Thứ hai 13/04/2026 09:25
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo Công ước Viên năm 1980

Bài viết tập trung đánh giá mức độ tương thích trong quy định về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của pháp luật Việt Nam so với Công ước Viên năm 1980, từ đó, đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về nội dung này.

Hiện nay, việc đẩy mạnh phát triển thương mại quốc tế đang là xu hướng tất yếu của tất cả các nước trên thế giới, theo đó, các hợp đồng thương mại quốc tế ngày càng phổ biến và được sử dụng rộng rãi đối với các doanh nghiệp kinh doanh. Ngày 18/12/2015, Việt Nam đã chính thức phê duyệt việc gia nhập Công ước Viên về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của Liên Hợp quốc (CISG) (sau đây gọi tắt là Công ước Viên năm 1980) để trở thành viên thứ 84 của Công ước này. Công ước Viên năm 1980 bắt đầu có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 01/01/2017 được soạn thảo và thực thi dưới sự bảo trợ của Liên Hợp quốc. Việc gia nhập Công ước Viên năm 1980 đã đánh dấu một mốc mới, quan trọng trong quá trình tham gia vào các điều ước quốc tế đa phương về thương mại, tăng cường mức độ hội nhập của Việt Nam, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về mua bán hàng hóa quốc tế, bảo đảm công bằng và an toàn để thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển nền kinh tế bền vững.

1. Đánh giá mức độ tương thích trong quy định về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của pháp luật Việt Nam với Công ước Viên năm 1980

Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng được ký kết giữa các thương nhân có trụ sở thương mại (địa điểm kinh doanh) nằm trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau. Đây là loại hợp đồng chủ yếu và chiếm vị trí trung tâm trong hoạt động thương mại quốc tế. Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là một loại của hợp đồng thương mại quốc tế (hợp đồng thương mại có yếu tố nước ngoài). Pháp luật quốc tế, hệ thống pháp luật quốc gia có những quy định khác nhau liên quan đến yếu tố quốc tịch, nơi cư trú, trụ sở của chủ thể, nơi xác lập hợp đồng, nơi thực hiện hợp đồng, nơi có tài sản là đối tượng hợp đồng…

Ở Việt Nam, hiện nay, chưa có luật dành riêng cho giao dịch thương mại quốc tế. Luật Thương mại năm 2005 là luật điều chỉnh chung cho các hoạt động thương mại, bao gồm thương mại nội địa và thương mại quốc tế. Trong trường hợp quan hệ thương mại không được đề cập trong Luật Thương mại năm 2005 thì sẽ được điều chỉnh bằng Bộ luật Dân sự năm 2015. Luật Thương mại năm 2005 có nhiều nội dung tương thích với Công ước Viên năm 1980, tuy nhiên, vẫn còn có một số điểm khác biệt, cần được hoàn thiện để phù hợp với Công ước Viên năm 2008, cụ thể:

Thứ nhất, về đối tượng hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, theo Điều 2 Công ước Viên năm 1980, đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được quy định mang tính chất loại trừ “Công ước Viên không áp dụng vào việc mua bán…”. Trong khi đó, đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được pháp luật Việt Nam quy định tại Luật Thương mại năm 2005 với tiêu chí hàng hóa phải là động sản; hàng có thể được di chuyển qua biên giới của Việt Nam hoặc qua biên giới của một nước; hoặc di chuyển qua khu chế xuất, khu vực hải quan riêng... để xem xét tính quốc tế của hợp đồng thương mại quốc tế. Hàng hóa là đối tượng của hợp đồng sẽ được chuyển từ quốc gia này qua quốc gia khác, tức là có sự dịch chuyển giữa các biên giới các quốc gia hoặc các vùng lãnh thổ. Trong đó, biên giới có thể được hiểu là biên giới địa lý hoặc biên giới theo pháp lý (dù không có sự dịch chuyển về lãnh thổ). Nếu hàng hóa là bất động sản cho dù được bán cho người nước ngoài thì đó không phải là hợp đồng thương mại quốc tế. Việc mua bán bất động sản với người nước ngoài tuân thủ quy định pháp lý riêng.

Như vậy, đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Việt Nam quy định rộng hơn, không cụ thể, không loại trừ, trong trường hợp cụ thể như máy bay, tàu biển theo Công ước Viên năm 1980 thì không là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.

Thứ hai, về hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, theo quy định tại Điều 11 Công ước Viên năm 1980 thì hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được thể hiện dưới bất kỳ hình thức nào cũng đều được coi là hợp pháp: “Hợp đồng mua bán không cần phải được ký kết hoặc xác nhận bằng văn bản hay phải tuân thủ một yêu cầu nào khác về hình thức hợp đồng. Hợp đồng có thể được chứng minh bằng mọi cách, kể cả bằng những lời khai của nhân chứng”. Tuy nhiên, Điều 96 Công ước Viên năm 1980 lại quy định, nếu luật của một quốc gia thành viên quy định hợp đồng mua bán phải được ký kết hay xác nhận bằng văn bản thì quy định này được tôn trọng.

Theo quy định tại khoản 7 Điều 683 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “Hình thức của hợp đồng được xác định theo pháp luật áp dụng đối với hợp đồng đó. Trường hợp hình thức của hợp đồng không phù hợp với hình thức hợp đồng theo pháp luật áp dụng đối với hợp đồng đó, nhưng phù hợp với hình thức hợp đồng theo pháp luật của nước nơi giao kết hợp đồng hoặc pháp luật Việt Nam thì hình thức hợp đồng đó được công nhận tại Việt Nam”. Khoản 1 Điều 683 Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng quy định: “Các bên trong quan hệ hợp đồng được thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng đối với hợp đồng”. Như vậy, có thể thấy, Điều 683 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã được xây dựng theo hướng mở rộng tối đa phạm vi các bên chủ thể của hợp đồng được thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng và điều này phù hợp với pháp luật quốc tế.

Điều 27 Luật Thương mại năm 2005 quy định: “Mua bán hàng hóa quốc tế phải được lập bằng văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị tương đương”. Tuy nhiên, khoản 15 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 cũng quy định: “Các hình thức có giá trị tương đương văn bản bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật”. Có thể thấy, quy định của pháp luật Việt Nam hạn chế hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế hơn so với Công ước Viên năm 1980 và hình thức của hợp đồng được coi là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng.

Như vậy, Công ước Viên năm 1980 không quy định về hình thức hợp đồng, không quy định hình thức là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, còn pháp luật Việt Nam quy định văn bản là hình thức bắt buộc nên hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, doanh nghiệp Việt Nam là một bên tham gia ký kết mà Công ước Viên năm 1980 là nguồn luật điều chỉnh thì hợp đồng phải được lập ở dạng văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương.

Thứ ba, về thời hạn khiếu nại đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Điều 318 Luật Thương mại năm 2005 quy định, thời hạn khiếu nại là ba tháng, kể từ ngày giao hàng đối với khiếu nại về số lượng hàng hóa và sáu tháng, kể từ ngày giao hàng đối với khiếu nại về chất lượng hàng hóa, chín tháng, kể từ ngày bên vi phạm hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc trong trường hợp có bảo hành thì kể từ ngày hết hạn bảo hành đối với các khiếu nại về vi phạm khác. Như vậy, thời hạn tối đa để khiếu nại là không quá chín tháng. Trong khi khoản 2 Điều 39 Công ước Viên năm 1980 lại quy định: “Trong mọi trường hợp, người mua bị mất quyền khiếu nại về việc hàng không phù hợp với hợp đồng nếu họ không thông báo cho người bán biết về việc đó chậm nhất trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hàng hóa đã thực sự được giao cho người mua trừ phi thời hạn này trái ngược với thời hạn bảo hành quy định trong hợp đồng”.

Thời hạn khiếu nại dài hơn thể hiện sự bảo vệ người mua và tính công bằng, đặc biệt trong trường hợp hàng hóa là máy móc, có thể có những lỗi ẩn tỳ mà sau thời gian sử dụng lâu hơn 06 tháng mới phát hiện ra.

Thứ tư, về các trường hợp miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, Điều 294 Luật Thương mại năm 2005 và Điều 79 Công ước Viên năm 1980 đều quy định trường hợp miễn trách nhiệm bao gồm: Trường hợp bất khả kháng và trường hợp lỗi của bên bị vi phạm. Tuy nhiên, Điều 79 Công ước Viên năm 1980 còn quy định việc miễn trách nhiệm của bên thứ ba, trong khi Luật Thương mại năm 2005 không có quy định cụ thể về vấn đề này. Bên cạnh đó, tại điểm d khoản 1 Điều 294 Luật Thương mại năm 2005 quy định, do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng. Quy định này cũng có thể được coi là một trường hợp “bất khả kháng” nằm trong khoản 1 Điều 79 Công ước Viên năm 1980, phạm vi khoản 1 Điều 79 này được quy định rộng hơn.

Như vậy, nhìn chung, Công ước Viên năm 1980 thể hiện sự toàn diện và công bằng hơn khi quy định các trường hợp miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng. Cùng với sự phát triển của kinh tế quốc tế, sự giao thương rộng mở, dịch vụ giao nhận vận tải và logistics phát triển thì việc xuất hiện bên thứ ba tham gia vào quy trình thực hiện hợp đồng là rất phổ biến trên thực tế. Xét riêng trên khía cạnh các trường hợp miễn trách thì Công ước Viên năm 1980 sẽ bảo đảm tính công bằng và an toàn hơn đối với các chủ thể.

Thứ năm, về trách nhiệm buộc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Luật Thương mại năm 2005 quy định trách nhiệm buộc thực hiện hợp đồng tại Ðiều 297, Công ước Viên năm 1980 quy định buộc thực hiện hợp đồng của người mua (Điều 46), quy định buộc thực hiện hợp đồng của người bán (Điều 62). Như vậy, mặc dù cả Công ước Viên năm 1980 và Luật Thương mại năm 2005 đều quy định bên vi phạm hoặc phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hoặc phải thay thế hàng hóa, tuy nhiên, Luật Thương mại năm 2005 chưa chỉ ra căn cứ để áp dụng thay thế hàng hóa, mà chỉ quy định chung chung biện pháp này được áp dụng khi hàng hóa vi phạm về chất lượng và bên vi phạm có thể dùng tiền để thay thế nếu bên bị vi phạm chấp nhận (khoản 2 Điều 297 Luật Thương mại năm 2005). Các quy định theo Luật Thương mại năm 2005 còn chưa rõ ràng, minh bạch nên dễ gây ra bất đồng liên quan đến phạm vi vi phạm chất lượng hàng hóa giữa các bên.

Trong khi đó, theo Công ước Viên năm 1980, điều kiện để bên bị vi phạm được áp dụng biện pháp thay thế hàng hóa khi sự không phù hợp của hàng hóa cấu thành “vi phạm cơ bản”, còn trong các trường hợp khác bên bị vi phạm chỉ được áp dụng biện pháp sửa chữa hàng hóa, loại trừ khuyết tật của hàng hóa và các trường hợp buộc thực hiện nghĩa vụ cụ thể khác tại Điều 47, 48. Như vậy, quy định này của Công ước Viên năm 1980 rõ ràng hơn, có căn cứ hơn, bảo vệ quyền lợi của các bên tốt hơn khi giải quyết tranh chấp, xung đột.

2. Một số kiến nghị

Qua nghiên cứu thực trạng quy định pháp luật của Việt Nam về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cho thấy cơ bản tương đồng với các quy định của Công ước Viên năm 1980 và thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề vướng mắc, bất cập mà pháp luật Việt Nam cần hoàn thiện để phù hợp, tiệm cận với các quy định của Công ước Viên năm 1980 đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Cụ thể:

Một là, về đối tượng của hợp đồng, hàng hóa được đưa ra giao dịch là động sản, theo tác giả, Luật Thương mại năm 2005 cần quy định cụ thể, linh hoạt, phù hợp hơn với Công ước Viên năm 1980, tránh các xung đột pháp luật không cần thiết, mặc dù quy định hiện tại cũng đã cụ thể hóa hơn phần nào các quy định của Công ước Viên năm 1980.

Hai là, về hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, hiện nay, Luật Thương mại năm 2005 đang quy định hẹp hơn so với Công ước Viên và đó là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, theo tác giả, để bảo đảm tính thời đại, mềm dẻo, linh hoạt, phù hợp với tiền lệ pháp quốc tế thì cần bổ sung các quy định hình thức tương đương với văn bản.

Ba là, về thời hiệu khiếu nại, trên cơ sở quy định của Công ước Viên năm 1980 với thời hiệu khiếu nại tối đa là 02 năm, thiết nghĩ, Luật Thương mại năm 2005 cần sửa đổi thời hiệu tương đồng với quy định Công ước Viên năm 1980 nhằm bảo đảm quyền lợi các chủ thể, phát huy tính ưu việt trong quá trình áp dụng.

Bốn là, về trường hợp miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, tác giả cho rằng, Công ước Viên năm 1980 sẽ bảo đảm tính công bằng và an toàn hơn đối với các chủ thể. Vì vậy, cần sửa đổi quy định tại Điều 294 Luật Thương mại năm 2005 theo tinh thần Công ước Viên năm 1980 nhằm bảo đảm quyền lợi của các chủ thể tham gia mua bán hàng hóa quốc tế, tuân thủ quy định Công ước Viên năm 1980 mà Việt Nam đã tham gia.

Năm là, về trách nhiệm buộc thực hiện hợp đồng, quy định này của Công ước Viên năm 1980 rõ ràng hơn, có căn cứ hơn so với Luật Thương mại năm 2005 khi giải quyết tranh chấp, xung đột. Chính vì vậy, cần sửa đổi Điều 297 Luật Thương mại năm 2005 theo hướng chỉ ra căn cứ áp dụng, giải thích rõ ràng, cụ thể về việc thay thế hàng hóa, bảo đảm nguyên tắc tuân thủ và quyền lợi chủ thể tham gia.

Có thể nói, việc sửa đổi, hoàn thiện các quy định về mua bán hàng hóa quốc tế là cần thiết nhằm bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật và áp dụng pháp luật; đồng thời, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và hội nhập sâu, rộng của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới, bảo đảm tính tương thích của pháp luật Việt Nam với các điều ước quốc tế đã ký kết và sự hấp dẫn của môi trường kinh doanh Việt Nam với các nhà đầu tư quốc tế.

TS. Lê Minh Thái

Khoa Luật, Đại học Văn Lang

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 394), tháng 12/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Theo dõi chúng tôi trên: