấp góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Việc thực hiện các điều khoản trên đang có những vướng mắc sau:
- Tôn giáo được Nhà nước công nhận tổ chức tôn giáo, cho phép thành lập tổ chức tôn giáo trực thuộc nhưng không có đất để xây dựng cơ sở vì nhiều địa phương hết quỹ đất, không có quy hoạch hoặc quy hoạch cho năm năm thì một năm đã sử dụng hết, trong khi theo quy định, tổ chức tôn giáo không được tự tạo quỹ đất.
- Để giải quyết nhu cầu này, tổ chức tôn giáo phải tạo quỹ đất bằng cách mua, bán, sang nhượng, nhận hiến tặng, sau đó làm thủ tục trả lại cho Nhà nước và Nhà nước giao lại cho tổ chức tôn giáo. Quá trình giải quyết phải xin ý kiến của các ngành liên quan, thủ tục kéo dài so với quy định.
- Điều 173, Điều 181 của Luật Đất đai năm 2013 mâu thuẫn với Điều 30 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Điều 30 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định: “Tôn giáo là pháp nhân phi thương mại”, nhưng theo khoản 2 Điều 181 Luật Đất đai năm 2103 thì: “Cơ sở tôn giáo, cộng đồng dân cư sử dụng đất không được chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, tặng cho quyền sử dụng đất; không được thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất”.
2.3. Về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
Luật Đất đai năm 2013 quy định quyền chung của người sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất[7]. Bên cạnh đó, Chỉ thị số 1940/CT-TTg ngày 31/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về nhà, đất liên quan đến tôn giáo quy định cụ thể về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo đó có 03 điều kiện để được cấp: (i) Đất do cơ sở tôn giáo đang sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, sản xuất lâm nghiệp, sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, làm cơ sở hoạt động từ thiện và đất do cơ sở tôn giáo sử dụng quy định tại khoản 1 Điều 99 Luật Đất đai năm 2013 (kể cả trường hợp nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho trước ngày 01/7/2004) nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, được sử dụng theo chế độ sử dụng đất tương ứng với mục đích sử dụng của loại đất đó như đối với hộ gia đình, cá nhân, được chuyển mục đích sử dụng đất theo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; (ii) Đối với đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, sản xuất lâm nghiệp, sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, làm cơ sở hoạt động từ thiện của cơ sở tôn giáo mà không phải là đất do được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất thì được thực hiện các quyền chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê quyền sử dụng đất, thế chấp bằng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai; (iii) Trường hợp cơ sở tôn giáo đã nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất nhưng có tranh chấp thì phải giải quyết dứt điểm tranh chấp theo quy định của pháp luật trước khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất[8].
2.4. Về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với đất do cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất
Điều 102 Luật Đất đai năm 2013 quy định: Cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất khi có đủ các điều kiện sau: (i) Được Nhà nước cho phép hoạt động; (ii) Không có tranh chấp; (iii) Không phải là đất nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho sau ngày 01/7/2004. Đồng thời, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai quy định về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với đất do cơ sở tôn giáo đang sử dụng[9].
Như vậy, để được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cơ sở tôn giáo phải đáp ứng các điều kiện nêu trên. Đối với các trường hợp sau ngày 01/7/2004 mà vi phạm 01 trong các điều kiện trên thì bị xử lý. Bất cập trong công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với cơ sở tôn giáo từ trước ngày 01/7/2004 vẫn là quy hoạch, tranh chấp. Đây chính là lý do cơ sở tôn giáo mở rộng quỹ đất bằng việc mua, chuyển nhượng đứng tên cá nhân nhưng không kê khai vì sợ bị thu hồi và cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho việc chậm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với đất do cơ sở tôn giáo đang sử dụng.
3. Một số kiến nghị, đề xuất hoàn thiện pháp luật về đất đai liên quan đến cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo
Xuất phát từ những bất cập nêu trên, tác giả có một số đề xuất hoàn thiện pháp luật về đất đai cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo như sau:
Thứ nhất, về một số khái niệm:
- Khái niệm đất do cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo sử dụng theo quy định được gọi là đất cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng. Nên điều chỉnh theo hướng đất sử dụng cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo sẽ phù hợp hơn.
- Bổ sung khái niệm người sử dụng đất đối với cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo gồm: Tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc. Hiện nay, người sử dụng đất đối với cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định là tổ chức tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, trên thực tế, ngoài tổ chức tín ngưỡng, tôn giáo còn có các tổ chức tín ngưỡng, tôn giáo trực thuộc, đây là tổ chức thuộc tổ chức tín ngưỡng, tôn giáo được thành lập theo hiến chương, điều lệ, quy định của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, vì vậy, các tổ chức tín ngưỡng, tôn giáo trực thuộc cũng có tư cách để đại điện người sử dụng đất.
- Điều chỉnh khái niệm: “Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho tổ chức cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất” thành “Công nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức tín ngưỡng, tôn giáo đang sử dụng đất”. Căn cứ quy định của pháp luật, tổ chức tín ngưỡng, tôn giáo đủ điều kiện sẽ được Nhà nước công nhận, không đủ điều kiện sẽ bị thu hồi, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức tín ngưỡng, tôn giáo.
Thứ hai, về hạn điền: Quy định rõ về hạn điền đối với đất tín ngưỡng, tôn giáo sử dụng vào mục đích làm cơ sở thờ tự và trụ sở tín ngưỡng, tôn giáo. Quy định cụ thể loại đất mà cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo sử dụng là: Cơ sở thờ tự; trụ sở tín ngưỡng, tôn giáo; cơ sở đào tạo; làm dịch vụ du lịch thương mại…
Thứ ba, về giao đất, cho thuê đất:
Hiện nay, Nhà nước chỉ thực hiện giao đất đối với tổ chức tín ngưỡng, tôn giáo sử dụng đất làm cơ sở thờ tự, trụ sở của các tổ chức tín ngưỡng, tôn giáo. Vì vậy, đất mà các tổ chức tín ngưỡng, tôn giáo sử dụng vào mục đích khác cần thực hiện như các pháp nhân khác. Nếu coi tôn giáo như các pháp nhân khác thì sẽ được Nhà nước cho thuê đất khi có nhu cầu sử dụng đất.
Thứ tư, về mua, bán, chuyển nhượng, hiến đất:
Quy định rõ việc các tôn giáo được mua bán, chuyển nhượng, hiến tặng đất sử dụng vào mục đích khác (trừ việc xây dựng cơ sở thờ tự, trụ sở của các tổ chức tín ngưỡng, tôn giáo). Điều này vừa đáp ứng nhu cầu về cơ sở có liên quan đến tôn giáo, vừa giải quyết được vấn đề tạo quỹ đất trái quy định như hiện nay. Bên cạnh đó, cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo được phép thế chấp tài sản trong các hoạt động dân sự theo quy định của pháp luật.
Thứ năm, thu thuế đất liên quan đến tôn giáo:
Thực hiện thu thuế đất đối với các tổ chức tín ngưỡng, tôn giáo kể cả đất cơ sở thờ tự và sử dụng vào mục đích khác. Điều này vừa thúc đẩy các tổ chức tính ngưỡng, tôn giáo thực hiện trách nhiệm công dân đối với đất nước vừa hạn chế việc mở rộng quỹ đất cũng như việc xây dựng, sửa chữa cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo.

TS. Phan Thị Mỹ Bình
Học viện Hành chính Quốc gia




[1]. Khoản 12 Điều 2 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016.
[2]. Khoản 14 Điều 2 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016.
[3]. Khoản 4 Điều 2 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016.
[4]. Danh mục các tổ chức tôn giáo, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo tính đến tháng 12/2020 (kèm theo Công văn số 6955/BNV-TGCP ngày 28/12/2020 của Bộ Nội vụ), xem: http://vcrm.gviet.vn/btgcp/public/ upload/documents/30_12_2020/danh-muc-dinh-kem-2020-12-30-10-30-30.pdf.
[5]. Thông cáo báo chí kết quả sơ bộ tổng điều tra kinh tế năm 2021, https://www.gso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2022/01/thong-cao-bao-chi-ket-qua-so-bo-tong-dieu-tra-kinh-te-nam-2021/ ngày đăng 11/01/2022.
[6]. Báo cáo số 3101/BC-UBVHGĐTTN14 ngày 29/10/2020 của Ủy ban văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng về Kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.
[7]. Khoản 1 Điều 166 Luật Đất đai năm 2013.
[8]. Chỉ thị số: 1940/CT-TTg ngày 31/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về nhà, đất liên quan đến tôn giáo.
[9]. Xem Điều 28 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.

Theo dõi chúng tôi trên: