Thứ hai 27/07/2026 19:09
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định về địa vị pháp lý của người tham gia tố tụng hình sự trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Tóm tắt: Bài viết bàn về các quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2021 về địa vị pháp lý của người tham gia tố tụng và đề xuất hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.

Tóm tắt: Bài viết bàn về các quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2021 về địa vị pháp lý của người tham gia tố tụng và đề xuất hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.

Abstract: The article discusses the provisions of the 2015 Criminal Procedure Code amended and supplemented in 2021 on the legal status of procedure participants and proposes to improve the law on this issue.

Có thể nói, hoạt động tố tụng hình sự có tác động mạnh mẽ và trực tiếp tới quyền và lợi ích của những người tham gia tố tụng. Việc bảo vệ quyền con người của họ trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự là yêu cầu bắt buộc. Để làm được điều này, trước hết, các quy định về quyền và nghĩa vụ pháp lý của họ phải cụ thể, rõ ràng, đầy đủ và hợp lý. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021 (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) đã có nhiều thay đổi về chế định này như bổ sung thêm một số chủ thể mới, quyền và nghĩa vụ của một số chủ thể cũng có nhiều cập nhật và thực tiễn áp dụng đã chứng minh những thay đổi này về cơ bản là phù hợp. Tuy nhiên, qua nghiên cứu một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cho thấy, còn không ít vấn đề lý luận cần được tiếp tục nghiên cứu thêm để hoàn thiện với mục đích bảo vệ tốt hơn nữa quyền con người của những người tham gia tố tụng và bảo đảm nguyên tắc pháp chế trong tố tụng hình sự.

1. Một số vướng mắc, bất cập liên quan đến địa vị pháp lý của người tham gia tố tụng hình sự trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

1.1. Quy định về địa vị pháp lý của bị hại

Trong phạm vi bài viết, tác giả chỉ đề cập đến địa vị pháp lý của bị hại là cá nhân. Các quy định tại Chương XXVIII Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được đánh giá là sự thay đổi lớn so với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, đặc biệt là những quy định đối với người bị hại và người làm chứng dưới 18 tuổi. Địa vị pháp lý của những người này được quy định rõ ràng, cụ thể hơn và quyền con người của họ được bảo vệ tốt hơn. Một trong những quy định để bảo vệ quyền con người của người bị buộc tội, bị hại, đương sự được thể hiện trong nguyên tắc “bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự” (Điều 16 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015). Nguyên tắc này thể hiện xuyên suốt trong quá trình giải quyết vụ án nhưng chủ yếu là áp dụng đối với người bị buộc tội vì theo quy định tại Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, chỉ người bị buộc tội mới được áp dụng chế định “chỉ định người bào chữa” mà không áp dụng “chỉ định bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp” của bị hại. Điều này càng thể hiện rõ nét hơn khi đặt trong mối tương quan với địa vị pháp lý của người bị buộc tội dưới 18 tuổi và người bị hại dưới 18 tuổi. Cụ thể:

Thứ nhất, với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi, để bảo đảm quyền con người của đối tượng này, khoản 3 Điều 422 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Trường hợp người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi không có người bào chữa hoặc người đại diện của họ không lựa chọn người bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải chỉ định người bào chữa theo quy định tại Điều 76 của Bộ luật này”. Điều này là phù hợp và góp phần bảo đảm quyền của người bị buộc tội nói chung và người bị buộc tội dưới 18 tuổi, chưa đủ trưởng thành về thể chất và nhận thức nói riêng.

Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không có quy định tương tự áp dụng cho người bị hại dưới 18 tuổi. Người bị hại là người bị thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, đó có thể là tổn thất về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm. Những mất mát do hành vi phạm tội gây ra thêm một lần nữa bị khoét sâu hơn khi họ và người đại diện hợp pháp của họ “đơn thương độc mã” đối diện với người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bị buộc tội và đội ngũ người bào chữa trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự. Trường hợp người đại diện hợp pháp của họ không đủ hiểu biết, đặc biệt là thiếu hiểu biết pháp luật thì khi tham gia vào quá trình tố tụng, họ không thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại dưới 18 tuổi một cách tốt nhất.

Thứ hai, khoản 3 Điều 423 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Phiên tòa xét xử bị cáo là người dưới 18 tuổi phải có mặt người đại diện của bị cáo, đại diện của nhà trường, tổ chức nơi bị cáo học tập, sinh hoạt…”. Quy định này một lần nữa cho thấy chính sách của Nhà nước ta trong việc bảo vệ quyền con người của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi, phù hợp với luật pháp quốc tế và Hiến pháp năm 2013… Vấn đề đặt ra ở đây là, tại sao lại chỉ quy định như vậy đối với người bị buộc tội mà không quy định đối với người bị hại dưới 18 tuổi? Có ý kiến cho rằng, theo Điều 420 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì người đại diện của người dưới 18 tuổi có quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng theo quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án. Điều này có nghĩa là, pháp luật đã có quy định về sự tham gia của người đại diện hợp pháp của người dưới 18 tuổi trong phiên tòa, tuy nhiên, quy định này cũng có thể được hiểu là, họ sẽ tham gia khi cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định nhưng không rõ các cơ quan này có nghĩa vụ bắt buộc phải ra quyết định để bảo đảm sự có mặt của người đại diện hợp pháp của người bị hại dưới 18 tuổi hay không? Hơn nữa, khoản 2 Điều 420 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định người đại diện hợp pháp của người bị hại dưới 18 tuổi “được tham gia…”, nghĩa là đây là một quyền và họ có thể không cần có mặt; nếu họ không có mặt thì quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại dưới 18 tuổi trong trường hợp này có được bảo đảm đầy đủ và khách quan hay không? Quy định này cũng chỉ được đặt ra trong giai đoạn điều tra, không đề cập đến giai đoạn quan trọng nhất trong quá trình giải quyết vụ án hình sự là xét xử. Vì vậy, theo tác giả, nếu chỉ bảo đảm sự có mặt của người đại diện của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi là chưa đầy đủ vì sẽ gây thiệt thòi cho người bị hại là người dưới 18 tuổi nếu pháp luật không bảo đảm sự có mặt bắt buộc của họ trong phiên tòa.

1.2. Quy định về một số người tham gia tố tụng không có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng

1.2.1. Sự có mặt của người chứng kiến

Theo quy định tại khoản 1 và điểm a khoản 4 Điều 67 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, có thể hiểu, việc có mặt của người chứng kiến là bắt buộc theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và trở thành nghĩa vụ pháp lý của họ. Tuy nhiên, trong thực tiễn, người chứng kiến không thực hiện theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền thì sẽ xử lý như thế nào? Nếu là người làm chứng, khi họ cố ý vắng mặt không có lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án thì có thể bị dẫn giải (điểm a khoản 4 Điều 66 và điểm a khoản 2 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015). Nếu người chứng kiến không có mặt theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nào thì sẽ giải quyết như thế nào? Có tiến hành dẫn giải họ hay buộc họ phải chịu trách nhiệm pháp lý nào đó không? Nếu không có các quy định về việc cưỡng chế đối trong trường hợp này thì quy định có mặt theo yêu cầu của cơ quan chức năng đối với người chứng kiến có khả thi không? Đây là một vấn đề cần được quy định cụ thể trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nhằm bảo đảm hành lang pháp lý đầy đủ để áp dụng khi xảy ra những tình huống thực tiễn tương tự.

1.2.2. Sự có mặt của người phiên dịch, dịch thuật

Các quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về người phiên dịch, dịch thuật cơ bản đáp ứng được yêu cầu, khắc phục được một số vướng mắc trong thực tiễn giải quyết vụ án hình sự. Các quyền và nghĩa vụ của nhóm người này được quy định khá chi tiết và cụ thể. Trong số các nghĩa vụ của người phiên dịch, người dịch thuật, theo điểm a khoản 3 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì họ phải “có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng”. Điều này có nghĩa, sự có mặt của họ trong các giai đoạn tố tụng hình sự là nghĩa vụ bắt buộc. Tuy nhiên, vì họ chỉ là người hỗ trợ cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án nên có thể vì nhiều lý do khác nhau, họ có thể không muốn thực hiện yêu cầu này từ cơ quan chức năng. Đối với phần lớn người tham gia tố tụng, pháp luật hiện hành đều có quy định về biện pháp cưỡng chế khi họ không thực hiện yêu cầu này mà không vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan. Hoặc, một số tư cách tố tụng mặc dù pháp luật không quy định rõ về trường hợp họ không có mặt theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền tố tụng mà không có lý do chính đáng nhưng vì họ là người có quyền hoặc lợi ích liên quan trực tiếp đến vụ án nên ít nhất, nếu họ không tham gia thì có thể quyền lợi của họ bị ảnh hưởng. Trong khi đó, người phiên dịch, dịch thuật không thuộc nhóm người có quyền và lợi ích liên quan tới vụ án thì việc từ chối yêu cầu tham gia vụ án trong thực tế sẽ có thể sẽ xảy ra và điều này sẽ gây ra những khó khăn nhất định cho quá trình giải quyết vụ án, đặc biệt là những vụ án mà người tham gia tố tụng có ngôn ngữ riêng biệt mà số người phiên dịch được lại rất ít. Vì vậy, khi người phiên dịch, người dịch thuật từ chối yêu cầu tham gia tố tụng mà không có lý do chính đáng nào thì có bị cơ quan có thẩm quyền dẫn giải hay thực hiện các biện pháp, chế tài nào hay không? Vấn đề này vẫn đang còn bỏ ngỏ, chưa có cơ sở pháp lý cụ thể để giải quyết.

1.2.3. Sự có mặt của người tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố

Tương tự, theo quy định tại khoản 2 Điều 57 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, người tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố phải có mặt theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền nhưng không nêu rõ nếu việc vắng mặt đó là vì lý do bất khả kháng hoặc vì trở ngại khách quan khác thì có được chấp nhận không? Trong trường hợp họ không có mặt theo yêu cầu thì cơ quan chức năng có thực hiện biện pháp cưỡng chế nào với họ không? Vấn đề này cũng cần phải được quy định cụ thể trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bên cạnh đó, mặc dù người tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố là những người tham gia tố tụng, có quyền và nghĩa vụ được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nhưng họ lại không được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng giải thích về quyền và nghĩa vụ. Đây là một thiếu sót trong quy định về quyền của người tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

1.3. Quy định về địa vị pháp lý của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Khi nghiên cứu quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về địa vị pháp lý của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, tác giả nhận thấy một số vấn đề cần nghiên cứu, trao đổi như sau:

- Tại Điều 63 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về nguyên đơn dân sự, Bộ luật không quy định thời điểm nộp đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại của nguyên đơn dân sự và vấn đề đặt ra là, họ có được quyền rút đơn yêu cầu này hay không?

- Về địa vị pháp lý của bị đơn dân sự, khoản 3 Điều 64 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định, bị đơn có nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là, trong trường hợp bị đơn dân sự không có mặt theo giấy triệu tập mà không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nào thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng sẽ giải quyết như thế nào? Có thực hiện việc dẫn giải đối với bị đơn dân sự được không khi quy định tại khoản 2 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về những trường hợp sẽ bị dẫn giải lại không đề cập đến bị đơn dân sự. Khác với nguyên đơn dân sự, nếu họ không có mặt thì quyền lợi của họ bị ảnh hưởng, trong khi đó, bị đơn dân sự lại đang là chủ thể có nghĩa vụ, vì vậy, nếu không có biện pháp cưỡng chế phù hợp sẽ khó triệu tập được họ và ảnh hưởng đến việc bảo đảm sự công bằng trong quá trình giải quyết vụ án.

- Hiện nay, pháp luật hiện hành cũng chưa quy định rõ trường hợp người bị buộc tội, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cá nhân dưới 18 tuổi, mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự nếu họ vẫn tham gia vào quá trình giải quyết vụ án hình sự thì họ có bị tước đi quyền có người đại diện không? Điều 63 và Điều 64 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đều có quy định về người đại diện của những chủ thể này. Tuy nhiên, khi quy định về quyền của nguyên đơn dân sự và bị đơn dân sự thì có đề cập đến quyền của người đại diện nhưng khi quy định về nghĩa vụ của nguyên đơn dân sự và bị đơn dân sự lại không quy định về người đại diện của họ. Vậy, khi tham gia vào quá trình giải quyết vụ án, người đại diện của những chủ thể này có nghĩa vụ hay không? Nếu có thì đó là nghĩa vụ gì? Đây là một vấn đề cũng cần được nghiên cứu và quy định cụ thể trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Mặc dù Điều 177 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về việc giữ bí mật điều tra nhưng quy định này chỉ mang tính chất chung chung và tùy từng trường hợp. Thiết nghĩ, đối với tất cả những người tham gia tố tụng, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cần quy định cụ thể trong những trường hợp cần giữ bí mật điều tra thì họ có nghĩa vụ không được tiết lộ bí mật điều tra và phải chịu trách nhiệm pháp lý tùy mức độ, kể cả trường hợp việc tiết lộ đó làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người tham gia tố tụng khác trong vụ án.

2. Kiến nghị nhằm hoàn thiện về địa vị pháp lý của người tham gia tố tụng hình sự trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Trên cơ sở phân tích những vướng mắc, bất cập liên quan đến địa vị pháp lý của người tham gia tố tụng hình sự trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, để quá trình áp dụng Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thuận lợi cũng như hướng đến bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng hình sự, tác giả đưa ra một số kiến nghị như sau:

Một là, các quy định về nghĩa vụ của người tham gia tố tụng như nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cần bổ sung thêm cụm từ “hoặc người đại diện của họ có nghĩa vụ” (ví dụ: “Bị đơn dân sự hoặc người đại diện của họ có nghĩa vụ”).

Hai là, bổ sung thêm một nghĩa vụ được áp dụng cho những người tham gia tố tụng, đó là “không được tiết lộ bí mật điều tra nếu trước đó họ đã được thông báo về việc này” (ví dụ: “Nguyên đơn dân sự không được tiết lộ bí mật điều tra nếu trước đó họ đã được thông báo về việc này”).

Ba là, đối với người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cần bổ sung thêm quy định: “Việc nguyên đơn dân sự (hoặc bị đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) trực tiếp tham gia vào quá trình tố tụng không tước đi quyền của họ có người đại diện”.

Bốn là, đối với nguyên đơn dân sự, tại Điều 63 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cần bổ sung thêm 01 khoản theo hướng: “Nguyên đơn dân sự có thể rút đơn yêu cầu bồi thường trước khi Tòa án nghị án. Việc rút đơn yêu cầu bồi thường sẽ dẫn đến việc đình chỉ giải quyết yêu cầu bồi thường dân sự”.

Năm là, khoản 2 Điều 127 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cần bổ sung thêm một khoản như sau:
“2. Dẫn giải có thể áp dụng đối với:

d. Bị đơn dân sự trong trường hợp họ từ chối có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan”.

Phạm Thanh Tú
Khoa Luật, Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: