Thứ ba 14/07/2026 23:49
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định pháp luật về xác định việc chưa có điều kiện thi hành án

Tóm tắt: Xác định việc chưa có điều kiện thi hành án là một nội dung quan trọng trong quá trình thi hành án. Việc này có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Tuy nhiên, các quy định pháp luật về vấn đề này vẫn còn nhiều bất cập cần tiếp tục được hoàn thiện.

Tóm tắt: Xác định việc chưa có điều kiện thi hành án là một nội dung quan trọng trong quá trình thi hành án. Việc này có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Tuy nhiên, các quy định pháp luật về vấn đề này vẫn còn nhiều bất cập cần tiếp tục được hoàn thiện.

Abstract: The classification of the absence of judgment execution is an important content in the process of judgment execution. This has a direct impact on the legal rights and interests of the litigants. However, the legal regulations on this issue still have many shortcomings that need to be further improved.

Theo khoản 6 Điều 3 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật Thi hành án dân sự) thì có điều kiện thi hành án (THA) là trường hợp người phải THA có tài sản, thu nhập để thi hành nghĩa vụ về tài sản; tự mình hoặc thông qua người khác thực hiện nghĩa vụ THA. Theo đó có thể hiểu, việc người phải THA chưa có điều kiện THA là trường hợp người phải THA không có tài sản, thu nhập để thi hành nghĩa vụ về tài sản; không thể tự mình hoặc thông qua người khác thực hiện nghĩa vụ THA. Vấn đề về xác định việc chưa có điều kiện THA được quy định tại Điều 44a Luật Thi hành án dân sự và được hướng dẫn cụ thể tại Điều 9, Điều 11 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự (Nghị định số 62/2015/NĐ-CP).

1. Căn cứ xác định việc chưa có điều kiện thi hành án

Căn cứ kết quả xác minh điều kiện THA, thủ trưởng cơ quan THA dân sự ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành khi thuộc một trong các trường hợp sau:

Thứ nhất, người phải THA không có thu nhập hoặc có thu nhập chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải THA, người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng và không có tài sản để THA hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản chỉ đủ để thanh toán chi phí cưỡng chế THA hoặc tài sản theo quy định của pháp luật không được kê biên, xử lý để THA[1]

Theo quy định tại Điều 78 Luật Thi hành án dân sự thì thu nhập của người phải THA bao gồm tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động, thu nhập hợp pháp khác. Người phải THA không có thu nhập là người không có một trong các loại thu nhập trên. Trong trường hợp người phải THA có thu nhập chỉ đảm bảo cuộc sống tối thiểu của người phải THA và người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng, khoản 2 Điều 22 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định, việc xác định mức sinh hoạt tối thiểu của người phải THA và người mà người đó có nghĩa vụ cấp dưỡng, nuôi dưỡng được căn cứ vào chuẩn hộ nghèo của từng địa phương nơi người đó cư trú, nếu địa phương chưa có quy định thì theo chuẩn hộ nghèo do Thủ tướng Chính phủ ban hành theo từng giai đoạn cụ thể.

Đối với trường hợp người phải THA không có tài sản hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản chỉ đủ để thanh toán chi phí cưỡng chế THA, nếu giá trị tài sản bằng hoặc thấp hơn chi phí cưỡng chế thì có căn cứ để xác định việc chưa có điều kiện THA. Trường hợp người phải THA có tài sản nhưng tài sản theo quy định của pháp luật không được kê biên, xử lý để THA, đây là trường hợp người phải THA có tài sản nhưng tài sản thuộc diện không được kê biên theo quy định tại Điều 87 Luật Thi hành án dân sự hoặc người phải THA có tài sản nhưng tài sản này đã được cầm cố, thế chấp hợp pháp trước khi có bản án, quyết định mà giá trị tài sản đó nhỏ hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế THA (Điều 90 Luật Thi hành án dân sự)[2].

Thứ hai, người phải THA phải thi hành nghĩa vụ về trả vật đặc định nhưng vật phải trả không còn hoặc hư hỏng đến mức không thể sử dụng được; phải trả giấy tờ nhưng giấy tờ không thể thu hồi và cũng không thể cấp lại được mà đương sự không có thỏa thuận khác[3]

Theo khoản 2 Điều 113 Bộ luật Dân sự năm 2015, vật đặc định là vật phân biệt được với các vật khác bằng những đặc điểm riêng về ký hiệu, hình dáng, màu sắc, chất liệu, đặc tính, vị trí. Khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật đặc định thì phải giao đúng vật đó. Đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 44a Luật Thi hành án dân sự, đối tượng THA là “trả vật đặc định nhưng vật phải trả không còn hoặc hư hỏng đến mức không sử dụng được; phải trả giấy tờ nhưng giấy tờ không thể thu hồi và cũng không thể cấp lại được”. Có thể thấy, đối tượng THA ở đây đã không còn, người được THA có thể sẽ không bao giờ được thi hành đối với các khoản này, do đó, nếu xếp các việc THA loại này vào diện chưa có điều kiện THA thì chưa hoàn toàn phù hợp. Mặt khác, cơ quan THA vẫn phải mang việc THA tồn đọng từ năm này qua năm khác (vì việc chưa có điều kiện tiếp tục được chuyển kỳ sau). Đa số quan điểm đề xuất quy định bỏ trường hợp chưa có điều kiện thi hành khi vật đặc định không còn[4]. Do đó, cần nghiên cứu và có hướng xử lý dứt điểm đối với các trường hợp này.

Thứ ba, chưa xác định được địa chỉ, nơi cư trú của người phải THA, người chưa thành niên được giao cho người khác nuôi dưỡng[5]

Có thể thấy, cùng một căn cứ “chưa xác định được địa chỉ của người phải THA”, nhưng điểm c khoản 1 Điều 44a Luật Thi hành án dân sự quy định việc ra quyết định chưa có điều kiện THA, còn điểm b khoản 1 Điều 48 Luật Thi hành án dân sự quy định việc ra quyết định hoãn THA. Chỉ với một căn cứ pháp lý nhưng lại áp dụng cho 02 thủ tục THA là chưa hợp lý. Hoãn THA và chưa có điều kiện THA là 02 phạm trù pháp lý khác nhau và có hệ quả pháp lý khác nhau. Trong một số trường hợp như hoãn theo yêu cầu của đương sự, hoãn theo yêu cầu của người có thẩm quyền kháng nghị thì thời hạn hoãn THA được xác định rõ ràng…; còn đối với căn cứ “chưa xác định được địa chỉ, nơi cư trú của người phải THA” thì rất khó để ấn định thời gian hoãn. Do đó, nếu cơ quan THA dân sự áp dụng căn cứ này để ra quyết định hoãn THA là chưa phù hợp[6] và dẫn đến nhiều bất cập trong việc áp dụng vào thực tiễn.

Khoản 3 Điều 9 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định, trường hợp chưa xác định được địa chỉ và tài sản của người phải THA hoặc chưa xác định được địa chỉ của người phải THA mà theo bản án, quyết định họ phải tự mình thực hiện nghĩa vụ thì thủ trưởng cơ quan THA dân sự ra quyết định về việc chưa có điều kiện THA. Quyết định về việc chưa có điều kiện THA phải ghi rõ việc THA bị hoãn theo điểm b khoản 1 Điều 48 Luật Thi hành án dân sự. Quy định này nhằm khắc phục một phần bất cập đã nêu, tạo sự thống nhất trong quá trình thực hiện, tuy nhiên, giữa việc ra quyết định hoãn THA và ra quyết định chưa có điều kiện thi hành theo quy định trên với cùng một lý do chưa xác định được địa chỉ, nơi cư trú của người phải THA, thực sự vẫn là chưa rõ ràng[7].

2. Một số bất cập và giải pháp hoàn thiện pháp luật

Thứ nhất, về tiêu chí xác định việc chưa có điều kiện THA

Cần mở rộng hơn về tiêu chí xác định việc chưa có điều kiện THA vì trong thực tế, có rất nhiều trường hợp khác ngoài các trường hợp được quy định tại Điều 44a Luật Thi hành án dân sự mà cơ quan THA dân sự không thể xử lý tài sản nhưng cũng không thể phân loại án sang dạng án chưa có điều kiện thi hành.

Thực tế có các trường hợp như: Người phải THA có tài sản là nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất nhưng đất mà người đó đang sử dụng không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cũng không thuộc diện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật; có nhà xây trên thửa đất lấn chiếm, đất hành lang giao thông, hành lang sông hoặc hành lang bảo vệ công trình thủy; người phải THA có nhà ở nhưng nhà ở đó nằm trên đất của người khác và người có quyền sử dụng đất không đồng ý kê biên, xử lý quyền sử dụng đất đó để THA trong khi không thể tách rời nhà và đất... Theo quy định tại Điều 44a Luật Thi hành án dân sự thì các căn cứ để ra quyết định chưa có điều kiện THA không bao gồm những trường hợp mặc dù người phải THA có điều kiện thi hành (có tài sản) nhưng lại bế tắc trong việc xử lý tài sản. Do đó, những trường hợp trên đã trở thành vướng mắc nhiều năm qua trong THA dân sự.

Bên cạnh đó, theo Điều 44a Luật Thi hành án dân sự, thủ trưởng cơ quan THA dân sự ra quyết định về việc chưa có điều kiện THA trong trường hợp người phải THA không có thu nhập hoặc có thu nhập chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải THA, người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng và không có tài sản để THA hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản chỉ đủ để thanh toán chi phí cưỡng chế THA hoặc tài sản theo quy định của pháp luật không được kê biên, xử lý để THA. Tuy nhiên, có rất nhiều trường hợp qua xác minh cho thấy tài sản của người phải THA rất lớn, gấp nhiều lần so với nghĩa vụ của họ (ví dụ như có tài sản là đất, nhà trong khi khoản phải THA chỉ là 5.000.000 - 10.000.000 đồng). Đối với trường hợp này, việc kê biên xử lý tài sản là không thuyết phục, trong khi đó, nếu xếp vào diện chưa có điều THA thì không đúng mà nếu xếp vào diện có điều kiện thi hành thì cũng khó xử lý. Vì vậy, có một số quan điểm đề xuất việc nghiên cứu bổ sung trường hợp chưa có điều kiện THA là tài sản lớn gấp nhiều lần (mấy lần?) đối với nghĩa vụ, vật không thể tách rời có giá trị chênh lệch quá lớn so với nghĩa vụ THA[8].

Thứ hai, về việc xác minh định kỳ đối với việc chưa có điều kiện THA

Theo khoản 5 Điều 9 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP, cơ quan THA dân sự chuyển sang sổ theo dõi riêng đối với việc chưa có điều kiện THA trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ khi có đủ các điều kiện sau: (i) Đã hết thời hạn 02 năm, kể từ ngày ra quyết định về việc chưa có điều kiện THA đối với trường hợp người đang chấp hành hình phạt tù mà thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại từ 02 năm trở lên hoặc không xác định được địa chỉ, nơi cư trú mới của người phải THA hoặc đã hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày ra quyết định về việc chưa có điều kiện THA; (ii) Đã xác minh ít nhất hai lần theo quy định tại khoản 2 Điều 44 Luật Thi hành án dân sự; (iii) Không có thông tin mới về điều kiện THA của người phải THA.

Khoản 2 Điều 44 Luật Thi hành án dân sự quy định: “Trường hợp người phải THA chưa có điều kiện THA thì ít nhất 06 tháng một lần, chấp hành viên phải xác minh điều kiện THA; trường hợp người phải THA chưa có điều kiện THA là người đang chấp hành hình phạt tù mà thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại từ 02 năm trở lên hoặc không xác định được địa chỉ, nơi cư trú mới của người phải THA thì thời hạn xác minh ít nhất 01 năm một lần. Sau hai lần xác minh mà người phải THA vẫn chưa có điều kiện THA thì cơ quan THA dân sự phải thông báo bằng văn bản cho người được THA về kết quả xác minh. Việc xác minh lại được tiến hành khi có thông tin mới về điều kiện THA của người phải THA”. Tuy nhiên, để xác định thời hạn tiến hành xác minh tiếp trong thực tế cũng gặp nhiều khó khăn do thời gian bắt đầu chấp hành hình phạt tù thực tế của phạm nhân không thể hiện trong bản án mà được xác định theo quyết định THA phạt tù của cơ quan THA hình sự, nhiều trường hợp, cơ quan THA dân sự không xác định được chính xác thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại của đương sự là bao lâu để tiến hành xác minh định kỳ theo quy định.

Thứ ba, về đăng tải thông tin về việc chưa có điều kiện THA

Vấn đề đăng tải thông tin về việc chưa có điều kiện THA được quy định chi tiết tại Điều 11 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định về việc chưa có điều kiện THA, cơ quan THA dân sự đăng tải thông tin về tên, địa chỉ, nghĩa vụ phải THA của người phải THA trên Trang thông tin điện tử của Cục THA dân sự và tích hợp trên Cổng thông tin điện tử của Tổng cục THA dân sự thuộc Bộ Tư pháp; gửi quyết định về việc chưa có điều kiện THA cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xác minh để niêm yết công khai. Thời gian niêm yết công khai quyết định về việc chưa có điều kiện THA là 03 tháng, kể từ ngày niêm yết.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 44a Luật Thi hành án dân sự và khoản 1 Điều 11 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP, quyết định về việc chưa có điều kiện THA sẽ do Ủy ban nhân dân cấp xã niêm yết. Tuy nhiên, Luật chưa quy định Ủy ban nhân dân cấp xã sau khi niêm yết phải lập biên bản và gửi biên bản cho cơ quan THA dân sự. Do đó, hồ sơ THA chưa có thủ tục thể hiện đã niêm yết quyết định về việc chưa có điều kiện THA, gây khó khăn cho việc xác định thời gian niêm yết công khai đối với việc chưa có điều kiện THA. Mặt khác, khoản 3 Điều 35 Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015 quy định nhiệm vụ của Ủy ban nhân dân xã là “thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp, ủy quyền cho Ủy ban nhân dân xã”. Do đó việc quy định giao quyết định chưa có điều kiện cho Ủy ban nhân dân xã niêm yết cũng đang gặp phải những quan điểm khác nhau, có quan điểm cho rằng, Ủy ban nhân dân xã chỉ có trách nhiệm phối hợp với cơ quan THA dân sự do đó đây không phải là công việc mà Ủy ban nhân dân xã phải thực hiện. Do đó cần quy định rõ hơn về nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân xã đối với các công tác tư pháp nói chung và công tác THA dân sự nói riêng để nâng cao hơn chất lượng công tác phối hợp với địa phương khi giải quyết việc THA.

Thứ tư, cần có phương án xử lý đối với những vụ việc chưa có điều kiện thi hành đã kéo dài nhưng không thể xét miễn, giảm

Thực tế việc thực hiện xác minh điều kiện THA đối với một số việc chưa có điều kiện thi hành của cơ quan THA dân sự cho thấy, có một số trường hợp chưa có điều kiện THA đã 10 năm. Tuy nhiên, thực tế xác minh tại địa phương thì phát hiện đối tượng đã không có mặt tại địa phương từ lâu, hiện không rõ địa chỉ cư trú (thường gặp ở đối tượng nghiện ma túy, đã hết thời hạn chấp hành án về địa phương nhưng không có nơi cư trú rõ ràng). Cơ quan THA dân sự vẫn phải duy trì trong sổ theo dõi qua nhiều năm mà không có căn cứ để xử lý vì không đủ điều kiện để xét miễn, giảm THA theo quy định tại Điều 61 Luật THA dân sự.

Trường hợp khác là khi người phải THA có tài sản là nhà, đất, nhưng nghĩa vụ phải THA lại quá nhỏ, cơ quan THA dân sự không thể tiến hành kê biên xử lý tài sản; hoặc cá biệt có trường hợp đã kê biên xử lý tài sản nhưng bán đấu giá, hạ giá nhiều lần nhưng vẫn không bán được tài sản (do giá trị tài sản đã giảm thấp hơn chi phí cưỡng chế, cơ quan THA dân sự đã giao lại cho người phải THA theo khoản 3 Điều 104 Luật Thi hành án dân sự). Mặc dù đã hết thời hạn 10 năm, nhưng vẫn không thể thực hiện được việc xét miễn, giảm nghĩa vụ THA do các trường hợp trên vẫn thuộc diện “có tài sản” nên không thể phân loại chưa có điều kiện THA theo Điều 44a Luật Thi hành án dân sự. Do đó, cần bổ sung quy định về việc phân loại chưa có điều kiện THA đối với những trường hợp có tài sản nhưng tài sản có giá trị quá lớn, không thể xử lý được hoặc đã xử lý tài sản nhưng không hiệu quả.

Công tác phân loại việc THA theo tiêu chí có điều kiện THA và chưa có điều kiện THA có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với công tác THA dân sự, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của các đương sự cũng như các chỉ tiêu THA. Do đó, đây là một vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện trong thời gian tới.

Hoàng Thị Thanh Hoa

Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên, TP. Hà Nội



[1] Điểm a khoản 1 Điều 44a Luật Thi hành án dân sự.

[2] ThS. Hoàng Thị Thanh Hoa & ThS. Nguyễn Văn Nghĩa, Cẩm nang Thi hành án dân sự, Nxb. Tư pháp, 2018, tr. 166.

[3] Điểm b khoản 1 Điều 44a Luật Thi hành án dân sự.

[4] Hoàng Thu Trang, Hoàn thiện quy định pháp luật về xác minh điều kiện thi hành án dân sự; http://thi hành án dân sự.moj.gov.vn/nghean/noidung/tintuc/lists/nghiencuutraodoi/view_detail.aspx?itemid=13; ngày đăng: 21/3/2016; ngày truy cập: 01/11/2018.

[5] Điểm c khoản 1 Điều 44a Luật Thi hành án dân sự.

[6] Mai Thị Thùy Dung, Trao đổi một số điểm về quy định xác định chưa có điều kiện thi hành án; http://ctpn.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi-kinh-nghiem.aspx?ItemID=40, ngày truy cập: 03/8/2018

[7] Mai Thị Thùy Dung, tlđd.

[8] Hoàng Thu Trang, tlđd.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.

Theo dõi chúng tôi trên: