Thứ bảy 24/10/2026 14:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hợp đồng mua bán nhà và hợp đồng thế chấp có hợp pháp không?

Ngày 18/12/2001 cụ Võ Thị Quý chết. Sau khi cụ Quý qua đời, bà Huỳnh Thị Thu Hiền là người trực tiếp quản lý, sử dụng nhà và đất số 289 Trần Hưng Đạo, thành phố Q, nhưng bản gốc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất và các tờ di chúc nêu trên do ông Hanh (con cụ Quý, cụ Hải) cất giữ.

1. Nội dung tranh chấp

Cụ Nguyễn Hải (chết ngày 04/12/2002), cụ Võ Thị Quý (chết ngày 18/12/2001) có 09 người con gồm: Nguyễn Thị Hội (chết năm 1984), Nguyễn Văn Hanh, Nguyễn Văn Hoan (chết năm 1972, chưa có vợ con), Nguyễn Thị Ngân Hạnh, Nguyễn Thị Minh Hiệp, Nguyễn Đức Hòa, Nguyễn Văn Hoạt, Nguyễn Thị Kim Hoa và Nguyễn Thị Lệ Hằng. Các con của bà Nguyễn Thị Hội gồm: Huỳnh Thị Thu Hiền, Huỳnh Thị Thanh Hiến, Huỳnh Đăng Dũng, Huỳnh Đăng Tùng, Huỳnh Đăng Thành và Huỳnh Đăng Thọ.

Vợ chồng cụ Nguyễn Hải, Võ Thị Quý tạo lập được khối tài sản là ngôi nhà có diện tích xây dựng 117,69m2 gắn liền với quyền sử dụng đất ở diện tích 190,94m2 tại số 289 Trần Hưng Đạo, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Q, tỉnh B đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất ở vào ngày 30/10/1998 đứng tên cụ Võ Thị Quý. Trước khi qua đời, từ ngày 19/01/1999 đến ngày 06/6/2001 cụ Võ Thị Quý lập 03 tờ di chúc với nội dung khác nhau, cụ thể như sau:

- Ngày 19/01/1999 cụ Quý lập di chúc để lại nhà và đất số 289 Trần Hưng Đạo, thành phố Q cho các con đồng sở hữu. Di chúc này đã được Uỷ ban nhân dân phường Trần Hưng Đạo, thành phố Q chứng thực ngày 16/6/1999.

- Ngày 06/3/2001 cụ Quý lập di chúc thứ 02 với nội dung để lại nhà và đất nêu trên cho cháu ngoại là Huỳnh Thị Thu Hiền thừa kế. Di chúc này đã được công chứng tại Phòng công chứng số 01 tỉnh B.

- Ngày 06/6/2001 cụ Quý lập di chúc thứ 3 với nội dung giao nhà và đất số 289 Trần Hưng Đạo, thành phố Q cho cháu ngoại là Huỳnh Thị Thu Hiền quản lý, dùng làm nơi thờ cúng ông bà, tuyệt đối không được mua bán, cho thuê. Di chúc này đã được công chứng tại Phòng công chứng số 1 tỉnh B.

Ngày 18/12/2001 cụ Võ Thị Quý chết. Sau khi cụ Quý qua đời, bà Huỳnh Thị Thu Hiền là người trực tiếp quản lý, sử dụng nhà và đất số 289 Trần Hưng Đạo, thành phố Q, nhưng bản gốc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất và các tờ di chúc nêu trên do ông Hanh (con cụ Quý, cụ Hải) cất giữ. Năm 2009, bà Hiền làm đơn báo mất giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở đứng tên cụ Quý; đồng thời tự ý làm thủ tục đăng ký kê khai và được Uỷ ban nhân dân thành phố Q cấp chứng nhận quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số H 00405 ngày 11/9/2009 đứng tên bà Huỳnh Thị Thu Hiền.

Ngày 27/9/2011 bà Huỳnh Thị Thu Hiền xác lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho bà Phan Thị Thúy Ái với giá chuyển nhượng là 3.400.000.000 đồng. Hợp đồng này đã được công chứng tại Phòng công chứng số 01 tỉnh B, các bên cũng đã hoàn tất thủ tục chuyển quyền sử dụng đất và sở hữu tài sản trên đất vào ngày 03/10/2011. Nguồn tiền bán ngôi nhà này một phần bà Hiền sử dụng vào việc chữa bệnh, một phần dùng để mua lại ngôi nhà 32 Đặng Trần Côn, thành phố Q, tỉnh B.

Ngày 06/12/2011 vợ chồng bà Phan Thị Thúy Ái, ông Lê Quang Định đến Chi nhánh Ngân hàng (Phòng giao dịch Đống Đa) làm thủ tục xin vay vốn và ký hợp đồng thế chấp số 01/2011/HĐ. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là ngôi nhà số 298 Trần Hưng Đạo, thành phố Q mà trước đây đứng tên Huỳnh Thị Thu Hiền, sau đã chuyển quyền sở hữu cho bà Phan Thị Thúy Ái vào ngày 03/10/2011, đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố Q.

Ngày 19/12/2011 ông Lê Quang Định đã ký hợp đồng tín dụng số 01/2011/HĐ vay của chi nhánh Ngân hàng (Phòng giao dịch Đống Đa) số tiền 300.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, hạn trả nợ gốc là ngày 19/12/2012. Ngày 28/12/2011 ông Lê Quang Định đã ký hợp đồng tín dụng số 02/2011/HĐ vay của chi nhánh Ngân hàng (Phòng giao dịch Đống Đa) số tiền 1.600.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, hạn trả nợ gốc là 28/12/2012. Ngày 08/3/2012 ông Lê Quang Định đã ký hợp đồng tín dụng số 01/2012/HĐ vay của chi nhánh Ngân hàng số tiền 1.100.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, hạn trả nợ gốc là ngày 08/3/2013.

Việc nhận thế chấp tài sản là ngôi nhà 289 Trần Hưng Đạo, thành phố Q của ông Lê Công Định, bà Phan Thị Thúy Ái là hoàn toàn đúng theo quy định của pháp luật và đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố Q để đảm bảo cho việc thu hồi vốn các khoản vay của ông Lê Quang Định. Hiện nay, khoản vay của ông Lê Công Định đã chậm trả lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký, với số tiền 34.500.000 đồng. Do ngôi nhà đã xuống cấp trầm trọng nên sau đó bà Ái, ông Định đã tháo dỡ nhà, hiện chỉ còn lại đất trống.

Ngày 06/4/2012 ông Nguyễn Văn Hanh khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng mua bán nhà giữa bà Huỳnh Thị Thu Hiền với bà Phan Thị Thúy Ái xác lập ngày 27/9/2001. Đồng thời, yêu cầu thay đổi người quản lý di sản thờ cúng đối với di sản là nhà và đất số 289 Trần Hưng Đạo, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Q, tỉnh B.

2. Các quan điểm giải quyết trái ngược nhau

Đây là vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, có nhiều quan điểm, ý kiến khác nhau trong việc áp dụng pháp luật và giải quyết vụ án. Chúng tôi xin nêu ra một số quan điểm để các nhà nghiên cứu pháp luật phân tích đánh giá và có hướng giải quyết.

Quan điểm thứ nhất: Nhà đất tại số 289 Trần Hưng Đạo, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Q, tỉnh B do cụ Nguyễn Hải và cụ Võ Thị Quý tạo lập thuộc quyền sở hữu, sử dụng chung của cụ Hải và cụ Quý. Cụ Hải chết ngày 04/12/2002, cụ Quý chết ngày 18/12/2001 nên di sản thuộc quyền sở hữu chung của các người thừa kế của 2 cụ. Di chúc của cụ Quý lập ngày 06/6/2001 với nội dung giao nhà và đất số 289 Trần Hưng Đạo cho bà Hiền quản lý, dùng làm nơi thờ cúng. Nhưng sau khi cụ Hải, cụ Quý chết, năm 2009 bà Hiền làm thủ tục đăng ký kê khai và được Uỷ ban nhân dân thành phố Q cấp chứng nhận quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày 11/9/2009 đứng tên bà Hiền là không đúng quy định của pháp luật. Ngày 27/9/2011, bà Hiền xác lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho bà Ái là bất hợp pháp. Vì vậy, Tòa án cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hủy hợp đồng mua bán nhà giữa bà Hiền với bà Ái và thay đổi người quản lý di sản thờ cúng của bà Hiền đối với di sản là nhà và đất số 289 Trần Hưng Đạo nêu trên. Xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bà Hiền với bà Ái là vô hiệu. Buộc bà Hiền phải hoàn trả cho bà Ái giá trị hợp đồng là 3.400.000.000 đồng (lấy căn nhà 32 Đặng Trần Côn, thành phố Q của bà Hiền mua đứng tên đảm bảo thi hành án). Nếu Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam có yêu cầu độc lập về xử lý hợp đồng thế chấp giữa vợ chồng bà Ái, ông Định với Ngân hàng thì buộc bà Ái giải chấp cho Ngân hàng số tiền 34.500.000 đồng (theo số tiền mà bà Hiền hoàn trả cho bà Ái).

Quan điểm thứ hai: Bà Hiền được Ủy ban nhân dân thành phố Q cấp chứng nhận quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày 11/9/2009. Vì bà Ái là người thứ ba ngay tình nên cần công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bà Hiền với bà Ái và hợp đồng thế chấp giữa vợ chồng bà Ái, ông Định với Ngân hàng là hợp pháp. Bà Ái thực hiện việc giải chấp với Ngân hàng nhà số 289 Trần Hưng Đạo. Vì di sản thờ cúng không còn, nhà số 289 Trần Hưng Đạo đã phá dỡ. Các đương sự là người thừa kế của cụ Hải, cụ Quý đều định cư ở Mỹ. Bà Hiền có nghĩa vụ giao cho các thừa kế căn nhà 32 Đặng Trần Côn, thành phố Q.

3. Bình luận về vụ án

Nhà đất tại số 289 Trần Hưng Đạo, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Q, tỉnh B do cụ Nguyễn Hải và cụ Võ Thị Quý tạo lập thuộc quyền sở hữu, sử dụng chung của cụ Hải và cụ Quý. Cụ Hải chết ngày 04/12/2002, cụ Quý chết ngày 18/12/2001, nên di sản thuộc quyền sở hữu chung của các người thừa kế của 2 cụ. Di chúc của cụ Quý lập ngày 06/6/2001 với nội dung giao nhà và đất số 289 Trần Hưng Đạo cho bà Hiền quản lý, dùng làm nơi thờ cúng, di chúc này chỉ hợp pháp đối với phần di sản của cụ Quý là ½ nhà đất tại số 289 Trần Hưng Đạo nêu trên. Sau khi cụ Hải, cụ Quý chết, các thừa kế của cụ Hải, cụ Quý đều định cư ở nước ngoài, nên thực tế nhà đất vẫn do bà Hiền quản lý, sử dụng. Năm 2009 bà Hiền làm thủ tục đăng ký kê khai và được Uỷ ban nhân dân thành phố Q cấp chứng nhận quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày 11/9/2009 đứng tên bà Hiền là không đúng quy định của pháp luật. Ngày 27/9/2011, bà Hiền xác lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho bà Ái. Song bà Ái là người thứ ba ngay tình, nên cần công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bà Hiền với bà Ái và hợp đồng thế chấp giữa vợ chồng bà Ái, ông Định với Ngân hàng là hợp pháp. Bà Ái thực hiện việc giải chấp với Ngân hàng nhà số 289 Trần Hưng Đạo. Vì di sản thờ cúng không còn, nhà số 289 Trần Hưng Đạo đã phá dỡ. Các đương sự là người thừa kế của cụ Hải, cụ Quý đều định cư ở Mỹ. Bà Hiền có nghĩa vụ giao cho các thừa kế giá trị nhà đất tại số 289 Trần Hưng Đạo (lấy căn nhà 32 Đặng Trần Côn, thành phố Q để đảm bảo thi hành án).

Trên đây là quan điểm riêng của chúng tôi về việc giải quyết vụ án. Vụ án này có tính chất phức tạp, cần được thảo luận nhiều hơn để làm sáng tỏ vấn đề

Nguyễn Thị Triển

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: