Thứ tư 11/03/2026 00:32
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định pháp luật về quyền địa dịch trong Bộ luật Dân sự năm 2015

Tóm tắt: Bài viết nêu lên khái niệm, đặc điểm của quyền địa dịch, đồng thời nêu khái quát quy định về quyền địa dịch dưới những tên gọi khác nhau trong các Bộ luật Dân sự các năm 1995, 2005, 2015, từ đó, đưa ra những kiến nghị cần bổ sung để làm rõ quy định về quyền địa dịch trong Bộ luật Dân sự năm 2015.

Abstract: This article introduces the conception of praedial servitude, the characteristics of praedial servitude and at the same time, gives a general overview with respect to provisions of praedial servitude under many different names in the Civil Code of 1995, the Civil Code of 2005 and the Civil Code of 2015. From this point, this article proposes some recommendations for praedial servitude in the Civil Code of 2015.

1. Khái quát chung về quyền địa dịch

Địa dịch là một dạng dịch quyền, xét về mặt lịch sử, dịch quyền đã được pháp luật La Mã cổ đại ghi nhận và đã có những bước tiến dài trong quá trình áp dụng vào thực tiễn[1]. Về mặt khách quan, địa dịch là một trong các chế định pháp luật bao gồm các quy định hạn chế quyền của chủ sở hữu hay chủ sử dụng đất đai nhằm bảo đảm cho việc sử dụng đất đai hiệu quả hơn với mục đích bảo đảm lợi ích của xã hội nói chung, đồng thời thỏa mãn được một số nhu cầu thiết yếu của chủ sở hữu hay chủ sử dụng các bất động sản (BĐS) khác. Về mặt chủ quan, địa dịch là quyền của chủ sở hữu hoặc chủ sử dụng BĐS đối với BĐS của người khác hình thành và phát triển trên cơ sở đảm bảo cho việc sử dụng đất đai hiệu quả và mang lại lợi ích chung cho xã hội và lợi ích riêng cho chủ sở hữu hoặc người sử dụng đất[2]. Quyền địa dịch có những đặc điểm như sau:

Thứ nhất, trong quan hệ địa dịch phải có hai BĐS đó là BĐS hưởng quyền và BĐS chịu quyền. Đây là điểm đặc trưng của quyền địa dịch. Mối quan hệ này xuất phát từ nguyên tắc chung là mọi BĐS đều được xác định bằng ranh giới. Ranh giới đó có thể là tường rào, hàng rào, cột mốc… Thông qua ranh giới thì mới xác định được vị trí định vị về BĐS. Đồng thời, mối quan hệ này cũng là hệ quả của nguyên tắc mọi BĐS đều bị vây bọc bởi BĐS khác. Với những nguyên tắc trên, có thể thấy rằng các BĐS luôn nằm trong mối liên hệ và kế tiếp nhau. Vậy, để đảm bảo thuận tiện cho việc khai thác BĐS này (BĐS hưởng quyền) thì sẽ phải có những phiền lụy nhất định trên BĐS khác (BĐS chịu quyền).

Thứ hai, gánh nặng dịch quyền sẽ đặt ra cho BĐS chịu quyền trong thời gian dài để phục vụ cho việc sử dụng BĐS hưởng quyền. Nghĩa là, khi đã xác lập được quyền địa dịch thì BĐS chịu quyền phải chịu gánh nặng cho BĐS hưởng quyền về lâu dài cho đến khi không còn quyền địa dịch nữa hoặc cho đến khi không còn tồn tại BĐS hưởng quyền đó nữa.

Thứ ba, hai BĐS nằm liền kề nhau hay nói cách khác là hai BĐS phải nằm ở những vị trí mà BĐS này có thể khai thác, sử dụng thật sự BĐS kia3. Đây là cơ sở để lý giải một số tình huống trong thực tiễn nhằm xác định có hay không có quyền địa dịch. Chẳng hạn, trong một số trường hợp quy định, để bảo đảm an toàn cho việc cất cánh, hạ cánh máy bay thì trong phạm vi nhất định (ví dụ là 02 km kể từ sân bay), các ngôi nhà không được xây dựng quá cao (ví dụ như xây dưới 05 tầng). Vậy, quy định như trên thì những ngôi nhà được xây dựng cách xa sân bay như trên có được coi là BĐS chịu địa dịch hay không? Nếu được coi là BĐS chịu địa dịch thì có thể có quyền yêu cầu bồi thường ở mức độ nhất định. Có quan điểm cho rằng, do cách BĐS được phân cách bởi các ranh giới và BĐS này tiếp nối BĐS kia, nên về nguyên tắc chung, sân bay cũng được coi là liền kề với BĐS cách xa nó. Do vậy, khi yêu cầu xây dựng nhà không quá cao để đảm bảo an toàn bay thì coi như trường hợp đã thực hiện quyền địa dịch, dẫn đến chủ sở hữu BĐS chịu quyền có quyền yêu cầu bồi thường. Theo quan điểm khác, trường hợp này không phải là thực hiện quyền địa dịch mà đây là trường hợp đảm bảo an toàn cho sân bay vì lợi ích công cộng. Việc không được xây nhà cao là tuân thủ theo quy định trong lĩnh vực hàng không, xây dựng, dẫn đến không được yêu cầu bồi thường thiệt hại. Theo quan điểm này, “liền kề” thì phải được hiểu thông qua việc BĐS có ranh giới liền kề, tiếp giáp nhau. Do vậy, trường hợp như ví dụ nêu trên sẽ không được hưởng quyền yêu cầu bồi thường nếu bắt buộc tuân thủ không được xây dựng quá cao để bảo đảm an ninh hàng không. Tuy nhiên, khái niệm liền kề cần được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Theo nghĩa hẹp, các bất động sản có vị trí liền kề sát nhau, tiếp giáp nhau và việc phiền lụy của BĐS hưởng quyền có tính tác động trực tiếp lên BĐS chịu quyền (ví dụ như quyền mở lối đi qua bất động sản liền kề) hoặc có thể các BĐS không trực tiếp tiếp giáp nhau nhưng để đảm bảo việc sử dụng BĐS hưởng quyền thì phải có phiền lụy trực tiếp lên bất động sản khác (ví dụ như mắc đường dây tải điện, thông tin liên lạc qua BĐS của người khác). Theo nghĩa rộng, quyền địa dịch cần được nhìn nhận là việc “phiền lụy” đặt ra cho một BĐS để làm “tốt hơn” hay khai thác tốt hơn BĐS khác. Đồng thời, khái niệm “liền kề” cần được hiểu theo nghĩa rộng là các BĐS tiếp giáp nhau bởi ranh giới (tường, bờ rào, mốc…) và việc tiếp giáp là sự tiếp giáp kế tiếp nhau, vị trí của các BĐS được xác định bởi sự tiếp giáp với các BĐS khác. Do vậy, với quan điểm theo nghĩa rộng thì quyền địa dịch được áp dụng trong trường hợp của ví dụ trên. Mảnh đất cách sân bay 2 km phải chịu địa dịch là không xây nhà cao để phục vụ tốt cho hoạt động sân bay, đồng thời chủ sở hữu mảnh đất này được quyền yêu cầu đền bù cho việc mình không được xây nhà quá cao. Nếu sân bay trên là của tư nhân và khi thay đổi chủ sở hữu khác đối với sân bay thì chủ sở hữu mảnh đất vẫn phải chịu địa dịch như thỏa thuận từ trước. Tóm lại, cần nhìn nhận quyền địa dịch theo nghĩa rộng để có thể phù hợp với việc sử dụng, khai thác BĐS trong thời kỳ xã hội phát triển hiện nay.

Thứ tư, quyền địa dịch là bất khả phân, không thể tách rời khỏi BĐS. Quyền địa dịch luôn được gắn liền với một BĐS cụ thể và không thể tách rời khỏi BĐS. Như vậy, nếu BĐS hưởng quyền địa dịch mà bị chia tách thành các phần khác nhau thì chủ sở hữu của mỗi phần BĐS đó đều có những dịch quyền ngang bằng và giống nhau đối với BĐS chịu hưởng quyền. Có thể hiểu là giữa hai BĐS liền kề tồn tại một quyền hưởng dụng thì quyền này sẽ duy trì một cách nguyên vẹn. Khi chủ sở hữu BĐS hưởng quyền chuyển giao BĐS cho người khác thì đồng thời chuyển giao cả quyền hưởng dụng này.

Thứ năm, việc hưởng dụng của chủ sở hữu BĐS hưởng quyền phải được thực hiện một cách thiện chí, hợp lý và đảm bảo không gây ảnh hưởng, thiệt hại lợi ích của chủ sở hữu BĐS chịu quyền. Đây là những tiêu chí quan trọng trong việc thực hiện quyền địa dịch để bảo đảm lợi ích cho cả hai bên gồm bên hưởng quyền và bên chịu quyền. Thiệt hại phát sinh từ hành vi hưởng dụng của chủ sở hữu BĐS hưởng quyền, dù là vô tình hay cố ý, cũng sẽ cấu thành nghĩa vụ bồi thường của chủ BĐS hưởng quyền.

2. Quyền địa dịch trong pháp luật dân sự Việt Nam

Trong pháp luật dân sự Việt Nam, Bộ luật Dân sự năm 1995 đã có ghi nhận về chế định quyền sử dụng hạn chế BĐS liền kề. Bộ luật Dân sự năm 1995 đã không sử dụng khái niệm quyền địa dịch hay dịch quyền. Trong Bộ luật Dân sự năm 1995 chưa có khái niệm cụ thể về quyền địa dịch hay quyền sử dụng hạn chế BĐS liền kề. Khái niệm về quyền sử dụng hạn chế BĐS liền kề chỉ được hiểu thông qua quy định của Điều 278 Bộ luật Dân sự năm 1995 với nội dung cho phép chủ sở hữu nhà, người sử dụng đất được quyền sử dụng BĐS của người khác liền kề với mình để đảm bảo nhu cầu tối thiểu về lối đi, cấp, thoát nước, mắc đường dây tải điện, thông tin liên lạc và các nhu cầu cần thiết khác một cách hợp lý. Việc không nêu cụ thể khái niệm quyền sử dụng hạn chế BĐS liền kề (quyền địa dịch) sẽ không làm rõ được bản chất của quyền địa dịch đó là phiền lụy của một BĐS được hưởng quyền gây ra cho một BĐS liền kề trong trường hợp nhất định nhằm khai thác được tính năng bình thường của BĐS được hưởng quyền.

Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về quyền sử dụng hạn chế BĐS liền kề tại Điều 273. Cũng giống như Bộ luật Dân sự năm 1995, quyền sử dụng hạn chế BĐS liền kề cũng được hiểu thông qua quy định về quyền của chủ sở hữu nhà, người sử dụng đất có quyền sử dụng BĐS liền kề thuộc sở hữu của người khác để bảo đảm nhu cầu sử dụng BĐS của mình. Nhìn chung, quy định về quyền sử dụng hạn chế BĐS liền kề trong Bộ luật Dân sự năm 2005 không có sự thay đổi so với Bộ luật Dân sự năm 1995. Tuy nhiên, đến Bộ luật Dân sự năm 2015 thì đã có những thay đổi cách nhìn về quyền sử dụng hạn chế BĐS liền kề. Lần đầu tiên Bộ luật Dân sự của Việt Nam đưa ra định nghĩa về quyền sử dụng hạn chế BĐS liền kề (tại Điều 245 Bộ luật Dân sự năm 2015). Việc quy định khái niệm về quyền đối với BĐS liền kề đã làm rõ hơn, khẳng định được quyền đối với BĐS liền kề là quyền được thực hiện trên một BĐS nhằm khai thác, phục vụ cho một BĐS khác.

Với quy định trên của Bộ luật Dân sự năm 2015 đã có những thay đổi nhất định trong cách quy định về quyền sử dụng hạn chế BĐS liền kề (quyền địa dịch). Cách hiểu về “BĐS liền kề” trước đây được hiểu là các BĐS nằm cạnh sát nhau. Cách hiểu “BĐS liền kề” trong Bộ luật Dân sự năm 2015 được hiểu theo nghĩa rộng, tức là BĐS liền kề là các BĐS có cùng ranh giới, do vậy, một BĐS liền kề với BĐS này có thể liền kề với BĐS khác, sự liền kề có tính liên tục giữa các BĐS[4]. Tên gọi của quyền cũng đã có sự thay đổi từ “quyền sử dụng hạn chế BĐS liền kề” sang tên “quyền đối với BĐS liền kề”. Với tên như trên, có thể hiểu quyền của chủ thể đối với BĐS của người khác mang nghĩa rộng hơn, không chỉ bó buộc ở việc sử dụng BĐS. Nội dung quyền đối với BĐS liền kề được hiểu với các nội dung như sau: (i) Quyền đối với BĐS liền kề là xử sự pháp luật cho phép chủ thể thực hiện trên một BĐS khác; (ii) Mục đích của việc thực hiện quyền đối với BĐS liền kề để nhằm phục vụ cho việc khai thác BĐS nhất định[5]. Tóm lại, với quy định về quyền đối với BĐS liền kề sẽ tạo ra chuẩn mực pháp lý trong việc xác định quyền đối với BĐS liền kề.

3. Kiến nghị hoàn thiện quy định về quyền địa dịch

Thứ nhất, về sử dụng thuật ngữ: Trong các Bộ dân luật trước đây dưới thời Pháp thuộc, Bộ luật Dân sự của Pháp, Thái Lan, Québec (Canada)… đều sử dụng thuật ngữ “quyền địa dịch”. Bộ luật Dân sự năm 1995 và Bộ luật Dân sự năm 2005 thì sử dụng thuật ngữ “quyền sử dụng hạn chế BĐS liền kề”. Việc sử dụng thuật ngữ này nhằm nhấn mạnh việc chủ BĐS được hưởng quyền có quyền sử dụng BĐS chịu quyền nhưng chỉ được sử dụng dưới góc độ “hạn chế” đối với BĐS chịu quyền. Sự hạn chế ở đây phải được hiểu theo nghĩa là hạn chế quyền đối với BĐS chịu quyền (tức là chủ sở hữu BĐS đó thì có toàn quyền sở hữu đối với BĐS chịu quyền, còn chủ sở hữu BĐS hưởng quyền chỉ có một quyền năng duy nhất là quyền sử dụng, không bao gồm quyền định đoạt, quyền chiếm hữu). Sự hạn chế còn được hiểu là việc sử dụng BĐS chịu quyền chỉ ở mức độ cho phép nào đó mà không phải là sử dụng toàn bộ hay phần lớn BĐS chịu quyền (như cho mở ngõ thì diện tích ngõ đi qua BĐS chịu quyền phải ở mức độ hạn chế nhất). Trong khi đó, Bộ luật Dân sự năm 2015 sử dụng thuật ngữ “quyền đối với BĐS liền kề”. Còn nhiều vấn đề cần luận bàn khi dùng thuật ngữ này để chỉ nội hàm của quyền địa dịch. Theo cách hiểu thông thường, “quyền đối với BĐS liền kề” được hiểu với nội hàm rất rộng, có thể là quyền sở hữu đối với BĐS, quyền chiếm hữu BĐS, quyền sử dụng BĐS, quyền định đoạt BĐS, quyền yêu cầu đối với BĐS… Như vậy, thuật ngữ này rất rộng mà để chỉ một phạm vi hẹp của dịch quyền thì không phù hợp. Hơn nữa, thuật ngữ “quyền đối với BĐS” cũng không làm nổi bật rõ ràng phạm vi tác động rất “hạn chế” của chủ sở hữu BĐS hưởng quyền đối với BĐS chịu quyền. Theo quan điểm của tác giả, sử dụng thuật ngữ “quyền địa dịch” mới có thể lột tả toàn bộ nội dung của quyền này: (i) Dùng thuật ngữ “quyền địa dịch” phù hợp với thông lệ chung của pháp luật các nước trên thế giới, vì pháp luật các nước trên thế giới sử dụng thuật ngữ “Praedial servitude” để chỉ quyền này, dịch ra tiếng Việt thì có thể dịch là quyền địa dịch. (ii) Theo quan điểm trước đây, khi nói đến quyền đối với BĐS liền kề tức là đề cập đến vấn đề liên quan đến các “BĐS liền kề nhau” và việc sử dụng hạn chế một BĐS để phục vụ cho lợi ích của BĐS khác, cho nên Bộ luật Dân sự năm 1995, Bộ luật Dân sự năm 2005 mới quy định tên gọi là quyền sử dụng hạn chế BĐS liền kề. Tuy nhiên, nếu quy định như vậy thì quyền sử dụng hạn chế BĐS liền kề sẽ không thể giải quyết được một số trường hợp thực tế xảy ra, ví dụ như không được xây nhà quá cao (trên mảnh đất cách xa sân bay) mà làm ảnh hưởng đến đường bay của máy bay hoặc không được xây nhà quá cao trên mảnh đất A làm mất tầm nhìn của ngôi biệt thự thuộc mảnh đất B, khi mà hai mảnh đất A, B không nằm ngay sát nhau mà có thể bị đan xen bởi các mảnh đất khác. Nếu dùng thuật ngữ “quyền địa dịch” và khái niệm “liền kề” được hiểu theo nghĩa rộng, tức là, mọi mảnh đất đều có ranh giới và kế tiếp liền kề nhau thì sẽ giải quyết được đầy đủ hơn những trường hợp xác định quyền địa dịch trong thực tế. Bởi nội hàm quyền địa dịch được hiểu theo nghĩa rộng là việc khai thác sử dụng BĐS này để làm lợi hơn cho BĐS khác. Do vậy, trong ví dụ trên vẫn có thể áp dụng quyền địa dịch để giải quyết mối quan hệ giữa hai BĐS này. Tức là, theo thỏa thuận về quyền địa dịch mà ở đó nhà trên mảnh đất A không được xây cao để nhằm làm cho ngôi biệt thự trên mảnh đất B có tầm nhìn đẹp. Chủ sở hữu mảnh đất B có quyền địa dịch đối với mảnh đất A. Nếu chủ sở hữu B chuyển nhượng nhà, biệt thự cho chủ sở hữu C thì C vẫn được quyền khai thác đối với tài sản của A giống như chủ sở hữu B. Ba là, khi nói đến quyền địa dịch thì giữa hai BĐS liền kề sẽ phát sinh “dịch lụy”, mà “dịch lụy” được hiểu là những “phiền lụy” mà BĐS này (BĐS hưởng quyền) gây ra cho BĐS khác (BĐS chịu quyền) để đảm bảo cho việc khai thác, sử dụng BĐS đó. Từ đó, cũng cho chúng ta thấy được cả mối quan hệ giữa hai BĐS liền kề nhau, thấy được mối quan hệ giữa hai chủ sở hữu BĐS liền kề với nhau, đồng thời thấy được cả mối quan hệ giữa chủ sở hữu của BĐS hưởng quyền đối với BĐS chịu quyền. Ngoài ra, sử dụng thuật ngữ “quyền địa dịch” còn là một cách chỉ rõ quyền này là một vật quyền. Với những lý do trên, cần thiết phải đưa thuật ngữ “quyền địa dịch” để thay thế cho thuật ngữ “quyền đối với BĐS liền kề” trong Bộ luật Dân sự năm 2015.

Thứ hai, về nguyên tắc xác định BĐS chịu địa dịch: Bộ luật Dân sự năm 2015 không quy định về nguyên tắc xác định BĐS nào là BĐS chịu địa dịch sẽ dễ dẫn đến phát sinh tranh chấp trong thực tiễn thực thi. Ví dụ, mảnh đất A bị vây bọc bởi rất nhiều mảnh đất khác thì sẽ xác định mảnh đất nào là mảnh đất được dùng để mở lối đi cho mảnh đất A? Vậy, cần thiết phải bổ sung nguyên tắc xác định BĐS chịu địa dịch để thuận tiện cho việc thực thi quyền địa dịch đồng thời bảo đảm quyền của chủ sở hữu BĐS được hưởng quyền. Tránh trường hợp chủ sở hữu BĐS muốn thực hiện quyền địa dịch nhưng không xác định được BĐS chịu quyền, dẫn đến không thể thực hiện được quyền địa dịch. Nguyên tắc chung cần đặt ra, dịch lụy từ chủ sở hữu BĐS chịu quyền gây ra cho các BĐS liền kề là ít nhất, việc thực hiện quyền địa dịch phải thuận tiện nhất, có tính đến yếu tố thực tế trong từng trường hợp nhất định.

Thứ ba, về phạm vi quyền địa dịch: Pháp luật cần bổ sung phạm vi quyền địa dịch được giới hạn bởi nhu cầu tối thiểu để khai thác BĐS hay là nhu cầu thực tế khai thác BĐS? Bộ luật Dân sự năm 2015 không có quy định về phạm vi quyền địa dịch. Điều này có thể được lý giải bởi pháp luật có quy định căn cứ xác lập quyền địa dịch có thể theo thỏa thuận, dẫn đến việc quy định phạm vi quyền địa dịch theo nhu cầu tối thiểu hay nhu cầu thực tế là không cần thiết. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, việc gây ra phiền lụy đối với BĐS chịu quyền thì sự phiền lụy đó phải là ít nhất, tức là đảm bảo cho nhu cầu tối thiểu của việc khai thác sử dụng BĐS hưởng quyền. Trong nhiều trường hợp nếu chỉ đảm bảo nhu cầu tối thiểu thì có thể làm giảm giá trị khai thác của BĐS hưởng quyền nên vẫn phải tôn trọng việc thỏa thuận của các bên về việc đảm bảo khai thác BĐS. Do vậy, để hài hòa lợi ích các bên, Bộ luật Dân sự cần bổ sung quy định phạm vi quyền địa dịch được xác định thông qua thỏa thuận, nếu các bên không thỏa thuận được thì phạm vi của quyền địa dịch là bảo đảm nhu cầu tối thiểu của BĐS hưởng quyền.

Thứ tư, về mức đền bù cho chủ thể chịu quyền: Bộ luật Dân sự cũng không có quy định cụ thể về mức đền bù cho chủ thể chịu quyền. Về nguyên tắc, khi xác định mức đền bù cần phải căn cứ vào thỏa thuận giữa hai bên chủ thể hưởng quyền và chịu quyền. Đây là căn cứ cơ bản và đầu tiên để xác định mức đền bù. Nếu không thỏa thuận được thì cần phải đưa ra căn cứ để xác định mức đền bù. (i) Giá trị đền bù phải nhỏ hơn giá trị thực tế mà BĐS chịu quyền thiệt hại. Ví dụ: BĐS chịu quyền phải mở lối đi thì giá trị đền bù cho lối đi đó phải nhỏ hơn giá trị thực tế của diện tích đất dành để mở lối đi đó. Bởi lẽ, nếu như giá trị đền bù cho việc mở lối đi mà lớn hơn hoặc bằng với giá trị của thiệt hại (để đất mở lối đi) gây ra cho BĐS chịu quyền thì tính chất “phiền lụy” trong quyền địa dịch không còn, dẫn đến không còn tồn tại quan hệ địa dịch mà quan hệ giữa hai chủ sở hữu BĐS trở thành quan hệ mua bán. (ii) Việc tính giá trị thực tế thiệt hại của BĐS chịu quyền cần phải tính theo mức giá do Nhà nước xác định hay theo mức giá thực tế của thị trường BĐS, vì nhiều trường hợp hai mức giá này chênh lệch nhau rất lớn. Cần bổ sung quy định pháp luật hoặc văn bản pháp luật hướng dẫn cụ thể việc xác định mức giá trong việc đền bù trong việc tính giá trị thiệt hại gây ra cho BĐS chịu quyền. (iii) Giá trị đền bù bằng bao nhiêu phần giá trị thiệt hại thực tế gây ra cho BĐS chịu quyền. Điều này cần được quy định bổ sung vào Bộ luật Dân sự hoặc có văn bản hướng dẫn cụ thể để các bên tránh được những tranh chấp với nhau. Tuy nhiên, một khuyến nghị là mức đền bù phải dựa trên thỏa thuận của các bên là căn bản, nếu không thỏa thuận được thì mới tuân theo tiêu chí xác định mức đền bù. Đồng thời, pháp luật cần bổ sung thêm tiêu chí xác định mức đền bù vào những quy định chung về quyền địa dịch trong trường hợp thực hiện quyền này.

Thứ năm, về đăng ký quyền địa dịch: Việc đăng ký quyền địa dịch cần phải được quy định một cách cụ thể trong văn bản pháp luật. Việc đăng ký cần phải tuân theo một trình tự, thủ tục nhất định. Có thể thể hiện quyền địa dịch trong giấy chứng nhận quyền sở hữu quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà để giảm bớt các giấy tờ thủ tục khác. Phải thực hiện công bố, công khai, tạo điều kiện dễ dàng cho người dân tiếp cận thông tin về quyền địa dịch (ví dụ như tạo cơ sở dữ liệu về BĐS cho phép người dân truy cập được). Việc công khai quyền địa dịch rất quan trọng vì nó góp phần làm giảm bớt các tranh chấp dân sự giống như nhiều trường hợp mua BĐS nhưng lại không có ngõ đi hoặc phải tranh chấp liên quan đến lối đi.

Thứ sáu, về bổ sung các loại địa dịch: Cần phải bổ sung các loại địa dịch như địa dịch ánh sáng, địa dịch về khoảng không, địa dịch thẳng đứng. Trong trường hợp nhất định, chủ sở hữu BĐS có thể yêu cầu chủ sở hữu BĐS khác tạo điều kiện để có thể lấy ánh sáng, để có khoảng không nhằm sử dụng tốt hơn BĐS của mình. Nếu pháp luật không có quy định về các loại địa dịch này thì chủ sở hữu BĐS hưởng quyền không có quyền yêu cầu về địa dịch làm hạn chế quyền của chủ sở hữu này. Địa dịch thẳng đứng cũng cần quan tâm bổ sung vào quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền của các chủ sở hữu BĐS, để có quy định điều chỉnh phù hợp trong những trường hợp tranh chấp xảy ra, đặc biệt trong bối cảnh ngày nay việc sinh sống, sử dụng căn hộ trong chung cư ngày càng phổ biến hơn.

ThS. Lê Đăng Khoa

Đại học Kiểm sát Hà Nội

Tài liệu tham khảo:

[1]. ThS. Phạm Công Lạc, Địa dịch theo pháp luật một số nước, Tạp chí Luật học, số 4/2001, tr. 66.

[2]. TS. Phạm Công Lạc, Quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề, Nxb. Tư Pháp, Hà Nội (2006), tr. 86.

[3]. R.D. Melville, A manual of the principles of Roman Law relating to persons, property, and obligations with a historical introduction for the use of students, W. Green & Son Limited Law Publishers, Edinburgh, 1915, page 257.

[4]. TS. Nguyễn Minh Tuấn, Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Tư pháp (2015), tr. 360.

[5]. TS. Nguyễn Minh Tuấn, Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Tư pháp (2015), tr. 361.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.

Theo dõi chúng tôi trên: