Thứ ba 14/07/2026 17:48
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện tổ chức bộ máy của Chính phủ và nền công vụ

Tóm tắt: Trên cơ sở chủ trương, đường lối của Đảng, quy định của pháp luật, bài viết tập trung phân tích các khía cạnh pháp lý và thực tiễn hoạt động của bộ máy Chính phủ và chế độ công vụ, đánh giá những bất cập, hạn chế về thể chế và thực tế triển khai. Qua đó, bài viết đề xuất các giải pháp góp phần tổ chức bộ máy của Chính phủ hợp lý, tinh gọn, thực hiện tinh giản biên chế đúng đối tượng, triển khai đồng bộ các chính sách thu hút, sử dụng người có tài năng, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, góp phần nâng cao chất lượng của nền công vụ.

Abstract: On the basis of the Party’s guidelines and current legal regulations, this article focuses on analyzing the legal and practical aspects of the operation of the Government apparatus and the public service regime, assessing its inadequacies and limitations. Thereby, the article will propose solutions for organizing the streamlined and effective apparatus of the Government, reducing the number of public staff in the right subject oriented, synchronously implementing policies to attract and employ talented people, increasing administrative discipline to improve the quality of public services.

1. Về tổ chức bộ máy của Chính phủ

1.1. Về cơ cấu tổ chức của Chính phủ

Kết luận số 64-KL/TW ngày 28/5/2013 của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở (Kết luận số 64-KL/TW) đã xác định quan điểm, mục tiêu đổi mới tổ chức Chính phủ, chính quyền địa phương: Trước mắt giữ ổn định tổ chức của Chính phủ, tổ chức bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực phù hợp với thực tiễn đất nước. Điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ của các Bộ, ngành tập trung vào quản lý nhà nước trên các lĩnh vực, khắc phục những chồng chéo hoặc bỏ trống về chức năng, nhiệm vụ, phạm vi, đối tượng quản lý; làm rõ mối quan hệ phối hợp giữa các Bộ, cơ quan ngang Bộ; bảo đảm nguyên tắc một việc chỉ giao một cơ quan chủ trì thực hiện và chịu trách nhiệm chính.

Vừa qua, việc sắp xếp, điều chỉnh tổ chức các bộ theo mô hình quản lý đa ngành, đa lĩnh vực là cơ sở cho việc tổ chức hợp lý các Bộ, cơ quan ngang Bộ, bảo đảm chủ trương tinh gọn bộ máy, giảm số lượng đầu mối các cơ quan. Cơ cấu tổ chức của Chính phủ gồm có cơ quan ngang Bộ và hoàn thiện tổ chức Chính phủ luôn chú trọng các cơ quan quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực này. Tuy nhiên, khi đánh giá một cách tổng thể, cần đề cập các cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác như các Ban Chỉ đạo liên ngành, các cơ quan được thành lập theo trình tự luật định, cung cấp dịch vụ công.

Hiện nay, trong cơ cấu tổ chức của Chính phủ, 08 cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện một số dịch vụ công có đặc điểm, tính chất quan trọng mà Chính phủ phải trực tiếp chỉ đạo. Về nguyên tắc, các cơ quan thuộc Chính phủ không có chức năng quản lý nhà nước và không ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Thực tế cho thấy, quy chế pháp lý của cơ quan thuộc Chính phủ đã phát sinh vướng mắc cần điều chỉnh lại. Thời gian qua, tình trạng trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế diễn ra ngày càng phức tạp, trong khi thanh tra lao động - thương binh và xã hội cần bao quát nhiều lĩnh vực như: Việc làm, giáo dục nghề nghiệp, lao động, tiền lương. Tại Luật Bảo hiểm xã hội, Quốc hội đã giao cơ quan bảo hiểm xã hội thực hiện thanh tra chuyên ngành đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm y tế là một nhiệm vụ quản lý nhà nước.

Hiện đang có đề xuất thành lập một số cơ quan thuộc Chính phủ (như cơ quan quản lý vốn nhà nước); tuy nhiên, sẽ vướng mắc nếu không được giao thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước.

Như vậy, nếu các cơ quan thuộc Chính phủ được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước thì cơ cấu tổ chức của Chính phủ cần được nghiên cứu, hoàn thiện một cách phù hợp.

1.2. Về cơ cấu tổ chức các cơ quan ngang Bộ

Trong các nhiệm kỳ gần đây, tổ chức của Chính phủ đều quán triệt nguyên tắc hình thành và duy trì bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực. Tuy nhiên, trong từng Bộ, cơ quan, vẫn còn tình trạng gia tăng các đơn vị trực thuộc; chuyển vụ thành cục, cục thành tổng cục.

Thời gian qua, các đơn vị sự nghiệp công lập được đưa vào cơ cấu tổ chức của cơ quan ngang Bộ xuất phát từ tư duy coi các đơn vị này là một bộ phận của bộ máy tổ chức bộ máy của Bộ. Với quan niệm đó, phát sinh thẩm quyền của thủ trưởng cơ quan quản lý đơn vị sự nghiệp trong việc quyết định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, số lượng người làm việc, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo của đơn vị sự nghiệp. Điều này chưa phù hợp với xu hướng thực hiện quy chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp. Như vậy, cần đổi mới cơ chế quản lý đối với đơn vị sự nghiệp công lập mà trước hết là quan niệm coi đó là một bộ phận trong cơ cấu tổ chức của cơ quan hành chính nhà nước, tiến tới xóa bỏ cơ chế “chủ quản” đối với các đơn vị sự nghiệp công lập.

Luật Viên chức mới dừng ở việc quy định địa vị pháp lý của viên chức, các chính sách đối với viên chức: Tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, quản lý, thôi việc, nghỉ hưu, kỷ luật…, trong khi đó, vấn đề cốt lõi của dịch vụ sự nghiệp công như: Đơn vị sự nghiệp công lập, các loại hình dịch vụ sự nghiệp công lập, phương thức cung cấp dịch vụ sự nghiệp công lập…. chưa được quy định đầy đủ.

Đã đến lúc cần nghiên cứu ban hành Luật Dịch vụ sự nghiệp công làm cơ sở sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập. Căn cứ quy định của Luật này, Chính phủ xác định những dịch vụ sự nghiệp do các tổ chức, cá nhân ngoài Nhà nước thực hiện, những dịch vụ sự nghiệp do nhà nước trực tiếp thực hiện và những loại dịch vụ do Nhà nước, xã hội cùng thực hiện.

Đồng thời, cần tiếp tục thực hiện lộ trình giá dịch vụ sự nghiệp công, bảo đảm giá dịch vụ phải tính đủ chi phí. Nhà nước không thực hiện cấp chi phí thông qua biên chế mà trực tiếp hỗ trợ cho các đối tượng sử dụng dịch vụ thuộc diện có hoàn cảnh khó khăn hoặc bảo đảm hoạt động đối với các dịch vụ sự nghiệp công lập có tính chất đặc biệt hoặc trên địa bàn vùng sâu, vùng xa như: Giám định pháp y, cơ sở điều trị bệnh lây nhiễm, các cơ sở giáo dục, y tế.

1.3. Về thể chế của tổ chức bộ máy

Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 01/8/2007 của Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa X về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước đã nêu chủ trương, giải pháp: Các văn bản pháp luật ban hành phải quán triệt tinh thần đẩy mạnh cải cách hành chính; quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, thẩm quyền của các cơ quan trong bộ máy nhà nước; hạn chế tối đa việc quy định về tổ chức bộ máy ngay trong các luật chuyên ngành.

Việc ấn định tổ chức các cơ quan trong các luật, pháp lệnh làm ảnh hưởng đến tính đồng bộ của hệ thống các văn bản về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của các các cơ quan hành chính nhà nước.

Theo Quyết định số 2218/QĐ-TTg ngày 10/12/2015 của Thủ tướng Chính phủ về kế hoạch của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, Bộ Nội vụ được giao nhiệm vụ phối hợp với Bộ, ngành và địa phương xây dựng Luật sửa đổi các quy định về tổ chức bộ máy, biên chế trong các Luật hiện hành không thuộc lĩnh vực tổ chức nhà nước (dự kiến trình Quốc hội năm 2018), Nghị định sửa đổi các Nghị định của Chính phủ hiện hành không thuộc lĩnh vực tổ chức nhà nước có quy định về tổ chức bộ máy, biên chế (dự kiến trình Chính phủ vào Quý IV/2017) và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi các quy định về tổ chức bộ máy, biên chế trong các văn bản pháp luật hiện hành không thuộc lĩnh vực tổ chức nhà nước do Thủ tướng Chính phủ ban hành (dự kiến trình Thủ tướng Chính phủ vào Quý IV/2017).

Ngoài việc thực hiện nhiệm vụ nêu trên, tới đây, các văn bản luật, pháp lệnh chỉ nên quy định nhiệm vụ của Chính phủ trong quản lý nhà nước các ngành, lĩnh vực thay vì quy định cụ thể nhiệm vụ của các Bộ, cơ quan. Trên cơ sở đó, Chính phủ chủ động phân công các Bộ, cơ quan giúp Chính phủ thực hiện các nhiệm vụ cụ thể, đồng thời chủ động điều chỉnh nhiệm vụ của các cơ quan để xử lý những vướng mắc, bất cập phát sinh trong quá trình thực hiện.

2. Về công vụ

2.1. Về thể chế

Kết luận số 64-KL/TW, Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức định hướng: Đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức và các văn bản quy định chi tiết luật đã quy định các nguyên tắc quản lý, sử dụng cán bộ, công chức; chính sách thúc đẩy cải cách công vụ như thu hút, trọng dụng người có tài năng; đánh giá, phân loại công chức. Các văn bản về tinh giản biên chế đã được ban hành không chỉ với mục đích giảm số lượng mà hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đối với hoạt động lao động đặc thù là công vụ.

Tuy nhiên, một số nội dung về tuyển dụng, sử dụng, quản lý cán bộ, công chức, viên chức chưa được hoàn thiện kịp thời để đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là để thúc đẩy cải cách công vụ, duy trì kỷ luật, kỷ cương như một biện pháp nâng cao hiệu quả công vụ, cung cấp dịch vụ công. Một số nội dung chưa được thể chế hóa để bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất giữa quy định của Đảng với pháp luật của Nhà nước như tiêu chuẩn chức danh lãnh đạo, quản lý; đánh giá, kỷ luật cán bộ, công chức. Việc xác định vị trí việc làm chưa đạt hiệu quả như mong muốn, chưa phải là cơ sở khoa học và là căn cứ để xác định biên chế công chức và số lượng viên chức. Cơ chế đánh giá cán bộ chưa thật khoa học, phù hợp; chưa có cơ chế kịp thời thay thế những cán bộ, công chức, viên chức không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ.

Ngoài việc sửa đổi, bổ sung một số quy định để đáp ứng yêu cầu thực tiễn, cần hoàn thiện thể chế thúc đẩy cải cách công vụ như chế độ công chức hợp đồng, cơ chế cung cấp dịch vụ ở cả khu vực công lập và ngoài công lập.

2.2. Về cán bộ, công chức cấp xã

Tính đến năm 2015, cả nước có 11.162 đơn vị hành chính cấp xã; 136.824 thôn, tổ dân phố với số lượng 234.061 cán bộ, công chức cấp xã; 922.533 người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố.

Số lượng cán bộ, công chức và người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn tăng về số lượng; chế độ, chính sách được quy định trong các văn bản như Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Dân quân, tự vệ, Luật Thú y… Ngoài lý do gia tăng đơn vị hành chính, thôn, tổ dân phố, việc phân cấp cho các địa phương quyết định số người hoạt động không chuyên trách là một nguyên nhân dẫn đến gia tăng số lượng chức danh này. Hơn nữa, các tổ chức đoàn thể đều bố trí người của tổ chức mình tại thôn, tổ dân phố.

Với mục tiêu kiện toàn, sắp xếp tổ chức của hệ thống chính trị đồng bộ, thống nhất, định hướng trong mỗi thời kỳ được thể hiện qua các giải pháp cụ thể, gắn với những mốc hoàn thiện pháp luật. Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 02/02/2008 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương khóa X về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên nêu: Một số chức danh cán bộ chuyên trách ở xã, phường, thị trấn cần và có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của Chính phủ thì được xem xét chuyển thành công chức nhà nước để tạo sự liên thông trong đội ngũ cán bộ, công chức ở các cấp; cán bộ không chuyên trách thì thực hiện theo hướng khoán kinh phí hoạt động và đóng bảo hiểm tự nguyện.

Kết luận số 64-KL/TW định hướng: Công chức cấp xã có thể là công chức cấp huyện được điều động về làm việc tại xã. Tăng cường kiêm nhiệm công việc, khoán quỹ phụ cấp để giảm dần số lượng người hoạt động không chuyên trách gắn với việc tăng thu nhập của cán bộ, công chức cấp xã. Từ nhiệm kỳ 2015 - 2020, cán bộ cấp xã hoạt động theo nhiệm kỳ, được hưởng chế độ theo quy định của Nhà nước; hết nhiệm kỳ không được bầu vào chức danh mới, nếu đủ tiêu chuẩn, điều kiện, thì được bố trí công tác khác theo quy định, nếu không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, thì được nghỉ công tác, hưởng chế độ trợ cấp một lần và đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện.

Giảm số người làm việc phải gắn với tinh gọn đầu mối tổ chức, chuẩn hóa và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. Về thể chế, cần rà soát số lượng chức danh cán bộ để điều chỉnh một cách phù hợp. Cần tăng cường kiêm nhiệm tiến tới không còn người hoạt động không chuyên trách ở cơ sở. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh tự quản để tránh hành chính hóa một số hoạt động quản lý mang tính cộng đồng ở cơ sở.

2.3. Về tinh giản biên chế

Số lượng cán bộ, công chức, viên chức (chưa bao gồm những người hoạt động không chuyên trách) có chiều hướng gia tăng những năm gần đây, nhất là viên chức. Tinh giản biên chế sẽ làm tinh gọn bộ máy, giảm nguồn chi từ ngân sách nhà nước cho các khoản lương, phụ cấp và các chi phí khác.

Để giải quyết một cách cơ bản vấn đề này, cần các giải pháp mang tính đồng bộ, hệ thống, khoa học như tinh gọn bộ máy, rà soát đơn vị hành chính, xác định vị trí việc làm, cơ cấu cán bộ, công chức, viên chức, chuyển đổi cơ chế quản lý.

Vừa qua, cơ chế giao, quản lý và sử dụng biên chế đã có những bước đổi mới. Chế độ kiêm nhiệm các chức danh và thí điểm khoán kinh phí hành chính đã được áp dụng để khuyến khích giảm biên chế. Số lượng cấp phó lãnh đạo, quản lý ở các tổ chức cũng được rà soát.

Thực hiện chủ trương không tăng tổng biên chế của cả hệ thống chính trị, một số cơ quan đã tự bố trí biên chế, kể cả trường hợp lập thêm tổ chức hoặc được giao nhiệm vụ mới.

Trong những năm gần đây, số người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp có xu hướng gia tăng làm phát sinh chi phí từ ngân sách nhà nước. Ngoài những nguyên nhân liên quan đến cơ cấu, năng lực, xác định vị trí việc làm, cần tính tới yếu tố ảnh hưởng đến xu hướng nêu trên như: Một số văn bản quy phạm pháp luật xác định chức danh và định mức viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập (văn thư, thủ quỹ, kế toán, y tế trường học, bác sỹ, y tá, nhân viên y tế). Việc chấp hành các quy định này là bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật nhưng trong một số trường hợp, không phù hợp với cơ chế tự chủ của các cơ sở giáo dục, y tế, vượt quá nhu cầu thực tế của đơn vị.

Tinh giản số người làm việc trong đơn vị sự nghiệp là giải pháp ưu tiên và cần gắn với triển khai xã hội hóa, đổi mới tổ chức và hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập.

2.4. Về đơn vị sự nghiệp công lập

Kết luận số 64 - KL/TW nêu: Xã hội hóa dịch vụ công chậm; cần đổi mới mạnh mẽ tổ chức và cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công.

Thời gian qua, đổi mới hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công được tập trung vào thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Theo đó, đơn vị sự nghiệp công được tự chủ trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ, về bộ máy, nhân sự, tài chính. Tổ chức và hoạt động của hội đồng quản lý, mối quan hệ giữa hội đồng quản lý với người đứng đầu đơn vị sự nghiệp đã được xem xét trong quá trình tăng cường tự chủ của các đơn vị sự nghiệp kinh tế, sự nghiệp khác.

Tuy nhiên, tự chủ về nhân sự, tổ chức bộ máy chưa đồng bộ với tự chủ về tài chính. Trên thực tế, cơ quan chủ quản vẫn bổ nhiệm người đứng đầu cũng như các phòng, ban của đơn vị sự nghiệp. Bên cạnh đó, một số quy định pháp luật về quản lý viên chức không những không thúc đẩy mà còn cản trở quyền của đơn vị sự nghiệp trong việc quyết định nhân sự như một đòi hỏi của cơ chế tự chủ. Quyền hạn của đơn vị sự nghiệp công lập cũng như người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập bị ràng buộc bởi các quy định về trình tự, thủ tục trong tuyển dụng, kỷ luật, bổ nhiệm, độ tuổi và xếp lương viên chức. Để đổi mới cơ chế hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập, giảm chi lương viên chức từ ngân sách nhà nước, cần quản lý chặt chẽ việc thành lập mới các đơn vị sự nghiệp công lập, nhất là các đơn vị không tự bảo đảm được kinh phí hoạt động nhưng không thuộc dịch vụ công thiết yếu mà Nhà nước có trách nhiệm tổ chức thực hiện.

Bên cạnh đó, cần kiểm soát việc chuyển người lao động thành viên chức do thay đổi mô hình tổ chức.

Cần xác định định mức, tiêu chuẩn cung ứng dịch vụ công; khuyến khích thành lập các tổ chức cung ứng dịch vụ công thuộc các thành phần ngoài nhà nước cùng với việc thiết lập cơ chế giám sát, kiểm tra của các cơ quan nhà nước và nhân dân đối với hoạt động này.

Trước mắt, cần kiên trì chủ trương tinh giản biên chế. Về lâu dài, cần sửa đổi quy định quản lý viên chức theo hướng xóa bỏ cơ chế “cấp, phân bổ biên chế”, áp dụng chế độ hợp đồng và sát hạch viên chức; cấp ngân sách, kinh phí theo khối lượng và kết quả thực hiện công việc được giao cho đơn vị sự nghiệp công lập.

TS. Hoàng Thị Ngân

ThS. Bùi Công Quang

Văn phòng Chính phủ

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: