Thứ năm 19/03/2026 15:52
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định pháp luật về hệ thống thông tin đất đai và cơ sở dữ liệu đất đai trong Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi

Hoàn thiện quy định pháp luật về hệ thống thông tin đất đai và cơ sở dữ liệu đất đai trong Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi

Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích các quy định về hệ thống thông tin đất đai và cơ sở dữ liệu đất đai dựa trên sự so sánh, đối chiếu giữa Luật Đất đai năm 2013 với Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), từ đó đưa ra một số góp ý hoàn thiện về vấn đề này.

Abstract: The article focuses on analyzing the regulations on the land information system and land database based on the comparison and contrast between the 2013 Land Law and the Draft Land Law (amended), from that provides some complete comments on this matter.

Hệ thống thông tin đất đai và cơ sở dữ liệu đất đai đã mang lại nhiều lợi ích cho cả chủ thể sở hữu/sử dụng đất, Nhà nước và xã hội. Đối với chủ thể sở hữu/sử dụng đất, hệ thống thông tin đất đai được xem là cơ sở cho sự bảo vệ các quyền liên quan của chủ thể về đất đai. Một khi có sự rõ ràng trong việc phân định quyền thì chủ thể sẽ dễ dàng và yên tâm trong các hoạt động khai thác, đầu tư đất đai. Đối với Nhà nước, hệ thống thông tin đất đai là cơ sở để cơ quan công quyền bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền quốc gia và thực hiện trách nhiệm quản lý nhà nước của mình có đối tượng là đất đai. Đối với xã hội, hệ thống thông tin đất đai là cơ sở để bảo đảm sự ổn định của thị trường bất động sản, góp phần cho sự phát triển nền kinh tế bền vững[1]. Chính vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Đất đai năm 2013 liên quan đến hệ thống thông tin đất đai và cơ sở dữ liệu đất đai là thực sự cần thiết.

1. Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai

Luật Đất đai năm 2013 và Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi[2] (Dự thảo) có sự khác nhau trong cách đặt tên cụ thể hệ thống thông tin đất đai. Luật Đất đai năm 2013 quy định về “hệ thống thông tin đất đai” (Chương 7), còn Dự thảo bổ sung cụm từ “quốc gia về” thành “hệ thống thông tin quốc gia về đất đai”[3] (Chương 9).

Bên cạnh đó, nội dung điều luật cũng được sửa đổi. Luật Đất đai năm 2013 quy định, hệ thống thông tin đất đai được thiết kế tổng thể và xây dựng thành một hệ thống thống nhất trên phạm vi cả nước, phục vụ đa mục tiêu, theo tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia, quốc tế được công nhận tại Việt Nam (khoản 1 Điều 120). Còn tại Dự thảo, khoản 1 Điều 159 quy định về hệ thống thông tin quốc gia về đất đai đã được bổ sung yêu cầu về tính “tập trung”, “đồng bộ” và tính “kết nối liên thông trên phạm vi cả nước”, bỏ các thuật ngữ “tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia, quốc tế được công nhận tại Việt Nam”.

Ngoài ra, Dự thảo cũng bổ sung một nội dung hoàn toàn mới mà Luật Đất đai năm 2013 chưa đề cập đến. Cụ thể, tại khoản 2 Điều 159 của Dự thảo quy định, hệ thống thông tin quốc gia về đất đai được xây dựng, vận hành để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai; kết nối, chia sẻ dữ liệu với cơ sở dữ liệu của các bộ, ngành, địa phương tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế số và xã hội số. Quy định này là phù hợp với xu thế tất yếu hiện nay khi mọi lĩnh vực trong nền kinh tế, kể cả công tác quản lý hành chính nhà nước về đất đai đều chuyển sang giai đoạn số hóa quy trình.

Đối với quy định về thành phần cơ bản của hệ thống thông tin quốc gia về đất đai, Dự thảo đã sửa đổi từ “hệ thống phần mềm hệ điều hành, phần mềm hệ thống và phần mềm ứng dụng” (được quy định trong Luật Đất đai năm 2013) sang “phần mềm xây dựng, quản lý, vận hành, khai thác cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia”[4]. Sự thay đổi này đã cho thấy kỹ thuật lập pháp có nhiều tiến bộ khi các quy định có sự rõ ràng và minh thị.

Mặc dù đã có nhiều sửa đổi, bổ sung tiến bộ nhưng theo quan điểm của tác giả, hiện tại, Dự thảo vẫn chưa thống nhất cách sử dụng thuật ngữ trong quy định của các điều luật. Ở phần giải thích khái niệm, thuật ngữ được đưa ra để định nghĩa là “hệ thống thông tin đất đai”[5]. Tuy nhiên, đến phần nội dung của điều luật thì lại sử dụng thuật ngữ “hệ thống thông tin quốc gia về đất đai”[6]. Ở phần định nghĩa khái niệm, Dự thảo định nghĩa “hệ thống thông tin đất đai” là hệ thống tổng hợp các yếu tố hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin, phần mềm, dữ liệu và quy trình, thủ tục được xây dựng để thu thập, lưu trữ, cập nhật, xử lý, phân tích, tổng hợp và truy xuất thông tin đất đai. Đến phần quy định pháp luật cụ thể, tại khoản 1 Điều 159, Dự thảo lại sử dụng thuật ngữ “hệ thống thông tin quốc gia về đất đai”, được thiết kế tổng thể và xây dựng thành một hệ thống tập trung, thống nhất, đồng bộ, đa mục tiêu và kết nối liên thông trên phạm vi cả nước. Do vậy, tác giả đề xuất nên bổ sung điều khoản giải thích thuật ngữ “hệ thống thông tin quốc gia về đất đai” để tạo sự thống nhất với nội dung điều luật tại Điều 159 của Dự thảo. Hay nói cách khác, cần có sự phân biệt rõ ràng sự khác nhau giữa hai thuật ngữ “hệ thống thông tin đất đai” và “hệ thống thông tin quốc gia về đất đai”.

2. Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai

Về cơ sở xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai, Dự thảo đã có quy định theo hướng hoàn thiện hơn so với Luật Đất đai năm 2013, cụ thể, tại khoản 1 Điều 160 của Dự thảo có quy định, cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai được xây dựng thống nhất theo tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia, triển khai đồng bộ trong phạm vi cả nước, theo đó, so với Luật Đất đai năm 2013 thì Dự thảo đã có bổ sung “tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia”. Còn đối với thành phần tạo nên cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai thì hiện tại, chưa có sự thay đổi nhiều. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, Dự thảo cần bổ sung thêm “quy chuẩn quốc tế được công nhận tại Việt Nam” vì cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai là tập hợp các dữ liệu đất đai được sắp xếp, tổ chức để truy cập, khai thác, quản lý và cập nhật thông qua phương tiện điện tử (khoản 23 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 và khoản 11 Điều 3 của Dự thảo) nên sẽ có những quy chuẩn “không biên giới”, đó có thể là các quy chuẩn về các phương tiện điện tử nước ngoài mà nước ta áp dụng, lúc này, cần phải có quy định đối với quy chuẩn quốc tế. Quy định này có tính mở giúp cho hoạt động lập pháp trở nên linh hoạt và dễ dàng điều chỉnh khi bối cảnh của nền kinh tế - xã hội thay đổi.

Bên cạnh đó, Dự thảo đã bổ sung một số nội dung về cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai quốc gia mà Luật Đất đai năm 2013 chưa đề cập. Cụ thể, cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai được thiết lập ở Bộ Tài nguyên và Môi trường và các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thành một hệ thống thống nhất, liên thông; là nền tảng cơ sở cho triển khai công tác quản lý, nghiệp vụ, hoạt động về đất đai; cung cấp dữ liệu thông tin cho quản trị nhà nước, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; phát triển Chính phủ số, phát triển kinh tế số, xã hội số; tạo ra thông tin mới và các giá trị gia tăng; tạo nguồn thu từ phí cung cấp dữ liệu, thông tin đất đai để phát triển, duy trì, vận hành cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Nội dung, cấu trúc và kiểu thông tin cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai được thực hiện theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

So sánh với Luật Đất đai năm 2013 thì chủ thể chịu trách nhiệm khi quy định về nội dung, cấu trúc và kiểu thông tin cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai là Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường (khoản 3 Điều 121), còn Dự thảo lại quy định cơ quan Bộ Tài nguyên và Môi trường (khoản 4 Điều 160). Nói cách khác, thay vì chỉ giao cho cá nhân đại diện chịu trách nhiệm về các khía cạnh của cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai thì nay đã mở rộng ra cơ quan vì tính chất quan trọng của việc xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai, đặc biệt là trong bối cảnh số hóa như hiện nay khi hầu hết các dữ liệu, thông tin đều được chuyển từ dạng giấy sang dạng số. Tuy nhiên, cần có thêm điều luật quy định về trách nhiệm, quyền hạn của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, vì thực chất, Bộ trưởng sẽ có những nhiệm vụ, quyền hạn đặc thù mà không thể quy định chung cả các cơ quan.

3. Quản lý, khai thác và kết nối liên thông cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai

Dự thảo có sự tách biệt một cách rõ ràng cũng như quy định cụ thể nội dung về quản lý và khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Bên cạnh đó, Dự thảo đã bổ sung quy định về kết nối liên thông cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai (khoản 5 Điều 161). Cụ thể:

Thứ nhất, về quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai:

- Dự thảo và Luật Đất đai năm 2013 đều công nhận thông tin trong cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai là có giá trị pháp lý như trong hồ sơ giấy. Tuy nhiên, Dự thảo đã bổ sung thêm điều kiện là thông tin đó phải có xác thực điện tử từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền (khoản 1 Điều 161). Bổ sung này được đánh giá là phù hợp để bảo đảm hiệu lực pháp lý của thông tin trong cơ sở dữ liệu quốc gia, tuy nhiên, việc xác thực điện tử sẽ được thực hiện như thế nào thì Dự thảo lại chưa đề cập đến vấn đề này. Do vậy, tác giả cho rằng, Dự thảo nên bổ sung quy định về cách thức xác thực điện tử và quy định để làm rõ việc xác thực đó có phải được công nhận trong mọi trường hợp hay không và cần bảo đảm những điều kiện nào?

- Dự thảo đã bổ sung 02 nội dung mới trong quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai gồm: (i) Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai là duy nhất, được quản lý tập trung và được phân cấp, phân quyền thống nhất từ trung ương đến địa phương; (ii) Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai phải được cập nhật đầy đủ, chính xác, kịp thời, bảo đảm phù hợp với hiện trạng quản lý, sử dụng đất đai trên thực tế (khoản 2, 3 Điều 161). Bổ sung này phù hợp với thực tế và có sự tiến bộ so với Luật Đất đai năm 2013. Đây có thể được xem là những nguyên tắc của cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai mà các chủ thể có liên quan phải tuân thủ.

Thứ hai, về khai thác thông tin trong cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai:

Đối với nội dung này, khoản 3 Điều 122 Luật Đất đai năm 2013 chỉ quy định: “Tổ chức, cá nhân có nhu cầu về thông tin, dữ liệu đất đai được khai thác, sử dụng qua cổng thông tin đất đai ở trung ương, địa phương và phải nộp phí; khi thực hiện khai thác thông tin, dữ liệu đất đai phải thực hiện đúng quy định của pháp luật”.

Còn tại Dự thảo, nhiều nội dung đã được bổ sung, trong đó, có sự phân chia rõ ràng đối với từng chủ thể về quyền, trách nhiệm khi khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai (khoản 6 Điều 161). Theo đó: (i) Đối với cơ quan quản lý dữ liệu chuyên ngành, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội được khai thác thông tin trong cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai thuộc phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình. (ii) Người sử dụng đất được khai thác thông tin của mình trong cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. (iii) Tổ chức, cá nhân không thuộc hai nhóm chủ thể trên thì trong trường hợp nếu có nhu cầu khai thác thông tin trong cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai phải được sự đồng ý của cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai theo quy định của pháp luật. (iv) Nhà nước phải có trách nhiệm trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân được tiếp cận, khai thác thông tin dữ liệu về đất đai, khuyến khích các tổ chức cá nhân phản hồi, cung cấp, cập nhật thông tin cho cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai.

Ngoài ra, Dự thảo còn quy định rõ trách nhiệm của Bộ Tài chính trong việc quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng tài liệu đất đai đối với các nội dung do cơ quan trung ương quản lý theo quy định của pháp luật; hướng dẫn xác định giá cung cấp dịch vụ thông tin, dữ liệu đất đai theo quy định của pháp luật về giá.

Có thể nói, các quy định về cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai đã có sự hoàn thiện hơn so với Luật Đất đai năm 2013. Tuy nhiên, Dự thảo chưa đề cập đến các quy định về nội dung, cấu trúc kiểu thông tin cũng như các yêu cầu về chức năng của phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai mà mới chỉ dừng lại ở quy định về trách nhiệm của chủ thể đối với cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Do vậy, cần tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện về vấn đề này.

4. Dịch vụ công trực tuyến trong lĩnh vực đất đai

Hiện nay, theo số liệu thống kê về dịch vụ công trực tuyến về đất đai thì: (i) Cung cấp dữ liệu đất đai (25 hồ sơ đã được tiếp nhận); (ii) Giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường (0 hồ sơ được tiếp nhận); (iii) Cấp đổi, cấp lại chứng chỉ định giá đất (0 hồ sơ được tiếp nhận); (iv) Cấp chứng chỉ định giá đất (02 hồ sơ được tiếp nhận); (v) Thẩm định, đánh giá điều kiện, năng lực của tổ chức xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai (0 hồ sơ được tiếp nhận)[7]. Có thể thấy rằng, số lượng hồ sơ thực hiện bằng hình thức trực tuyến còn rất ít so với hồ sơ thực tế giải quyết bằng hình thức truyền thống. Do đó, để nâng cao hiệu quả của dịch vụ công trực tuyến trong lĩnh vực đất đai thì cần đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến dịch vụ này đến với người dân và nâng cấp dịch vụ để bảo đảm ưu thế của việc giải quyết các vấn đề về đất đai bằng con đường trực tuyến. Ngoài ra, cần hoàn thiện Luật Đất đai năm 2013 bằng cách sửa đổi, bổ sung các quy định có liên quan đến dịch vụ công trực tuyến về đất đai thông qua Dự thảo được xem là một trong những giải pháp quan trọng.

Dự thảo đã hoàn thiện các quy định về dịch vụ công trực tuyến trong lĩnh vực đất đai. Khoản 1 Điều 162 Dự thảo quy định các dịch vụ công trực tuyến về đất đai, gồm dịch vụ hành chính công về đất đai, dịch vụ cung cấp, khai thác thông tin về đất đai và dịch vụ công khác về đất đai theo quy định pháp luật. Đây được xem là sự sửa đổi hoàn thiện hơn so với Luật Đất đai năm 2013 khi Luật này đưa ra các trường hợp thuộc dịch vụ công nhưng chưa có sự bao quát. Đặc biệt, về việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến về đất đai phải thực hiện như sau: (i) Cơ quan có quản lý nhà nước có thẩm quyền cung cấp dịch vụ công trực tuyến về đất đai theo quy định của Chính phủ bảo đảm kết nối, liên thông, thuận tiện, đơn giản, an toàn cho cơ quan, tổ chức, cá nhân và phục vụ công tác quản lý nhà nước về đất đai. (ii) Các hình thức xác nhận của Nhà nước với quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sử dụng đất được thực hiện trên hồ sơ số và xác thực điện tử. Các giao dịch về đất đai trên môi trường điện tử có tính pháp lý và được pháp luật bảo hộ. (iii) Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm xây dựng, tổ chức, hướng dẫn triển khai dịch vụ công trực tuyến về đất đai, bảo đảm tính đồng bộ, kết nối, liên thông theo quy định của pháp luật.

Như đã đề cập, Dự thảo đã có các quy định về đăng ký đất đai trực tuyến có sự hoàn thiện hơn so với Luật Đất đai năm 2013. Tuy nhiên, Dự thảo cần có quy định về xác định hồ sơ số là gì, cách thức xác thực điện tử như thế nào và việc thực hiện đăng ký đất đai bằng hình thức trực tuyến có phải là một giao dịch điện tử hay không, nếu có thì Luật Giao dịch điện tử năm 2005 sẽ được áp dụng trong trường hợp này. Cũng theo Luật Giao dịch điện tử năm 2005, tại khoản 6 Điều 4 thì giao dịch điện tử là giao dịch được thực hiện bằng phương tiện điện tử, trong đó, phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự (khoản 10 Điều 4). Do vậy, Dự thảo cần xác định rõ có hay không việc áp dụng Luật Giao dịch điện tử, Luật An ninh mạng, Luật Công nghệ thông tin đối với các vấn đề liên quan đến đăng ký đất đai bằng hình thức trực tuyến.

Ngoài các quy định trên thì một nội dung mà cả Luật Đất đai năm 2013 và Dự thảo chưa đề cập đến là cơ chế bảo đảm an toàn dữ liệu đất đai khi sử dụng hệ thống thông tin quốc gia về đất đai, cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Các dữ liệu về đất đai là rất quan trọng, đặc biệt là việc thực hiện các hoạt động có liên quan trên nền tảng trực tuyến sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro, trong đó, có vấn đề bảo mật thông tin. Do vậy, tác giả cho rằng, trong Dự thảo cần bổ sung thêm một điều khoản quy định về nội dung bảo đảm an toàn dữ liệu đất đai, có thể gồm các biện pháp quản lý, nghiệp vụ, kỹ thuật để bảo mật dữ liệu, hay các quy định về vấn đề sao lưu dữ liệu để lưu trữ thông tin có liên quan đến hoạt động về đất đai; quy định về hệ thống thông tin đất đai phải có hệ thống dự phòng để bảo đảm hoạt động ổn định, liên tục trong điều kiện có sự cố về thiên tai, hỏa hoạn và các sự cố khác.

Xây dựng hệ thống thông tin quốc gia về đất đai, cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai có hiệu quả sẽ tạo cơ sở phát triển Chính phủ điện tử. Đây không chỉ là mục tiêu của Nhà nước đặt ra khi đối diện với các thách thức trong bối cảnh chuyển đổi số mà còn phù hợp với sự hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay. Một hệ thống thông tin quốc gia hay cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai đạt tiêu chuẩn bên cạnh độ tin cậy, tập trung, thống nhất, đồng bộ, kết nối, liên thông thì tính tuân thủ pháp luật là yếu tố quan trọng. Xuất phát từ vai trò của đất đai đối với tất cả người dân và quốc gia thì công tác quản lý, kiểm tra, lưu trữ số liệu về đất đai cần phải được bảo đảm. Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi có sự tiến bộ so với Luật Đất đai năm 2013, trong đó, có các quy định về hệ thống thông tin quốc gia về đất đai, cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Tuy nhiên, các bổ sung, sửa đổi hiện nay trong Dự thảo chưa thực sự hoàn thiện. Vì vậy, cần nghiên cứu và cân nhắc kỹ lưỡng các quy định có trong Dự thảo trên cơ sở khắc phục những vấn đề còn hạn chế để việc áp dụng pháp luật trên thực tế được thực hiện có hiệu quả.

ThS. Trần Linh Huân

Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

ThS. Phạm Thị Hồng Tâm

Trường Đại học Phan Thiết

[1]. Đặng Anh Quân, Võ Trung Tín (2013), “Về hệ thống thông tin đất đai - Một vài góp ý cho Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 01, tr. 40 - 42.

[2]. Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi (lần 2), nguồn: https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-du-thao-luat-dat-dai-sua-doi-lay-y-kien-lan-hai-11923010312182186.htm, truy cập ngày 10/01/2023.

[3]. Điều 159 Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi.

[4]. Điểm b khoản 3 Điều 159 Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi.

[5]. Khoản 24 Điều 3 Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi.

[6]. Điều 159 Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi.

[7]. Số liệu tính trong năm 2022 (đến tháng 11/2022), Bộ Tài nguyên và Môi trường, Cổng dịch vụ công trực tuyến về đất đai, https://dichvucong.monre.gov.vn/pages/linhvuc.aspx?lv=8, truy cập ngày 11/11/2022.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Số 375, tháng 2/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: