Thứ ba 13/01/2026 03:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định về quyền nhận thế chấp nhà ở của chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Về việc nhận thế chấp nhà ở của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, pháp luật hiện hành đang tồn tại những quy định chưa thống nhất, gây nhiều khó khăn trong quá trình hoạt động của chi nhánh ngân hành nước ngoài tại Việt Nam. Trong bài viết này, tác giả phân tích sự chưa thống nhất đó, đồng thời đề xuất giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật.



Cho vay là một trong những hình thức cấp tín dụng mà chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép thực hiện[1]. Trong hoạt động cho vay, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và khách hàng có thể thỏa thuận việc áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay hoặc không áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay[2]. Nếu chi nhánh ngân hàng nước ngoài và khách hàng thỏa thuận việc áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay thì rủi ro thất thoát nguồn vốn tín dụng của chi nhánh ngân hàng nước ngoài sẽ thấp hơn. Chính vì vậy, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài thường yêu cầu bên đi vay thế chấp tài sản của chính bên đi vay hoặc tài sản của bên thứ ba. Tài sản thế chấp có thể là bất động sản và động sản hiện có hoặc bất động sản và động sản hình thành trong tương lai. Trong đó, nhà ở đã hình thành hoặc nhà ở sẽ hình thành trong tương lai là một loại tài sản khá phổ biến mà bên đi vay thế chấp để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ cho chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Tuy nhiên, quy định pháp luật hiện hành vẫn còn một số mâu thuẫn trong việc cho phép chi nhánh ngân hàng nước ngoài nhận thế chấp tài sản là nhà ở đã gây khó khăn trong quá trình hoạt động của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.

1. Quyền nhận thế chấp nhà ở đã hình thành của chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Theo quy định tại Điều 144 Luật Nhà ở năm 2014, chủ sở hữu là tổ chức và cá nhân có quyền thế chấp nhà ở thuộc quyền sở hữu của mình. Cụ thể, nếu chủ sở hữu nhà ở là tổ chức thì chủ sở hữu được thế chấp nhà ở tại tổ chức tín dụng đang hoạt động tại Việt Nam (khoản 1 Điều 144) và nếu chủ sở hữu nhà ở là cá nhân thì được thế chấp nhà ở tại tổ chức tín dụng, tổ chức kinh tế đang hoạt động tại Việt Nam hoặc cá nhân theo quy định của pháp luật (khoản 2 Điều 144).

Luật Nhà ở năm 2014 không có định nghĩa về tổ chức tín dụng, do vậy, cần căn cứ vào quy định của pháp luật chuyên ngành để xác định đối tượng cụ thể. Theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Luật Các tổ chức tín dụng), tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân. Luật Các tổ chức tín dụng phân loại cụ thể các loại hình tổ chức tín dụng như sau:

- Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã (khoản 2 Điều 4).

- Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này, trừ các hoạt động nhận tiền gửi của cá nhân và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng. Tổ chức tín dụng phi ngân hàng bao gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác (khoản 4 Điều 4).

- Tổ chức tài chính vi mô là loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ (khoản 5 Điều 4).

- Quỹ tín dụng nhân dân là tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức hợp tác xã để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này và Luật Hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống (khoản 6 Điều 4).

Căn cứ việc phân loại nêu trên, có thể xác định rằng, tổ chức tín dụng không bao gồm chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Vậy chi nhánh ngân hàng nước ngoài có thể được xem là tổ chức kinh tế đang hoạt động tại Việt Nam hay không? Luật Nhà ở năm 2014 không có định nghĩa cụ thể tổ chức kinh tế. Tham chiếu đến các quy định có liên quan trong pháp luật Việt Nam, cụ thể, khoản 27 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 quy định tổ chức kinh tế bao gồm doanh nghiệp, hợp tác xã và tổ chức kinh tế khác theo quy định của pháp luật về dân sự, trừ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và khoản 16 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2014 quy định tổ chức kinh tế là tổ chức được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và các tổ chức khác thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh. Căn cứ vào các quy định này cũng khó có thể khẳng định rằng tổ chức kinh tế bao gồm ngân hàng nước ngoài.

Ngoài ra, Luật Nhà ở năm 2014 cũng quy định, nếu bên nhận thế chấp nhà ở là tổ chức thì phải có tư cách pháp nhân (khoản 3 Điều 119). Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 9 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng thì chi nhánh ngân hàng nước ngoài chỉ là đơn vị phụ thuộc của ngân hàng nước ngoài, không có tư cách pháp nhân.

Do vậy, căn cứ vào các quy định trên, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được nhận thế chấp tài sản là nhà ở đã hình thành từ bên đi vay là các cá nhân và tổ chức.

2. Quyền nhận thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai của chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Theo quy định tại khoản 2 Điều 147 Luật Nhà ở năm 2014, tổ chức, cá nhân xây dựng nhà ở hình thành trong tương lai trên thửa đất ở hợp pháp của mình; tổ chức, cá nhân mua nhà ở hình thành trong tương lai trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở của chủ đầu tư được thế chấp nhà ở này tại “tổ chức tín dụng” đang hoạt động tại Việt Nam để vay vốn phục vụ cho xây dựng nhà ở hoặc để mua chính nhà ở đó.

Như trên đã phân tích, tổ chức tín dụng không bao gồm chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Do đó, tổ chức, cá nhân sẽ không được phép thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai tại chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Nói cách khác, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được nhận thế chấp tài sản là nhà ở hình thành trong tương lai từ bên đi vay là các cá nhân và tổ chức.

Tương tự khoản 2 Điều 147 Luật Nhà ở năm 2014, khoản 3 Điều 3 Thông tư số 26/2015/TT-NHNN ngày 09/12/2015 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn trình tự, thủ tục thế chấp và giải chấp tài sản là dự án đầu tư xây dựng nhà ở, nhà ở hình thành trong tương lai (Thông tư số 26/2015/TT-NHNN) cũng quy định rằng, tổ chức, cá nhân xây dựng nhà ở hình thành trong tương lai trên thửa đất ở hợp pháp của mình được thế chấp nhà ở này tại “tổ chức tín dụng” để vay vốn phục vụ cho xây dựng nhà ở đó; tổ chức, cá nhân mua nhà ở hình thành trong tương lai trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở của chủ đầu tư được thế chấp nhà ở này tại “tổ chức tín dụng” để mua chính nhà ở đó.

Tuy nhiên, khác với quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng (tổ chức tín dụng không bao gồm chi nhánh ngân hàng nước ngoài), khái niệm tổ chức tín dụng theo khoản 1 Điều 2 Thông tư số 26/2015/TT-NHNN bao gồm cả chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lập và hoạt động theo Luật Các tổ chức tín dụng[3].

Điều đó có nghĩa là, nếu căn cứ vào khoản 2 Điều 147 Luật Nhà ở năm 2014 và khoản 1 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được nhận thế chấp tài sản là nhà ở hình thành trong tương lai từ bên đi vay là các cá nhân và tổ chức. Tuy nhiên, nếu căn cứ vào phân loại tổ chức tín dụng theo khoản 1 Điều 2 Thông tư số 26/2015/TT-NHNN, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được nhận thế chấp tài sản là nhà ở hình thành trong tương lai từ bên đi vay là các cá nhân và tổ chức[4].

3. Một số bất cập và kiến nghị

Như đã phân tích ở trên, sự mâu thuẫn của các quy định đã dẫn đến cách hiểu khác nhau, mặc dù cùng là loại nhà ở nhưng nếu căn cứ vào Luật Nhà ở năm 2014 và Luật Các tổ chức tín dụng thì chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được nhận thế chấp tài sản là nhà ở cho dù là nhà ở đã hình thành hay hình thành trong tương lai từ bên đi vay là các cá nhân và tổ chức. Trong khi đó, nếu căn cứ vào Thông tư số 26/2015/TT-NHNN thì chi nhánh ngân hàng nước ngoài lại được nhận thế chấp tài sản là nhà ở hình thành trong tương lai từ bên đi vay là các cá nhân và tổ chức.

Trong quá trình tư vấn cho các khách hàng là chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, tác giả đã gặp một trường hợp như sau: Bên đi vay dùng một căn nhà hình thành trong tương lai để thế chấp bảo đảm cho khoản vay tại một chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Sau khi căn nhà này đã hình thành, bên đi vay vẫn chưa đến hạn phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Để bảo đảm cho khoản vay, bên đi vay tiếp tục sử dụng căn nhà đã hình thành này để thế chấp cho khoản vay. Nếu căn cứ quy định của Luật Nhà ở và Luật Các tổ chức tín dụng, vì căn nhà này đã hình thành nên chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được tiếp tục nhận thế chấp đối với căn nhà này và phải yêu cầu bên đi vay thế chấp bằng một tài sản khác. Trong trường hợp bên đi vay không còn tài sản nào khác ngoài căn nhà để thế chấp cho khoản vay thì chi nhánh ngân hàng nước ngoài sẽ lấy gì để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên đi vay trong khi bên đi vay đang giữ một số tiền lớn của bên cho vay? Việc tồn tại các quy định chưa thống nhất như vậy đã gây nhiều lúng túng, khó khăn trong quá trình cho vay và nhận thế chấp tài sản là nhà ở của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam.

Do vậy, để có sự thống nhất trong việc áp dụng quy định và tránh gây khó khăn cho các chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, tác giả cho rằng, cần sửa đổi quy định hiện hành theo một trong hai hướng sau:

(i) Sửa đổi định nghĩa “tổ chức tín dụng” quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng, Thông tư số 26/2015/TT-NHNN và Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng được thống nhất với nhau và sửa đổi Thông tư số 26/2015/TT-NHNN theo hướng không cho phép chi nhánh ngân hàng nước ngoài nhận thế chấp tài sản là nhà ở đã hình thành trong tương lai để phù hợp với Luật Nhà ở năm 2014.

(ii) Sửa đổi quy định tại Luật Nhà ở theo hướng quy định rõ chi nhánh ngân hàng nước ngoài là đối tượng được phép nhận thế chấp nhà ở đã hình thành và nhà ở hình thành trong tương lai để thống nhất với các quy định tại Thông tư số 26/2015/TT-NHNN và không gây khó khăn cho các chi nhánh ngân hàng nước ngoài, cụ thể như sau:

“Điều 144. Bên thế chấp và bên nhận thế chấp nhà ở

1. Chủ sở hữu nhà ở là tổ chức được thế chấp nhà ở tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam.

2. Chủ sở hữu nhà ở là cá nhân được thế chấp nhà ở tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức kinh tế đang hoạt động tại Việt Nam hoặc cá nhân theo quy định của pháp luật”.

“Điều 147. Thế chấp dự án đầu tư xây dựng nhà ở và thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai

...

2. Tổ chức, cá nhân xây dựng nhà ở hình thành trong tương lai trên thửa đất ở hợp pháp của mình; tổ chức, cá nhân mua nhà ở hình thành trong tương lai trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở của chủ đầu tư được thế chấp nhà ở này tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam để vay vốn phục vụ cho xây dựng nhà ở hoặc để mua chính nhà ở đó”.

Luật sư Hà Minh Long
Công ty Luật TNHH Yoon & Yang (Việt Nam)


[1] Khoản 1 Điều 123 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[2] Khoản 1 Điều 15 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.

[3] Theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng, tổ chức tín dụng cũng bao gồm chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

[4] Khoản 3 Điều 3 Thông tư 26/2015/TT-NHNN.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.

Theo dõi chúng tôi trên: