Chủ nhật 26/07/2026 07:48
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định pháp luật về kiểm tra văn bản pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Bài viết phân tích một số bất cập trong các quy định của pháp luật về kiểm tra văn bản pháp luật. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về kiểm tra, rà soát văn bản pháp luật ở Việt Nam hiện nay.

1. Khái niệm kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

Mặc dù cơ chế kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật đã được ghi nhận từ Hiến pháp năm 1992 và được cụ thể hóa tại các Nghị định số 135/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 của Chính phủ và tiếp theo là Nghị định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về kiểm tra, rà soát và xử lý văn bản quy phạm pháp luật, tuy nhiên, phải đến Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì khái niệm kiểm tra, rà soát văn bản mới được ghi nhận một cách chính thức. Theo đó, khái niệm kiểm tra văn bản được định nghĩa tại khoản 4 Điều 2 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 154/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ (sau đây gọi chung là Nghị định số 34/2016/NĐ-CP) như sau: “Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật là việc xem xét, đánh giá, kết luận về tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật được kiểm tra và xử lý văn bản trái pháp luật”. Khoản Điều 2 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP quy định: “Rà soát văn bản quy phạm pháp luật là việc xem xét, đối chiếu, đánh giá các quy định của văn bản được rà soát với văn bản là căn cứ để rà soát, tình hình phát triển kinh tế - xã hội nhằm phát hiện, xử lý hoặc kiến nghị xử lý các quy định trái pháp luật, mâu thuẫn, chồng chéo, hết hiệu lực hoặc không còn phù hợp”.

Từ định nghĩa trên có thể thấy kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật bao gồm cả quá trình từ xem xét, đánh giá, đối chiếu và kết luận về tính pháp lý của văn bản đến việc xử lý văn bản nếu văn bản đó có dấu hiệu trái pháp luật. Hoạt động kiểm tra văn bản chỉ có ý nghĩa thực sự khi các khâu này được thực hiện triệt để từ khâu xem xét, kiểm tra, đánh giá đến khâu xử lý những nội dung trái pháp luật. Do đó, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật không thể thiếu quá trình xử lý văn bản trái pháp luật[1].

2. Bất cập, hạn chế trong quy định pháp luật về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Thứ nhất, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2020 (gọi chung là Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật) và các văn bản hướng dẫn hiện nay không đưa ra định nghĩa cũng như nguyên tắc xác định thứ bậc hiệu lực pháp lý của văn bản quy phạm pháp luật, pháp luật mới chỉ dừng lại ở liệt kê hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tại Điều 4. Theo đó, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật được sắp xếp theo thứ tự từ Hiến pháp, bộ luật, luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; lệnh, quết định của Chủ tịch nước… Các văn bản quy phạm pháp luật đã được kể tên và sắp xếp theo thứ tự tên loại văn bản gắn liền với chủ thể ban hành. Tuy nhiên, cách sắp xếp này dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau về thứ bậc hiệu lực pháp lý của văn bản như là:

- Cách hiểu thứ nhất là: Vị trí thứ bậc của văn bản quy phạm phụ thuộc vào vị trí của chủ thể có thẩm quyền ban hành văn bản trong bộ máy nhà nước theo quy tắc: Cơ quan, cá nhân nào có vị trí cao trong bộ máy nhà nước thì văn bản quy phạm do cơ quan đó ban hành cũng có vị trí cao trong hệ thống pháp luật và ngược lại.

- Cách hiểu thứ hai là: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được xác định theo nhóm các văn bản quy phạm được ban hành bởi một chủ thể và nhóm các văn bản ban hành liên tịch.

Đối chiếu với các quy định của pháp luật hiện hành, cách sắp xếp các văn bản quy phạm pháp luật hiện nay đối với một số văn bản cũng không thống nhất. Cụ thể, theo quy định tại Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội được liệt kê trước lệnh, quyết định của Chủ tịch nước. Khoản 1 Điều 96 Hiến pháp năm 2013 cũng đồng nhất trong cách sắp xếp thứ tự các văn bản trên với quy định: “Chính phủ có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: Tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước”. Trong khi đó, Điều 70 Hiến pháp 2013 về nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội quy định: “Quốc hội có quyền bãi bỏ văn bản của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội”. Ở quy định này, văn bản của Chủ tịch nước được liệt kê trước văn bản của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bên cạnh đó, khoản 8a Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã có sự liệt kê văn bản quy phạm pháp luật theo thứ tự: “Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước”. Như vậy, quy định này có thể hiểu rằng, thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ có hiệu lực pháp lý cao hơn quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước. Trong khi đó, khoản 8a Điều 4 lại liệt kê theo thứ tự: “Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ”.

Đối với văn bản quy phạm pháp luật do Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao ban hành, khoản 8 Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ghi nhận theo thứ tự: “Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước”. Tuy nhiên, cách liệt kê này có sự thay đổi tại Điều 103 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP quy định đối tượng của hoạt động kiểm tra văn bản: “Văn bản được kiểm tra gồm: a) Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; b) Thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tối cao”.

Trong mô hình tổ chức bộ máy nhà nước theo Hiến pháp năm 2013, Ủy ban Thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội, có quyền đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước. Vì vậy, việc sắp xếp văn bản của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trước văn bản của Chủ tịch nước sẽ tương xứng với địa vị pháp lý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tương tự như vậy, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao là những người đứng đầu cơ quan tối cao về xét xử và cơ quan tối cao thực hiện quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Trong khi đó, Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ là người đứng đầu cơ quan chuyên môn của Chính phủ. Do đó, xét về vị trí trong bộ máy nhà nước, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao có vị trí cao hơn Bộ, cơ quan ngang bộ. Chính vì vậy, thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân nhân tối cao, Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải được sắp xếp trước bởi có hiệu lực pháp lý cao hơn thông tư do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành. Đối với quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước, theo Luật Kiểm toán Nhà nước thì Kiểm toán nhà nước là cơ quan chuyên môn về lĩnh vực kiểm tra tài chính nhà nước do Quốc hội thành lập hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; Tổng Kiểm toán nhà nước do Quốc hội bầu theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc. Trong khi đó, bộ, cơ quan ngang bộ là những cơ quan của Chính phủ, giúp Chính phủ quản lý nhà nước một lĩnh vực nhất định. Việc đặt văn bản của Tổng Kiểm toán sau văn bản của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ là không thỏa đáng.

Thứ hai, quy định đối tượng kiểm tra đa dạng dẫn đến mất cân đối trong quá trình kiểm tra các nhóm đối tượng cụ thể. Điều 103 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP quy định về đối tượng kiểm tra văn bản bao gồm 3 nhóm văn bản sau: (i) Văn bản quy phạm pháp luật; (ii) Văn bản có chứa quy phạm pháp luật nhưng không được ban hành bằng hình thức văn bản quy phạm pháp luật; (iii) Văn bản có chứa quy phạm pháp luật hoặc có thể thức và nội dung như quy phạm pháp luật do cơ quan, người không có thẩm quyền tại bộ, ngành ban hành. Với quy định này, đối tượng của hoạt động kiểm tra được cho là quá rộng và khó khăn cho việc kiểm tra một cách kịp thời. Theo quy định, các văn bản quy phạm pháp luật phải trải qua quy trình thẩm định nội dung và hình thức trước khi tiến hành thông qua hoặc ký ban hành[2], trong quá trình thực thi, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm tự mình rà soát và kiểm tra lại các văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành thường xuyên hoặc theo định kỳ.

Tuy nhiên, đối với các văn bản chứa quy phạm pháp luật nhưng không được ban hành bằng hình thức văn bản quy phạm pháp luật; văn bản có chứa quy phạm pháp luật hoặc có thể thức và nội dung như quy phạm pháp luật do cơ quan, người không có thẩm quyền tại bộ, ngành, địa phương ban hành đều không có quy trình thẩm định trước khi ban hành. Vì vậy, không có cơ chế bắt buộc chủ thể ban hành có trách nhiệm kiểm tra và chuyển những văn bản này đến cho bộ phận pháp chế của cơ quan, tổ chức phụ trách kiểm tra văn bản để tiến hành kiểm tra và xử lý nếu văn bản có khiếm khuyết, các văn bản này thường được phát hiện trong quá trình áp dụng hoặc do các cơ quan truyền thông đưa tin. Điều này là một trong những nguyên nhân gây nên khó khăn, bất cập trong công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của cấp bộ đối với văn bản quy phạm pháp luật do địa phương ban hành có nội dung liên quan đến phạm vi quản lý nhà nước của mình[3]. Thực tế cho thấy, các văn bản chứa quy phạm pháp luật nhưng không được ban hành bằng hình thức văn bản quy phạm pháp luật vẫn còn rất nhiều, đặc biệt là ở địa phương. Dạng văn bản này thường được áp dụng như là văn bản quy phạm pháp luật nhưng hoạt động kiểm tra văn bản hiện nay vẫn còn tập trung ở kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật là chủ yếu.

Thứ ba, vấn đề kiểm soát việc ban hành công văn hành chính chứa đựng quy phạm pháp luật.

Về mặt pháp lý, công văn là văn bản hành chính, không phải là văn bản quy phạm pháp luật, vì vậy, công văn không mang nội dung quy định các quy tắc xử sự chung hay chế tài xử lý vi phạm. Hiện nay, pháp luật cũng chưa có các quy định về thang bậc giá trị pháp lý của văn bản hành chính, trong đó có công văn. Theo Điều 3 Nghị định số 30/2020/NĐ-CP ngày 05/3/2020 của Chính phủ về công tác văn thư, “văn bản hành chính là văn bản hình thành trong quá trình chỉ đạo, điều hành, giải quyết công việc của các cơ quan, tổ chức”.

Trên thực tế, công văn được sử dụng với rất nhiều chức năng: (i) Công văn hành chính dùng để trao đổi, giao tiếp giữa cơ quan nhà nước với nhau, giữa cơ quan nhà nước với tổ chức, giữa cơ quan nhà nước với với công dân để giải quyết vì lợi ích chung nhằm thực hiện chức năng quản lý nhà nước của cơ quan ban hành văn bản; (ii) Công văn chứa đựng quy phạm pháp luật; công văn dùng để hướng dẫn trực tiếp văn bản quy phạm pháp luật… Mặc dù việc ban hành hay hướng dẫn một quy phạm pháp luật phải được thực hiện bởi một văn bản quy phạm pháp luật, nhưng hiện nay, để thuận tiện cho công tác quản lý, một số các cơ quan đã ban hành công văn chứa đựng các quy phạm pháp luật, khi áp dụng có hiệu lực cao hơn cả nghị định, thông tư như: Công văn số 8909/BKHĐT-PC ngày 31/12/2020 của Bộ Kế hoạch Đầu tư về việc triển khai Luật Đầu tư; Công văn số 3712/LĐTBXH-TCGDNN ngày 22/10/2021 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội về việc sắp xếp cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập[4]; Công văn số 1685/STNMT- ĐKTKĐĐ ngày 22/3/2022 của Sở Tài nguyên - Môi trường thành phố Hà Nội có nội dung đề nghị Ủy ban nhân dân các quận, huyện, thị xã tạm dừng việc tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính liên quan đến việc chia tách thửa đất đối với thửa đất nông nghiệp; thửa đất có đất ở và đất nông nghiệp trong cùng thửa đất; thửa đất phi nông nghiệp không phải là đất ở[5]… Trong năm 2022, có tới 54 văn bản hành chính có chưa quy phạm pháp luật do địa phương ban hành. Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ tới quyền lợi của người dân, một trong số các đối tượng bị ảnh hưởng nhiều bởi công văn này đó là doanh nghiệp bởi các doanh nghiệp khó có thể tiếp cận cũng như góp ý những nội dung để ban hành trong công văn bởi vì công văn không được xây dựng, ban hành theo một quy trình công khai như đối với văn bản quy phạm pháp luật[6].

Vấn đề đặt ra là hiện nay, kiểm tra và giám sát đối với công văn hành chính còn nhiều bất cập, công văn hành chính không phải thông qua thủ tục lấy ý kiến đóng góp hay tiến hành thẩm định mà việc ban hành phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí của chủ thể ban hành. Vì vậy, việc kiểm soát nội dung công văn phụ thuộc phần lớn vào chính các cơ quan đó. Trong khi đó, thực tiễn công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật thời gian qua cho thấy, đã có nhiều trường hợp công văn chứa quy phạm pháp luật trái pháp luật, gây thiệt hại cho cơ quan, tổ chức, cá nhân, nhưng chưa có trường hợp nào người, cơ quan ban hành văn bản bị xử lý trách nhiệm, cũng chưa có trường hợp nào được bồi thường thiệt hại từ việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật gây ra. Nghị định số 30/2020/NĐ-CP ngày 05/3/2020 của Chính phủ về công tác văn thư cũng nêu rõ trách nhiệm của người soạn thảo văn bản[7]; trách nhiệm của người kiểm tra văn bản trước khi ký ban hành[8]; trách nhiệm của người ký ban hành văn bản[9]. Song việc xử lý trách nhiệm chưa được nêu một cách cụ thể; người tham mưu, người soạn thảo và người ký ban hành cũng chỉ chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức, người đứng đầu, chứ chưa nêu rõ về hình thức, biện pháp xử lý người ban hành công văn chứa quy phạm pháp luật hay công văn trái pháp luật. Trong xu hướng hội nhập kinh tế cùng với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, nhiều quan hệ xã hội phát sinh mà luật chưa kịp thời điều chỉnh, việc ban hành công văn để điều chỉnh một cách kịp thời là điều cần thiết. Tuy nhiên, việc kiểm soát đối với việc ban hành công văn, tránh tình trạng lạm dụng công văn chứa các quy phạm pháp luật gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công nhân dân cũng là vấn đề hết sức cần thiết.

3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đối tượng của hoạt động kiểm tra văn bản pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Thứ nhất, ở góc độ hoàn thiện pháp luật, cần xác định thống nhất vị trí của các văn bản quy phạm pháp luật ở trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản hướng dẫn. Vị trí thứ bậc của văn bản quy phạm pháp luật là căn cứ quan trọng trong việc áp dụng văn bản trong hoạt động quản lý, điều hành tại các cơ quan nhà nước. Hoạt động kiểm tra, rà soát văn bản ở Việt Nam cũng dựa trên cơ sở nguyên tắc áp dụng pháp luật này. Vì vậy, cần có sự thống nhất về vị trí thứ bậc của các văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản liên quan để làm cơ sở cho các cấp, các ngành áp dụng pháp luật và kiểm tra, rà soát văn bản.

Cần bổ sung thêm hình thức hình thức, biện pháp xử lý người ban hành công văn chứa quy phạm pháp luật hay công văn trái pháp luật trong Nghị định quy định về công tác văn thư và chế tài xử lý kỷ luật đối với các chủ thể này trong nghị định quy định về kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức. Việc tạo cơ chế ngăn ngừa tình trạng ban hành văn bản hành chính trái pháp luật từ chính cơ quan tạo ra văn bản là cách thức giảm thiểu khối lượng văn bản cần kiểm tra, rà soát hàng năm tại các bộ, ngành cũng như các địa phương.

Thứ hai, ở góc độ tổ chức thực hiện, cần kiện toàn đội ngũ làm công tác kiểm tra, rà soát văn bản theo hướng chuyên nghiệp tại các tổ chức pháp chế, các cơ quan chuyên môn phụ trách kiểm tra, rà soát văn bản; thường xuyên rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật để kịp thời kiến nghị sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật pháp luật hoặc không còn phù hợp.

ThS. Đặng Thị Hà

Trường Đại học Luật, Đại học Huế

[1]. Bộ Tư pháp (2021), Tài liệu tập huấn Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tr 160-161.

[2]. Điều 102 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định về thẩm định dự thảo thông tư. Điều 121, Điều 124 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định về thẩm định, thẩm tra dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.

[3]. Lê Sơn, (2022), Kiểm tra, rà soát văn bản pháp luật: kịp thời, thận trọng, chính xác, quyết liệt, Link truy cập: https://baochinhphu.vn/kiem-tra-ra-soat-van-ban-phap-luat-kip-thoi-than-trong-chinh-xac-quyet-liet-102220701145243283.htm. Truy cập ngày 01/7/2022.

[4]. Tại Điểm b, mục 1 của công văn đặt ra các quy định mang tính quy phạm và có dấu hiệu trái pháp luật về nội dung và thẩm quyền. Theo điểm b, mục 1 Công văn 3712/LĐTBXH-TCGDNN thì “Các địa phương thực hiện sắp xếp theo hướng chỉ giải thể cơ sở giáo dục nghề nghiệp hoạt động không hiệu quả kéo dài”. Tuy nhiên, vấn đề giải thể cơ sở giáo dục nghề nghiệp hoạt động không hiệu quả kéo dài thuộc thẩm quyền của Chính phủ theo Nghị định số 120/2020/NĐ-CP ngày 07/10/2020 của Chính phủ quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập.

[5]. Việc tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính liên quan đến việc chia tách thửa đất đối với thửa đất nông nghiệp; thửa đất có đất ở và đất nông nghiệp trong cùng thửa đất; thửa đất phi nông nghiệp không phải là đất ở được quy định trong các nghị định, thông tư. Công văn của Sở Tài nguyên Môi trường thành phố Hà Nội là văn bản hành chính nhưng có thể đình chỉ các nội dung quy định trong văn bản quy phạm pháp luật là nghị định, thông tư là không hợp pháp, hợp lý.

[6]. Vũ Thị Ngọc Dung, (2022), Một số vấn đề cần trao đổi về công văn, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Link truy cập: https://danchuphapluat.vn/mot-so-van-de-can-trao-doi-ve-cong-van.

[7]. Khoản 4 Điều 10 Nghị định số 30/2020/NĐ-CP ngày 05/3/2020 của Chính phủ về công tác văn thư cũng nêu rõ trách nhiệm của người soạn thảo văn bản.

[8]. Khoản 1, khoản 2 Điều 12 Nghị định số 30/2020/NĐ-CP ngày 05/3/2020 của Chính phủ về công tác văn thư cũng nêu rõ trách nhiệm của người soạn thảo văn bản.

[9]. Khoản 5 Điều 13 Nghị định số 30/2020/NĐ-CP ngày 05/3/2020 của Chính phủ về công tác văn thư cũng nêu rõ trách nhiệm của người soạn thảo văn bản.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 393), tháng 11/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: