Thứ hai 27/07/2026 05:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện thể chế về bồi thường nhà nước theo yêu cầu của Hiến pháp năm 2013

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra lần đầu tiên được ghi nhận tại Điều 29 Hiến pháp năm 1959: “... Người bị thiệt hại vì hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan nhà nước có quyền được bồi thường”.

1. Hoàn thiện thể chế về bồi thường nhà nước theo yêu cầu của Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra lần đầu tiên được ghi nhận tại Điều 29 Hiến pháp năm 1959: “... Người bị thiệt hại vì hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan nhà nước có quyền được bồi thường”. Các bản Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 tiếp tục khẳng định quyền được bồi thường của người bị thiệt hại. Thể chế hóa các quy định của Hiến pháp, Bộ luật Dân sự năm 1995, Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015 đã đưa ra một số quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cơ quan do công chức thuộc quyền quản lý của mình gây ra khi thi hành công vụ.

Cụ thể hóa các quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995, Nhà nước ta đã ban hành một số văn bản quy định về trách nhiệm bồi thường do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra như: (i) Nghị định số 47/CP ngày 03/5/1997 của Chính phủ về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra; (ii) Thông tư số 38/1998/TT-BTC ngày 30/3/1998 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc lập dự toán, sử dụng và quyết toán ngân sách nhà nước cho bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng gây ra; (iii) Thông tư số 54/1998/TT-TCCP ngày 04/6/1998 của Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ hướng dẫn thực hiện một số nội dung Nghị định số 47/CP; (iv) Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 17/3/2003 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra (Nghị quyết số 388); (v) Thông tư liên tịch số 01/2004/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC-BTP-BQP-BTC ngày 25/3/2004 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết số 388 được thay thế bởi Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BQP-BTC ngày 22/11/2006 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết số 388.

Mặc dù đã có hệ thống các văn bản như nêu trên, nhưng trên thực tế, việc giải quyết bồi thường cho người dân còn nhiều hạn chế, gây bức xúc trong xã hội. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được quy định ở những hình thức văn bản có hiệu lực pháp lý không cao, trách nhiệm bồi thường của Nhà nước chưa được ghi nhận ở văn bản tầm Luật.

Vì vậy, tại Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 25/4/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 (Nghị quyết số 48) đã đặt ra nhiệm vụ “khẩn trương ban hành Luật về bồi thường nhà nước” (điểm 2 mục II). Thể chế hóa nhiệm vụ này tại Nghị quyết số 48, ngày 18/6/2009, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (Luật năm 2009), có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2010. Việc ban hành Luật năm 2009 đã thiết lập một cơ chế pháp lý mới có khả năng bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khi bị công chức gây ra thiệt hại trong quá trình thực thi công vụ. Đồng thời, Luật đã thể chế hóa các định hướng của Đảng Cộng sản Việt Nam về hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm quyền con người, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và bảo đảm yêu cầu hội nhập quốc tế. Sự ra đời của Luật năm 2009 đánh dấu một bước tiến mới trong tư duy lập pháp ở nước ta, đồng thời là một sự kiện quan trọng, có ý nghĩa sâu sắc trong việc khẳng định chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, trong đó có quyền được bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức nhà nước gây ra khi thi hành công vụ, góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm trong thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức.

Sau khi Luật năm 2009 được ban hành, để triển khai thi hành Luật hiệu quả, Bộ Tư pháp đã tham mưu xây dựng, phối hợp với các cơ quan xây dựng, ban hành, trình cấp có thẩm quyền ban hành 19 văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật năm 2009, bao gồm: 01 nghị định; 18 thông tư, thông tư liên tịch.

Có thể khẳng định rằng, việc ban hành đầy đủ các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành trong lĩnh vực bồi thường nhà nước đã tạo cơ sở pháp lý đầy đủ cho việc triển khai thực hiện hiệu quả công tác bồi thường nhà nước trên thực tiễn, góp phần đưa Luật năm 2009 đi vào thực tiễn cuộc sống. Đồng thời, cũng khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong việc thiết lập cơ chế đặc thù để cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp thực hiện quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra. Thông qua việc thực hiện công tác bồi thường nhà nước, công chức tiếp tục có sự chuyển biến về ý thức trách nhiệm trong thi hành công vụ, có nhận thức sâu sắc hơn về ý nghĩa, vai trò của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, qua đó, nâng cao trách nhiệm của mình trước Đảng, Nhà nước và nhân dân, không có hành vi trái pháp luật trong thi hành công vụ. Người bị thiệt hại thuận lợi hơn trong thực hiện quyền của mình khi yêu cầu bồi thường trong cả ba lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án; các cơ quan nhà nước có trách nhiệm bồi thường đã thực hiện việc giải quyết bồi thường theo đúng quy định của pháp luật[1].

2. Hoàn thiện thể chế về trách nhiệm bồi thường nhà nước theo yêu cầu triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, trước những thay đổi về yêu cầu bảo đảm, bảo vệ quyền con người, về tình hình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế cũng như sự phát triển của hệ thống pháp luật, cải cách tư pháp, cải cách hành chính thì Luật năm 2009 đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, thiệt hại được bồi thường, trình tự, thủ tục giải quyết bồi thường, kinh phí bồi thường. Đặc biệt, để triển khai thi hành các quy định về bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân tại Hiến pháp năm 2013 thì việc sửa đổi, bổ sung Luật năm 2009 là cần thiết. Do đó, Bộ Tư pháp đã phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan xây dựng, trình Quốc hội ban hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 (Luật năm 2017), có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2018. Luật năm 2017 được ban hành với nhiều điểm mới quan trọng để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại cũng như bảo đảm lợi ích của Nhà nước như:

- Về nguyên tắc bồi thường của Nhà nước: Luật năm 2017 đã bổ sung 01 điều (Điều 4) quy định về nguyên tắc bồi thường của Nhà nước. Về cơ bản, nguyên tắc bồi thường được kế thừa như quy định của Luật hiện hành. Luật đã mở rộng nguyên tắc giải quyết bồi thường, cho phép người bị thiệt hại có quyền khởi kiện ngay ra Tòa án khi có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án hình sự và thi hành án dân sự; kết hợp giải quyết yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự tại Tòa án đối với yêu cầu bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án hình sự và thi hành án dân sự[2]. Người bị thiệt hại có quyền lựa chọn cơ chế giải quyết bồi thường phù hợp nhưng khi cơ quan giải quyết bồi thường đã thụ lý yêu cầu bồi thường thì người đó không được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền khác giải quyết bồi thường. Luật năm 2017 không quy định kết hợp giải quyết bồi thường trong quá trình giải quyết khiếu nại.

- Quy định cụ thể văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường: Luật năm 2017 đã bổ sung 05 điều quy định cụ thể về các văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường trong các hoạt động quản lý hành chính (Điều 8), tố tụng hình sự (Điều 9), tố tụng dân sự, tố tụng hành chính (Điều 10), thi hành án hình sự (Điều 11), thi hành án dân sự (Điều 12).

- Về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước: So với Luật năm 2009, Luật năm 2017 đã bổ sung phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong các lĩnh vực để bảo đảm phù hợp với Hiến pháp năm 2013, các bộ luật, luật hiện hành, đồng thời cũng bảo đảm quyền, lợi ích của công dân, cụ thể phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được quy định tại các Điều 17 (trong hoạt động quản lý hành chính), Điều 18 (trong hoạt động tố tụng hình sự), Điều 19 (trong hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính), Điều 20 (trong hoạt động thi hành án hình sự), Điều 21 (trong hoạt động thi hành án dân sự).

- Về thiệt hại được bồi thường: Luật năm 2017 đã bổ sung thêm 02 điều quy định về: (i) Xác định thiệt hại (Điều 22); chi phí khác được bồi thường (Điều 28); (ii) Bổ sung một số thiệt hại được bồi thường phát sinh trong thực tế chưa được Luật năm 2009 quy định, đồng thời lượng hóa một số thiệt hại được bồi thường; (iii) Bổ sung thêm một số thiệt hại về tinh thần (khoản 1, điểm a khoản 3 và khoản 6 Điều 27) và tăng mức bồi thường thiệt hại về tinh thần.

- Về cơ quan giải quyết bồi thường: Luật năm 2017 đã quy định cụ thể hơn về cơ quan giải quyết bồi thường trong các hoạt động. Đồng thời, để bảo đảm phù hợp với nguyên tắc bồi thường của Nhà nước nêu trên, Luật năm 2017 đã bổ sung cơ quan giải quyết bồi thường là Tòa án trong trường hợp kết hợp giải quyết bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính.

- Về thủ tục giải quyết bồi thường: Luật năm 2017 đã sửa đổi toàn diện các quy định về thủ tục giải quyết bồi thường tại cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại, theo đó, rút ngắn thời hạn giải quyết yêu cầu bồi thường; bổ sung các quy định về việc hoãn, tạm đình chỉ và đình chỉ việc giải quyết bồi thường; bổ sung quy định về tạm ứng kinh phí bồi thường đối với những thiệt hại có thể tính toán được ngay, không cần xác minh; rút ngắn thời hạn thương lượng việc bồi thường, quy định cụ thể về nguyên tắc, thành phần thương lượng, địa điểm thương lượng, nội dung thương lượng, thủ tục thương lượng và kết quả của việc thương lượng.

- Về phục hồi danh dự: Luật năm 2017 đã sửa đổi, bổ sung quy định về việc phục hồi danh dự cho người bị thiệt hại, cụ thể: (i) Quy định Nhà nước chủ động phục hồi danh dự cho người bị thiệt hại; (ii) Bổ sung đối tượng được phục hồi danh dự; (iii) Quy định cụ thể hình thức tiến hành phục hồi danh dự, thủ tục, thời hạn thực hiện tổ chức trực tiếp xin lỗi, cải chính công khai và đăng báo xin lỗi, cải chính công khai.

- Về kinh phí bồi thường và thủ tục chi trả: Khác so với Luật năm 2009, Luật năm 2017 đã quy định Bộ Tài chính, Sở Tài chính có trách nhiệm lập dự toán, quyết toán kinh phí bồi thường. Đồng thời, quy định về việc cấp phát kinh phí bồi thường, chi trả tiền bồi thường theo hướng đơn giản, nhanh gọn.

- Về trách nhiệm hoàn trả: Luật năm 2017 đã sửa đổi, bổ sung toàn diện quy định về trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ, cụ thể: (i) Quy định người thi hành công vụ có lỗi gây thiệt hại thì đều có nghĩa vụ hoàn trả (Điều 64); (ii) Tăng mức hoàn trả với tỷ lệ tương ứng mức độ lỗi và số tiền mà nhà nước đã bồi thường (Điều 65); (iii) Quy định cụ thể trách nhiệm hoàn trả trong trường hợp có 01 người thi hành công vụ gây thiệt hại và trong trường hợp có nhiều người thi hành công vụ gây thiệt hại (khoản 2 và khoản 3 Điều 65); (iv) Bổ sung quy định về trách nhiệm hoàn trả trong một số trường hợp cụ thể (từ Điều 69 đến Điều 72).

- Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong công tác bồi thường: Luật năm 2017 đã sửa đổi quy định về quản lý nhà nước về công tác bồi thường, theo đó, Bộ Tư pháp là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ, Sở Tư pháp là cơ quan tham mưu giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thống nhất quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước trong cả ba hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án.

Để hướng dẫn thi hành Luật năm 2017, trong giai đoạn 2018 - 2019, Cục Bồi thường nhà nước đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan xây dựng, trình các cơ quan có thẩm quyền ban hành 07 văn bản quy phạm pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, trong đó có 01 nghị định; 06 thông tư, thông tư liên tịch và 01 quyết định.

Như vậy, có thể khẳng định rằng, đến nay, thể chế về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cơ bản đã được hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013. Đồng thời, việc hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bồi thường đã thiết lập cơ chế pháp lý minh bạch, khả thi để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại và quyền, lợi ích của Nhà nước; từng bước nâng cao trách nhiệm của người thi hành công vụ, hiệu lực, hiệu quả nền công vụ, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và hội nhập quốc tế.

ThS. Nguyễn Thị Tươi
Cục Bồi thường nhà nước



[1]. Báo cáo số 181/BC-BTP ngày 15/7/2016 của Bộ Tư pháp tổng kết 06 năm thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009.

[2]. Khoản 4 Điều 4 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định hướng nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý tại Lạng Sơn đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Định hướng nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý tại Lạng Sơn đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Trong bối cảnh đất nước ta đang bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc với những bước chuyển dịch mang tính chiến lược, yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật gắn liền với việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân ngày càng trở nên cấp bách. Trong tiến trình đó, hoạt động trợ giúp pháp lý (TGPL) giữ vai trò nền tảng trong việc hiện thực hóa công bằng xã hội và bảo đảm quyền tiếp cận công lý bình đẳng cho mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là các đối tượng yếu thế. Để cung cấp kịp thời dịch vụ pháp lý chất lượng cho người nghèo, người thuộc diện chính sách trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh Lạng Sơn đã ban các hành kế hoạch và tổ chức triển khai các nội dung của Luật Trợ giúp pháp lý, góp phần thực hiện quyền con người, quyền công dân. Trong 06 tháng đầu năm 2026, công tác TGPL tại Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh Lạng Sơn đã đạt được những kết quả đáng kể.
Công tác phối hợp giữa Tòa án nhân dân và cơ quan thi hành án dân sự trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Công tác phối hợp giữa Tòa án nhân dân và cơ quan thi hành án dân sự trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Kỷ niệm 80 năm Ngày Truyền thống thi hành án dân sự Việt Nam (19/7/1946 - 19/7/2026) là dịp để nhìn lại chặng đường hình thành, xây dựng và phát triển của Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) - bộ phận cấu thành không thể tách rời của nền tư pháp Việt Nam. Trải qua 80 năm, Hệ thống THADS không ngừng được củng cố, hoàn thiện tổ chức bộ máy, cơ chế pháp lý, đóng góp quan trọng vào công cuộc bảo vệ công lý, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong tiến trình đó, mối quan hệ phối hợp giữa Tòa án nhân dân và các cơ quan THADS luôn giữ vai trò trung tâm, là “sợi chỉ đỏ” kết nối hoạt động xét xử với hoạt động thi hành án, bảo đảm mỗi bản án, quyết định của Tòa án không chỉ dừng lại trên văn bản mà thực sự đi vào cuộc sống, phát huy giá trị, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Đặc biệt, trong bối cảnh yêu cầu cải cách tư pháp, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế đang đặt ra ngày càng cấp thiết, việc tổng kết, phân tích công tác phối hợp giữa hai thiết chế này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc.
Đổi mới tư duy, quy trình, nâng cao chất lượng công tác hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ thi hành án dân sự phục vụ hiệu quả cho việc hoàn thành chỉ tiêu, nhiệm vụ trong kỷ nguyên mới

Đổi mới tư duy, quy trình, nâng cao chất lượng công tác hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ thi hành án dân sự phục vụ hiệu quả cho việc hoàn thành chỉ tiêu, nhiệm vụ trong kỷ nguyên mới

Trong giai đoạn hiện nay, yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải cách tư pháp, chuyển đổi số và sắp xếp, tinh, gọn tổ chức bộ máy đặt ra yêu cầu và nhiệm vụ mới đối với Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS). Theo đó, công tác hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ không chỉ giải đáp khó khăn, vướng mắc trong từng vụ việc cụ thể mà còn phải bảo đảm thống nhất nhận thức, áp dụng pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý, chỉ đạo, điều hành trong toàn Hệ thống THADS. Thực tiễn cho thấy, chất lượng công tác hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ có tác động trực tiếp đến chất lượng tổ chức thi hành án và kết quả thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao. Vì vậy, việc đổi mới tư duy, quy trình và nâng cao chất lượng công tác hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ THADS là yêu cầu cấp thiết, góp phần đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Giám định tư pháp đối với dữ liệu điện tử trong tư pháp hình sự Việt Nam

Giám định tư pháp đối với dữ liệu điện tử trong tư pháp hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Pháp luật Việt Nam ghi nhận dữ liệu điện tử là một nguồn chứng cứ trong tố tụng hình sự, đồng thời, thiết lập cơ chế giám định tư pháp nhằm phục vụ hoạt động tố tụng. Tuy nhiên, thực tiễn giám định tư pháp đối với dữ liệu điện tử trong tư pháp hình sự còn bộc lộ nhiều hạn chế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng, nghiên cứu làm rõ những bất cập, hạn chế trong hoạt động giám định tư pháp đối với dữ liệu điện tử trong tư pháp hình sự Việt Nam, từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động này trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.
Hoàn thiện cơ chế bảo đảm nguồn lực trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số từ thực tiễn Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 3 tỉnh Vĩnh Long

Hoàn thiện cơ chế bảo đảm nguồn lực trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số từ thực tiễn Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 3 tỉnh Vĩnh Long

Trong giai đoạn đất nước bước vào kỷ nguyên mới, việc tăng cường nguồn lực thực hiện trợ giúp pháp lý, đặc biệt, cho đồng bào dân tộc thiểu số là nhiệm vụ quan trọng.
Truyền thông trợ giúp pháp lý cho trẻ em qua hình thức phiên tòa giả định từ thực trạng hoạt động của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 3 tỉnh Vĩnh Long

Truyền thông trợ giúp pháp lý cho trẻ em qua hình thức phiên tòa giả định từ thực trạng hoạt động của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 3 tỉnh Vĩnh Long

Phiên tòa giả định được kỳ vọng sẽ trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực cho công tác tuyên truyền pháp luật về trợ giúp pháp lý cho trẻ em nói riêng và chính sách của Đảng, Nhà nước nói chung, góp phần xây dựng đất nước công bằng, xã hội văn minh trong kỷ nguyên mới.
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Bộ Tư pháp vững bước trong kỷ nguyên mới

Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Bộ Tư pháp vững bước trong kỷ nguyên mới

Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh Bộ Tư pháp là tổ chức cơ sở đoàn trực thuộc Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh Chính phủ, nơi hội tụ, tập hợp đội ngũ cán bộ trẻ đầy nhiệt huyết, có trình độ chuyên môn cao, hoạt động trong lĩnh vực pháp luật. Lĩnh vực pháp luật được xác định là một trong những nền tảng vững chắc để khởi tạo xã hội thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị Việt Nam trong sạch, vững mạnh, toàn diện. Qua đó, cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị làm “nòng cốt” để Nhân dân làm chủ được vận hành thông suốt, góp phần hiện thực hóa khát vọng đi lên chủ nghĩa xã hội của Nhân dân.
Vai trò và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp địa phương trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Vai trò và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp địa phương trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Trong suốt tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam, ngành Tư pháp luôn song hành cùng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ những ngày đầu thành lập Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (năm 1945) đến nay, trải qua 80 năm xây dựng và trưởng thành, ngành Tư pháp luôn khẳng định vị thế là cơ quan tham mưu nòng cốt trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, trước yêu cầu đột phá về thể chế để đất nước phát triển bền vững, vai trò của công tác tư pháp tại địa phương càng quan trọng, đặc biệt, trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Chuyển đổi số công tác tư pháp ở Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và kiến nghị

Chuyển đổi số công tác tư pháp ở Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và kiến nghị

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với sự phát triển mạnh mẽ của dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây, công nghệ chuỗi khối (blockchain)… làm thay đổi sâu sắc phương thức quản trị nhà nước và cung cấp dịch vụ công.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Công an xã ở khu vực biên giới

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Công an xã ở khu vực biên giới

Tóm tắt: Phổ biến, giáo dục pháp luật là một trong những nhiệm vụ cơ bản của quản lý nhà nước và là cầu nối giữa pháp luật với người dân. Trong giai đoạn hiện nay, khi yêu cầu về xây dựng Nhà nước pháp quyền và phát huy vai trò quản lý xã hội bằng pháp luật ngày càng cao, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của lực lượng Công an xã càng đóng vai trò quan trọng. Bài viết nghiên cứu thực trạng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của lực lượng Công an xã ở khu vực biên giới, xác định những kết quả đạt được và khó khăn, vướng mắc gặp phải. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của lực lượng Công an xã ở khu vực biên giới trong thời gian tới.
Ngành Tư pháp thành phố Huế và những đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Ngành Tư pháp thành phố Huế và những đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Trải qua 35 năm xây dựng và phát triển, cùng với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Tư pháp, Thành ủy, Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố và tinh thần trách nhiệm, đoàn kết, sáng tạo, nỗ lực, quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, toàn ngành Tư pháp thành phố Huế đã triển khai thực hiện các mục tiêu với tinh thần vào cuộc “từ sớm, từ xa”, tập trung giải quyết, xử lý kịp thời những vấn đề mới phát sinh, thực hiện tốt vai trò, nhiệm vụ “hàng rào kỹ thuật” về các vấn đề pháp lý, nhất là lĩnh vực trực tiếp gắn liền với người dân, doanh nghiệp; góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng, phát triển của thành phố Huế, ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh đóng góp quan trọng trong hành trình phát triển kinh tế - xã hội

Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh đóng góp quan trọng trong hành trình phát triển kinh tế - xã hội

Trong bức tranh tổng thể phát triển của tỉnh Hà Tĩnh, Sở Tư pháp ngày càng thể hiện rõ vai trò nòng cốt trong tham mưu xây dựng thể chế, kiến tạo hành lang pháp lý vững chắc thông qua những hoạt động chuyên môn sâu, rộng và tinh thần đổi mới sáng tạo không ngừng, góp phần quan trọng vào sự phát triển toàn diện, bền vững của địa phương.
Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của người giám định tư pháp và tổ chức giám định tư pháp đáp ứng yêu cầu thực tiễn của hoạt động tố tụng

Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của người giám định tư pháp và tổ chức giám định tư pháp đáp ứng yêu cầu thực tiễn của hoạt động tố tụng

Tóm tắt: Kết luận giám định tư pháp là một trong những nguồn chứng cứ quan trọng, được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án, vụ việc, giúp cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chứng minh tội phạm. Bài viết phân tích quy định của pháp luật và thực trạng tổ chức, hoạt động của đội ngũ giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng của đối tượng này nhằm bảo đảm tính chính xác, khách quan và hiệu quả trong hoạt động tố tụng.
Nguyên tắc áp dụng có đi có lại trong pháp luật tương trợ tư pháp và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam

Nguyên tắc áp dụng có đi có lại trong pháp luật tương trợ tư pháp và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam

Việc tương trợ tư pháp được cơ quan chức năng triển khai và áp dụng theo các điều ước quốc tế (song phương và đa phương) mà Việt Nam là thành viên, trường hợp giữa Việt Nam và nước ngoài chưa có điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp thì thực hiện trên nguyên tắc có đi có lại.
Luật áp dụng trong hoạt động tương trợ tư pháp

Luật áp dụng trong hoạt động tương trợ tư pháp

Trong hoạt động tương trợ tư pháp (TTTP) giữa các quốc gia, cơ quan nhà nước có thẩm quyền (được yêu cầu) ngoài việc áp dụng pháp luật nước mình, có phải áp dụng pháp luật nước ngoài hay không và điều kiện áp dụng ra sao là vấn đề luôn được đặt ra dưới khía cạnh tư pháp quốc tế, cũng như trong hoạt động tố tụng dân sự quốc tế nói chung.

Theo dõi chúng tôi trên: