Thứ hai 27/07/2026 20:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định pháp luật về hệ thống thông tin đất đai và cơ sở dữ liệu đất đai trong Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi

Hoàn thiện quy định pháp luật về hệ thống thông tin đất đai và cơ sở dữ liệu đất đai trong Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi

Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích các quy định về hệ thống thông tin đất đai và cơ sở dữ liệu đất đai dựa trên sự so sánh, đối chiếu giữa Luật Đất đai năm 2013 với Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), từ đó đưa ra một số góp ý hoàn thiện về vấn đề này.

Abstract: The article focuses on analyzing the regulations on the land information system and land database based on the comparison and contrast between the 2013 Land Law and the Draft Land Law (amended), from that provides some complete comments on this matter.

Hệ thống thông tin đất đai và cơ sở dữ liệu đất đai đã mang lại nhiều lợi ích cho cả chủ thể sở hữu/sử dụng đất, Nhà nước và xã hội. Đối với chủ thể sở hữu/sử dụng đất, hệ thống thông tin đất đai được xem là cơ sở cho sự bảo vệ các quyền liên quan của chủ thể về đất đai. Một khi có sự rõ ràng trong việc phân định quyền thì chủ thể sẽ dễ dàng và yên tâm trong các hoạt động khai thác, đầu tư đất đai. Đối với Nhà nước, hệ thống thông tin đất đai là cơ sở để cơ quan công quyền bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền quốc gia và thực hiện trách nhiệm quản lý nhà nước của mình có đối tượng là đất đai. Đối với xã hội, hệ thống thông tin đất đai là cơ sở để bảo đảm sự ổn định của thị trường bất động sản, góp phần cho sự phát triển nền kinh tế bền vững[1]. Chính vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Đất đai năm 2013 liên quan đến hệ thống thông tin đất đai và cơ sở dữ liệu đất đai là thực sự cần thiết.

1. Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai

Luật Đất đai năm 2013 và Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi[2] (Dự thảo) có sự khác nhau trong cách đặt tên cụ thể hệ thống thông tin đất đai. Luật Đất đai năm 2013 quy định về “hệ thống thông tin đất đai” (Chương 7), còn Dự thảo bổ sung cụm từ “quốc gia về” thành “hệ thống thông tin quốc gia về đất đai”[3] (Chương 9).

Bên cạnh đó, nội dung điều luật cũng được sửa đổi. Luật Đất đai năm 2013 quy định, hệ thống thông tin đất đai được thiết kế tổng thể và xây dựng thành một hệ thống thống nhất trên phạm vi cả nước, phục vụ đa mục tiêu, theo tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia, quốc tế được công nhận tại Việt Nam (khoản 1 Điều 120). Còn tại Dự thảo, khoản 1 Điều 159 quy định về hệ thống thông tin quốc gia về đất đai đã được bổ sung yêu cầu về tính “tập trung”, “đồng bộ” và tính “kết nối liên thông trên phạm vi cả nước”, bỏ các thuật ngữ “tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia, quốc tế được công nhận tại Việt Nam”.

Ngoài ra, Dự thảo cũng bổ sung một nội dung hoàn toàn mới mà Luật Đất đai năm 2013 chưa đề cập đến. Cụ thể, tại khoản 2 Điều 159 của Dự thảo quy định, hệ thống thông tin quốc gia về đất đai được xây dựng, vận hành để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai; kết nối, chia sẻ dữ liệu với cơ sở dữ liệu của các bộ, ngành, địa phương tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế số và xã hội số. Quy định này là phù hợp với xu thế tất yếu hiện nay khi mọi lĩnh vực trong nền kinh tế, kể cả công tác quản lý hành chính nhà nước về đất đai đều chuyển sang giai đoạn số hóa quy trình.

Đối với quy định về thành phần cơ bản của hệ thống thông tin quốc gia về đất đai, Dự thảo đã sửa đổi từ “hệ thống phần mềm hệ điều hành, phần mềm hệ thống và phần mềm ứng dụng” (được quy định trong Luật Đất đai năm 2013) sang “phần mềm xây dựng, quản lý, vận hành, khai thác cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia”[4]. Sự thay đổi này đã cho thấy kỹ thuật lập pháp có nhiều tiến bộ khi các quy định có sự rõ ràng và minh thị.

Mặc dù đã có nhiều sửa đổi, bổ sung tiến bộ nhưng theo quan điểm của tác giả, hiện tại, Dự thảo vẫn chưa thống nhất cách sử dụng thuật ngữ trong quy định của các điều luật. Ở phần giải thích khái niệm, thuật ngữ được đưa ra để định nghĩa là “hệ thống thông tin đất đai”[5]. Tuy nhiên, đến phần nội dung của điều luật thì lại sử dụng thuật ngữ “hệ thống thông tin quốc gia về đất đai”[6]. Ở phần định nghĩa khái niệm, Dự thảo định nghĩa “hệ thống thông tin đất đai” là hệ thống tổng hợp các yếu tố hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin, phần mềm, dữ liệu và quy trình, thủ tục được xây dựng để thu thập, lưu trữ, cập nhật, xử lý, phân tích, tổng hợp và truy xuất thông tin đất đai. Đến phần quy định pháp luật cụ thể, tại khoản 1 Điều 159, Dự thảo lại sử dụng thuật ngữ “hệ thống thông tin quốc gia về đất đai”, được thiết kế tổng thể và xây dựng thành một hệ thống tập trung, thống nhất, đồng bộ, đa mục tiêu và kết nối liên thông trên phạm vi cả nước. Do vậy, tác giả đề xuất nên bổ sung điều khoản giải thích thuật ngữ “hệ thống thông tin quốc gia về đất đai” để tạo sự thống nhất với nội dung điều luật tại Điều 159 của Dự thảo. Hay nói cách khác, cần có sự phân biệt rõ ràng sự khác nhau giữa hai thuật ngữ “hệ thống thông tin đất đai” và “hệ thống thông tin quốc gia về đất đai”.

2. Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai

Về cơ sở xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai, Dự thảo đã có quy định theo hướng hoàn thiện hơn so với Luật Đất đai năm 2013, cụ thể, tại khoản 1 Điều 160 của Dự thảo có quy định, cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai được xây dựng thống nhất theo tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia, triển khai đồng bộ trong phạm vi cả nước, theo đó, so với Luật Đất đai năm 2013 thì Dự thảo đã có bổ sung “tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia”. Còn đối với thành phần tạo nên cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai thì hiện tại, chưa có sự thay đổi nhiều. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, Dự thảo cần bổ sung thêm “quy chuẩn quốc tế được công nhận tại Việt Nam” vì cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai là tập hợp các dữ liệu đất đai được sắp xếp, tổ chức để truy cập, khai thác, quản lý và cập nhật thông qua phương tiện điện tử (khoản 23 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 và khoản 11 Điều 3 của Dự thảo) nên sẽ có những quy chuẩn “không biên giới”, đó có thể là các quy chuẩn về các phương tiện điện tử nước ngoài mà nước ta áp dụng, lúc này, cần phải có quy định đối với quy chuẩn quốc tế. Quy định này có tính mở giúp cho hoạt động lập pháp trở nên linh hoạt và dễ dàng điều chỉnh khi bối cảnh của nền kinh tế - xã hội thay đổi.

Bên cạnh đó, Dự thảo đã bổ sung một số nội dung về cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai quốc gia mà Luật Đất đai năm 2013 chưa đề cập. Cụ thể, cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai được thiết lập ở Bộ Tài nguyên và Môi trường và các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thành một hệ thống thống nhất, liên thông; là nền tảng cơ sở cho triển khai công tác quản lý, nghiệp vụ, hoạt động về đất đai; cung cấp dữ liệu thông tin cho quản trị nhà nước, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; phát triển Chính phủ số, phát triển kinh tế số, xã hội số; tạo ra thông tin mới và các giá trị gia tăng; tạo nguồn thu từ phí cung cấp dữ liệu, thông tin đất đai để phát triển, duy trì, vận hành cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Nội dung, cấu trúc và kiểu thông tin cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai được thực hiện theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

So sánh với Luật Đất đai năm 2013 thì chủ thể chịu trách nhiệm khi quy định về nội dung, cấu trúc và kiểu thông tin cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai là Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường (khoản 3 Điều 121), còn Dự thảo lại quy định cơ quan Bộ Tài nguyên và Môi trường (khoản 4 Điều 160). Nói cách khác, thay vì chỉ giao cho cá nhân đại diện chịu trách nhiệm về các khía cạnh của cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai thì nay đã mở rộng ra cơ quan vì tính chất quan trọng của việc xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai, đặc biệt là trong bối cảnh số hóa như hiện nay khi hầu hết các dữ liệu, thông tin đều được chuyển từ dạng giấy sang dạng số. Tuy nhiên, cần có thêm điều luật quy định về trách nhiệm, quyền hạn của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, vì thực chất, Bộ trưởng sẽ có những nhiệm vụ, quyền hạn đặc thù mà không thể quy định chung cả các cơ quan.

3. Quản lý, khai thác và kết nối liên thông cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai

Dự thảo có sự tách biệt một cách rõ ràng cũng như quy định cụ thể nội dung về quản lý và khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Bên cạnh đó, Dự thảo đã bổ sung quy định về kết nối liên thông cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai (khoản 5 Điều 161). Cụ thể:

Thứ nhất, về quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai:

- Dự thảo và Luật Đất đai năm 2013 đều công nhận thông tin trong cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai là có giá trị pháp lý như trong hồ sơ giấy. Tuy nhiên, Dự thảo đã bổ sung thêm điều kiện là thông tin đó phải có xác thực điện tử từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền (khoản 1 Điều 161). Bổ sung này được đánh giá là phù hợp để bảo đảm hiệu lực pháp lý của thông tin trong cơ sở dữ liệu quốc gia, tuy nhiên, việc xác thực điện tử sẽ được thực hiện như thế nào thì Dự thảo lại chưa đề cập đến vấn đề này. Do vậy, tác giả cho rằng, Dự thảo nên bổ sung quy định về cách thức xác thực điện tử và quy định để làm rõ việc xác thực đó có phải được công nhận trong mọi trường hợp hay không và cần bảo đảm những điều kiện nào?

- Dự thảo đã bổ sung 02 nội dung mới trong quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai gồm: (i) Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai là duy nhất, được quản lý tập trung và được phân cấp, phân quyền thống nhất từ trung ương đến địa phương; (ii) Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai phải được cập nhật đầy đủ, chính xác, kịp thời, bảo đảm phù hợp với hiện trạng quản lý, sử dụng đất đai trên thực tế (khoản 2, 3 Điều 161). Bổ sung này phù hợp với thực tế và có sự tiến bộ so với Luật Đất đai năm 2013. Đây có thể được xem là những nguyên tắc của cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai mà các chủ thể có liên quan phải tuân thủ.

Thứ hai, về khai thác thông tin trong cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai:

Đối với nội dung này, khoản 3 Điều 122 Luật Đất đai năm 2013 chỉ quy định: “Tổ chức, cá nhân có nhu cầu về thông tin, dữ liệu đất đai được khai thác, sử dụng qua cổng thông tin đất đai ở trung ương, địa phương và phải nộp phí; khi thực hiện khai thác thông tin, dữ liệu đất đai phải thực hiện đúng quy định của pháp luật”.

Còn tại Dự thảo, nhiều nội dung đã được bổ sung, trong đó, có sự phân chia rõ ràng đối với từng chủ thể về quyền, trách nhiệm khi khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai (khoản 6 Điều 161). Theo đó: (i) Đối với cơ quan quản lý dữ liệu chuyên ngành, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội được khai thác thông tin trong cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai thuộc phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình. (ii) Người sử dụng đất được khai thác thông tin của mình trong cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. (iii) Tổ chức, cá nhân không thuộc hai nhóm chủ thể trên thì trong trường hợp nếu có nhu cầu khai thác thông tin trong cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai phải được sự đồng ý của cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai theo quy định của pháp luật. (iv) Nhà nước phải có trách nhiệm trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân được tiếp cận, khai thác thông tin dữ liệu về đất đai, khuyến khích các tổ chức cá nhân phản hồi, cung cấp, cập nhật thông tin cho cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai.

Ngoài ra, Dự thảo còn quy định rõ trách nhiệm của Bộ Tài chính trong việc quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng tài liệu đất đai đối với các nội dung do cơ quan trung ương quản lý theo quy định của pháp luật; hướng dẫn xác định giá cung cấp dịch vụ thông tin, dữ liệu đất đai theo quy định của pháp luật về giá.

Có thể nói, các quy định về cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai đã có sự hoàn thiện hơn so với Luật Đất đai năm 2013. Tuy nhiên, Dự thảo chưa đề cập đến các quy định về nội dung, cấu trúc kiểu thông tin cũng như các yêu cầu về chức năng của phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai mà mới chỉ dừng lại ở quy định về trách nhiệm của chủ thể đối với cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Do vậy, cần tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện về vấn đề này.

4. Dịch vụ công trực tuyến trong lĩnh vực đất đai

Hiện nay, theo số liệu thống kê về dịch vụ công trực tuyến về đất đai thì: (i) Cung cấp dữ liệu đất đai (25 hồ sơ đã được tiếp nhận); (ii) Giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường (0 hồ sơ được tiếp nhận); (iii) Cấp đổi, cấp lại chứng chỉ định giá đất (0 hồ sơ được tiếp nhận); (iv) Cấp chứng chỉ định giá đất (02 hồ sơ được tiếp nhận); (v) Thẩm định, đánh giá điều kiện, năng lực của tổ chức xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai (0 hồ sơ được tiếp nhận)[7]. Có thể thấy rằng, số lượng hồ sơ thực hiện bằng hình thức trực tuyến còn rất ít so với hồ sơ thực tế giải quyết bằng hình thức truyền thống. Do đó, để nâng cao hiệu quả của dịch vụ công trực tuyến trong lĩnh vực đất đai thì cần đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến dịch vụ này đến với người dân và nâng cấp dịch vụ để bảo đảm ưu thế của việc giải quyết các vấn đề về đất đai bằng con đường trực tuyến. Ngoài ra, cần hoàn thiện Luật Đất đai năm 2013 bằng cách sửa đổi, bổ sung các quy định có liên quan đến dịch vụ công trực tuyến về đất đai thông qua Dự thảo được xem là một trong những giải pháp quan trọng.

Dự thảo đã hoàn thiện các quy định về dịch vụ công trực tuyến trong lĩnh vực đất đai. Khoản 1 Điều 162 Dự thảo quy định các dịch vụ công trực tuyến về đất đai, gồm dịch vụ hành chính công về đất đai, dịch vụ cung cấp, khai thác thông tin về đất đai và dịch vụ công khác về đất đai theo quy định pháp luật. Đây được xem là sự sửa đổi hoàn thiện hơn so với Luật Đất đai năm 2013 khi Luật này đưa ra các trường hợp thuộc dịch vụ công nhưng chưa có sự bao quát. Đặc biệt, về việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến về đất đai phải thực hiện như sau: (i) Cơ quan có quản lý nhà nước có thẩm quyền cung cấp dịch vụ công trực tuyến về đất đai theo quy định của Chính phủ bảo đảm kết nối, liên thông, thuận tiện, đơn giản, an toàn cho cơ quan, tổ chức, cá nhân và phục vụ công tác quản lý nhà nước về đất đai. (ii) Các hình thức xác nhận của Nhà nước với quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sử dụng đất được thực hiện trên hồ sơ số và xác thực điện tử. Các giao dịch về đất đai trên môi trường điện tử có tính pháp lý và được pháp luật bảo hộ. (iii) Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm xây dựng, tổ chức, hướng dẫn triển khai dịch vụ công trực tuyến về đất đai, bảo đảm tính đồng bộ, kết nối, liên thông theo quy định của pháp luật.

Như đã đề cập, Dự thảo đã có các quy định về đăng ký đất đai trực tuyến có sự hoàn thiện hơn so với Luật Đất đai năm 2013. Tuy nhiên, Dự thảo cần có quy định về xác định hồ sơ số là gì, cách thức xác thực điện tử như thế nào và việc thực hiện đăng ký đất đai bằng hình thức trực tuyến có phải là một giao dịch điện tử hay không, nếu có thì Luật Giao dịch điện tử năm 2005 sẽ được áp dụng trong trường hợp này. Cũng theo Luật Giao dịch điện tử năm 2005, tại khoản 6 Điều 4 thì giao dịch điện tử là giao dịch được thực hiện bằng phương tiện điện tử, trong đó, phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự (khoản 10 Điều 4). Do vậy, Dự thảo cần xác định rõ có hay không việc áp dụng Luật Giao dịch điện tử, Luật An ninh mạng, Luật Công nghệ thông tin đối với các vấn đề liên quan đến đăng ký đất đai bằng hình thức trực tuyến.

Ngoài các quy định trên thì một nội dung mà cả Luật Đất đai năm 2013 và Dự thảo chưa đề cập đến là cơ chế bảo đảm an toàn dữ liệu đất đai khi sử dụng hệ thống thông tin quốc gia về đất đai, cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Các dữ liệu về đất đai là rất quan trọng, đặc biệt là việc thực hiện các hoạt động có liên quan trên nền tảng trực tuyến sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro, trong đó, có vấn đề bảo mật thông tin. Do vậy, tác giả cho rằng, trong Dự thảo cần bổ sung thêm một điều khoản quy định về nội dung bảo đảm an toàn dữ liệu đất đai, có thể gồm các biện pháp quản lý, nghiệp vụ, kỹ thuật để bảo mật dữ liệu, hay các quy định về vấn đề sao lưu dữ liệu để lưu trữ thông tin có liên quan đến hoạt động về đất đai; quy định về hệ thống thông tin đất đai phải có hệ thống dự phòng để bảo đảm hoạt động ổn định, liên tục trong điều kiện có sự cố về thiên tai, hỏa hoạn và các sự cố khác.

Xây dựng hệ thống thông tin quốc gia về đất đai, cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai có hiệu quả sẽ tạo cơ sở phát triển Chính phủ điện tử. Đây không chỉ là mục tiêu của Nhà nước đặt ra khi đối diện với các thách thức trong bối cảnh chuyển đổi số mà còn phù hợp với sự hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay. Một hệ thống thông tin quốc gia hay cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai đạt tiêu chuẩn bên cạnh độ tin cậy, tập trung, thống nhất, đồng bộ, kết nối, liên thông thì tính tuân thủ pháp luật là yếu tố quan trọng. Xuất phát từ vai trò của đất đai đối với tất cả người dân và quốc gia thì công tác quản lý, kiểm tra, lưu trữ số liệu về đất đai cần phải được bảo đảm. Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi có sự tiến bộ so với Luật Đất đai năm 2013, trong đó, có các quy định về hệ thống thông tin quốc gia về đất đai, cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Tuy nhiên, các bổ sung, sửa đổi hiện nay trong Dự thảo chưa thực sự hoàn thiện. Vì vậy, cần nghiên cứu và cân nhắc kỹ lưỡng các quy định có trong Dự thảo trên cơ sở khắc phục những vấn đề còn hạn chế để việc áp dụng pháp luật trên thực tế được thực hiện có hiệu quả.

ThS. Trần Linh Huân

Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

ThS. Phạm Thị Hồng Tâm

Trường Đại học Phan Thiết

[1]. Đặng Anh Quân, Võ Trung Tín (2013), “Về hệ thống thông tin đất đai - Một vài góp ý cho Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 01, tr. 40 - 42.

[2]. Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi (lần 2), nguồn: https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-du-thao-luat-dat-dai-sua-doi-lay-y-kien-lan-hai-11923010312182186.htm, truy cập ngày 10/01/2023.

[3]. Điều 159 Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi.

[4]. Điểm b khoản 3 Điều 159 Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi.

[5]. Khoản 24 Điều 3 Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi.

[6]. Điều 159 Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi.

[7]. Số liệu tính trong năm 2022 (đến tháng 11/2022), Bộ Tài nguyên và Môi trường, Cổng dịch vụ công trực tuyến về đất đai, https://dichvucong.monre.gov.vn/pages/linhvuc.aspx?lv=8, truy cập ngày 11/11/2022.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Số 375, tháng 2/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: