Thứ bảy 02/05/2026 03:30
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo Công ước Viên năm 1980

Bài viết tập trung đánh giá mức độ tương thích trong quy định về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của pháp luật Việt Nam so với Công ước Viên năm 1980, từ đó, đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về nội dung này.

Hiện nay, việc đẩy mạnh phát triển thương mại quốc tế đang là xu hướng tất yếu của tất cả các nước trên thế giới, theo đó, các hợp đồng thương mại quốc tế ngày càng phổ biến và được sử dụng rộng rãi đối với các doanh nghiệp kinh doanh. Ngày 18/12/2015, Việt Nam đã chính thức phê duyệt việc gia nhập Công ước Viên về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của Liên Hợp quốc (CISG) (sau đây gọi tắt là Công ước Viên năm 1980) để trở thành viên thứ 84 của Công ước này. Công ước Viên năm 1980 bắt đầu có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 01/01/2017 được soạn thảo và thực thi dưới sự bảo trợ của Liên Hợp quốc. Việc gia nhập Công ước Viên năm 1980 đã đánh dấu một mốc mới, quan trọng trong quá trình tham gia vào các điều ước quốc tế đa phương về thương mại, tăng cường mức độ hội nhập của Việt Nam, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về mua bán hàng hóa quốc tế, bảo đảm công bằng và an toàn để thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển nền kinh tế bền vững.

1. Đánh giá mức độ tương thích trong quy định về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của pháp luật Việt Nam với Công ước Viên năm 1980

Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng được ký kết giữa các thương nhân có trụ sở thương mại (địa điểm kinh doanh) nằm trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau. Đây là loại hợp đồng chủ yếu và chiếm vị trí trung tâm trong hoạt động thương mại quốc tế. Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là một loại của hợp đồng thương mại quốc tế (hợp đồng thương mại có yếu tố nước ngoài). Pháp luật quốc tế, hệ thống pháp luật quốc gia có những quy định khác nhau liên quan đến yếu tố quốc tịch, nơi cư trú, trụ sở của chủ thể, nơi xác lập hợp đồng, nơi thực hiện hợp đồng, nơi có tài sản là đối tượng hợp đồng…

Ở Việt Nam, hiện nay, chưa có luật dành riêng cho giao dịch thương mại quốc tế. Luật Thương mại năm 2005 là luật điều chỉnh chung cho các hoạt động thương mại, bao gồm thương mại nội địa và thương mại quốc tế. Trong trường hợp quan hệ thương mại không được đề cập trong Luật Thương mại năm 2005 thì sẽ được điều chỉnh bằng Bộ luật Dân sự năm 2015. Luật Thương mại năm 2005 có nhiều nội dung tương thích với Công ước Viên năm 1980, tuy nhiên, vẫn còn có một số điểm khác biệt, cần được hoàn thiện để phù hợp với Công ước Viên năm 2008, cụ thể:

Thứ nhất, về đối tượng hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, theo Điều 2 Công ước Viên năm 1980, đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được quy định mang tính chất loại trừ “Công ước Viên không áp dụng vào việc mua bán…”. Trong khi đó, đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được pháp luật Việt Nam quy định tại Luật Thương mại năm 2005 với tiêu chí hàng hóa phải là động sản; hàng có thể được di chuyển qua biên giới của Việt Nam hoặc qua biên giới của một nước; hoặc di chuyển qua khu chế xuất, khu vực hải quan riêng... để xem xét tính quốc tế của hợp đồng thương mại quốc tế. Hàng hóa là đối tượng của hợp đồng sẽ được chuyển từ quốc gia này qua quốc gia khác, tức là có sự dịch chuyển giữa các biên giới các quốc gia hoặc các vùng lãnh thổ. Trong đó, biên giới có thể được hiểu là biên giới địa lý hoặc biên giới theo pháp lý (dù không có sự dịch chuyển về lãnh thổ). Nếu hàng hóa là bất động sản cho dù được bán cho người nước ngoài thì đó không phải là hợp đồng thương mại quốc tế. Việc mua bán bất động sản với người nước ngoài tuân thủ quy định pháp lý riêng.

Như vậy, đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Việt Nam quy định rộng hơn, không cụ thể, không loại trừ, trong trường hợp cụ thể như máy bay, tàu biển theo Công ước Viên năm 1980 thì không là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.

Thứ hai, về hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, theo quy định tại Điều 11 Công ước Viên năm 1980 thì hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được thể hiện dưới bất kỳ hình thức nào cũng đều được coi là hợp pháp: “Hợp đồng mua bán không cần phải được ký kết hoặc xác nhận bằng văn bản hay phải tuân thủ một yêu cầu nào khác về hình thức hợp đồng. Hợp đồng có thể được chứng minh bằng mọi cách, kể cả bằng những lời khai của nhân chứng”. Tuy nhiên, Điều 96 Công ước Viên năm 1980 lại quy định, nếu luật của một quốc gia thành viên quy định hợp đồng mua bán phải được ký kết hay xác nhận bằng văn bản thì quy định này được tôn trọng.

Theo quy định tại khoản 7 Điều 683 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “Hình thức của hợp đồng được xác định theo pháp luật áp dụng đối với hợp đồng đó. Trường hợp hình thức của hợp đồng không phù hợp với hình thức hợp đồng theo pháp luật áp dụng đối với hợp đồng đó, nhưng phù hợp với hình thức hợp đồng theo pháp luật của nước nơi giao kết hợp đồng hoặc pháp luật Việt Nam thì hình thức hợp đồng đó được công nhận tại Việt Nam”. Khoản 1 Điều 683 Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng quy định: “Các bên trong quan hệ hợp đồng được thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng đối với hợp đồng”. Như vậy, có thể thấy, Điều 683 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã được xây dựng theo hướng mở rộng tối đa phạm vi các bên chủ thể của hợp đồng được thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng và điều này phù hợp với pháp luật quốc tế.

Điều 27 Luật Thương mại năm 2005 quy định: “Mua bán hàng hóa quốc tế phải được lập bằng văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị tương đương”. Tuy nhiên, khoản 15 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 cũng quy định: “Các hình thức có giá trị tương đương văn bản bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật”. Có thể thấy, quy định của pháp luật Việt Nam hạn chế hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế hơn so với Công ước Viên năm 1980 và hình thức của hợp đồng được coi là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng.

Như vậy, Công ước Viên năm 1980 không quy định về hình thức hợp đồng, không quy định hình thức là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, còn pháp luật Việt Nam quy định văn bản là hình thức bắt buộc nên hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, doanh nghiệp Việt Nam là một bên tham gia ký kết mà Công ước Viên năm 1980 là nguồn luật điều chỉnh thì hợp đồng phải được lập ở dạng văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương.

Thứ ba, về thời hạn khiếu nại đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Điều 318 Luật Thương mại năm 2005 quy định, thời hạn khiếu nại là ba tháng, kể từ ngày giao hàng đối với khiếu nại về số lượng hàng hóa và sáu tháng, kể từ ngày giao hàng đối với khiếu nại về chất lượng hàng hóa, chín tháng, kể từ ngày bên vi phạm hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc trong trường hợp có bảo hành thì kể từ ngày hết hạn bảo hành đối với các khiếu nại về vi phạm khác. Như vậy, thời hạn tối đa để khiếu nại là không quá chín tháng. Trong khi khoản 2 Điều 39 Công ước Viên năm 1980 lại quy định: “Trong mọi trường hợp, người mua bị mất quyền khiếu nại về việc hàng không phù hợp với hợp đồng nếu họ không thông báo cho người bán biết về việc đó chậm nhất trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hàng hóa đã thực sự được giao cho người mua trừ phi thời hạn này trái ngược với thời hạn bảo hành quy định trong hợp đồng”.

Thời hạn khiếu nại dài hơn thể hiện sự bảo vệ người mua và tính công bằng, đặc biệt trong trường hợp hàng hóa là máy móc, có thể có những lỗi ẩn tỳ mà sau thời gian sử dụng lâu hơn 06 tháng mới phát hiện ra.

Thứ tư, về các trường hợp miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, Điều 294 Luật Thương mại năm 2005 và Điều 79 Công ước Viên năm 1980 đều quy định trường hợp miễn trách nhiệm bao gồm: Trường hợp bất khả kháng và trường hợp lỗi của bên bị vi phạm. Tuy nhiên, Điều 79 Công ước Viên năm 1980 còn quy định việc miễn trách nhiệm của bên thứ ba, trong khi Luật Thương mại năm 2005 không có quy định cụ thể về vấn đề này. Bên cạnh đó, tại điểm d khoản 1 Điều 294 Luật Thương mại năm 2005 quy định, do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng. Quy định này cũng có thể được coi là một trường hợp “bất khả kháng” nằm trong khoản 1 Điều 79 Công ước Viên năm 1980, phạm vi khoản 1 Điều 79 này được quy định rộng hơn.

Như vậy, nhìn chung, Công ước Viên năm 1980 thể hiện sự toàn diện và công bằng hơn khi quy định các trường hợp miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng. Cùng với sự phát triển của kinh tế quốc tế, sự giao thương rộng mở, dịch vụ giao nhận vận tải và logistics phát triển thì việc xuất hiện bên thứ ba tham gia vào quy trình thực hiện hợp đồng là rất phổ biến trên thực tế. Xét riêng trên khía cạnh các trường hợp miễn trách thì Công ước Viên năm 1980 sẽ bảo đảm tính công bằng và an toàn hơn đối với các chủ thể.

Thứ năm, về trách nhiệm buộc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Luật Thương mại năm 2005 quy định trách nhiệm buộc thực hiện hợp đồng tại Ðiều 297, Công ước Viên năm 1980 quy định buộc thực hiện hợp đồng của người mua (Điều 46), quy định buộc thực hiện hợp đồng của người bán (Điều 62). Như vậy, mặc dù cả Công ước Viên năm 1980 và Luật Thương mại năm 2005 đều quy định bên vi phạm hoặc phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hoặc phải thay thế hàng hóa, tuy nhiên, Luật Thương mại năm 2005 chưa chỉ ra căn cứ để áp dụng thay thế hàng hóa, mà chỉ quy định chung chung biện pháp này được áp dụng khi hàng hóa vi phạm về chất lượng và bên vi phạm có thể dùng tiền để thay thế nếu bên bị vi phạm chấp nhận (khoản 2 Điều 297 Luật Thương mại năm 2005). Các quy định theo Luật Thương mại năm 2005 còn chưa rõ ràng, minh bạch nên dễ gây ra bất đồng liên quan đến phạm vi vi phạm chất lượng hàng hóa giữa các bên.

Trong khi đó, theo Công ước Viên năm 1980, điều kiện để bên bị vi phạm được áp dụng biện pháp thay thế hàng hóa khi sự không phù hợp của hàng hóa cấu thành “vi phạm cơ bản”, còn trong các trường hợp khác bên bị vi phạm chỉ được áp dụng biện pháp sửa chữa hàng hóa, loại trừ khuyết tật của hàng hóa và các trường hợp buộc thực hiện nghĩa vụ cụ thể khác tại Điều 47, 48. Như vậy, quy định này của Công ước Viên năm 1980 rõ ràng hơn, có căn cứ hơn, bảo vệ quyền lợi của các bên tốt hơn khi giải quyết tranh chấp, xung đột.

2. Một số kiến nghị

Qua nghiên cứu thực trạng quy định pháp luật của Việt Nam về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cho thấy cơ bản tương đồng với các quy định của Công ước Viên năm 1980 và thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề vướng mắc, bất cập mà pháp luật Việt Nam cần hoàn thiện để phù hợp, tiệm cận với các quy định của Công ước Viên năm 1980 đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Cụ thể:

Một là, về đối tượng của hợp đồng, hàng hóa được đưa ra giao dịch là động sản, theo tác giả, Luật Thương mại năm 2005 cần quy định cụ thể, linh hoạt, phù hợp hơn với Công ước Viên năm 1980, tránh các xung đột pháp luật không cần thiết, mặc dù quy định hiện tại cũng đã cụ thể hóa hơn phần nào các quy định của Công ước Viên năm 1980.

Hai là, về hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, hiện nay, Luật Thương mại năm 2005 đang quy định hẹp hơn so với Công ước Viên và đó là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, theo tác giả, để bảo đảm tính thời đại, mềm dẻo, linh hoạt, phù hợp với tiền lệ pháp quốc tế thì cần bổ sung các quy định hình thức tương đương với văn bản.

Ba là, về thời hiệu khiếu nại, trên cơ sở quy định của Công ước Viên năm 1980 với thời hiệu khiếu nại tối đa là 02 năm, thiết nghĩ, Luật Thương mại năm 2005 cần sửa đổi thời hiệu tương đồng với quy định Công ước Viên năm 1980 nhằm bảo đảm quyền lợi các chủ thể, phát huy tính ưu việt trong quá trình áp dụng.

Bốn là, về trường hợp miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, tác giả cho rằng, Công ước Viên năm 1980 sẽ bảo đảm tính công bằng và an toàn hơn đối với các chủ thể. Vì vậy, cần sửa đổi quy định tại Điều 294 Luật Thương mại năm 2005 theo tinh thần Công ước Viên năm 1980 nhằm bảo đảm quyền lợi của các chủ thể tham gia mua bán hàng hóa quốc tế, tuân thủ quy định Công ước Viên năm 1980 mà Việt Nam đã tham gia.

Năm là, về trách nhiệm buộc thực hiện hợp đồng, quy định này của Công ước Viên năm 1980 rõ ràng hơn, có căn cứ hơn so với Luật Thương mại năm 2005 khi giải quyết tranh chấp, xung đột. Chính vì vậy, cần sửa đổi Điều 297 Luật Thương mại năm 2005 theo hướng chỉ ra căn cứ áp dụng, giải thích rõ ràng, cụ thể về việc thay thế hàng hóa, bảo đảm nguyên tắc tuân thủ và quyền lợi chủ thể tham gia.

Có thể nói, việc sửa đổi, hoàn thiện các quy định về mua bán hàng hóa quốc tế là cần thiết nhằm bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật và áp dụng pháp luật; đồng thời, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và hội nhập sâu, rộng của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới, bảo đảm tính tương thích của pháp luật Việt Nam với các điều ước quốc tế đã ký kết và sự hấp dẫn của môi trường kinh doanh Việt Nam với các nhà đầu tư quốc tế.

TS. Lê Minh Thái

Khoa Luật, Đại học Văn Lang

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 394), tháng 12/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: