Thứ năm 22/01/2026 10:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hợp đồng mua bán nhà và hợp đồng thế chấp có hợp pháp không?

Ngày 18/12/2001 cụ Võ Thị Quý chết. Sau khi cụ Quý qua đời, bà Huỳnh Thị Thu Hiền là người trực tiếp quản lý, sử dụng nhà và đất số 289 Trần Hưng Đạo, thành phố Q, nhưng bản gốc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất và các tờ di chúc nêu trên do ông Hanh (con cụ Quý, cụ Hải) cất giữ.

1. Nội dung tranh chấp

Cụ Nguyễn Hải (chết ngày 04/12/2002), cụ Võ Thị Quý (chết ngày 18/12/2001) có 09 người con gồm: Nguyễn Thị Hội (chết năm 1984), Nguyễn Văn Hanh, Nguyễn Văn Hoan (chết năm 1972, chưa có vợ con), Nguyễn Thị Ngân Hạnh, Nguyễn Thị Minh Hiệp, Nguyễn Đức Hòa, Nguyễn Văn Hoạt, Nguyễn Thị Kim Hoa và Nguyễn Thị Lệ Hằng. Các con của bà Nguyễn Thị Hội gồm: Huỳnh Thị Thu Hiền, Huỳnh Thị Thanh Hiến, Huỳnh Đăng Dũng, Huỳnh Đăng Tùng, Huỳnh Đăng Thành và Huỳnh Đăng Thọ.

Vợ chồng cụ Nguyễn Hải, Võ Thị Quý tạo lập được khối tài sản là ngôi nhà có diện tích xây dựng 117,69m2 gắn liền với quyền sử dụng đất ở diện tích 190,94m2 tại số 289 Trần Hưng Đạo, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Q, tỉnh B đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất ở vào ngày 30/10/1998 đứng tên cụ Võ Thị Quý. Trước khi qua đời, từ ngày 19/01/1999 đến ngày 06/6/2001 cụ Võ Thị Quý lập 03 tờ di chúc với nội dung khác nhau, cụ thể như sau:

- Ngày 19/01/1999 cụ Quý lập di chúc để lại nhà và đất số 289 Trần Hưng Đạo, thành phố Q cho các con đồng sở hữu. Di chúc này đã được Uỷ ban nhân dân phường Trần Hưng Đạo, thành phố Q chứng thực ngày 16/6/1999.

- Ngày 06/3/2001 cụ Quý lập di chúc thứ 02 với nội dung để lại nhà và đất nêu trên cho cháu ngoại là Huỳnh Thị Thu Hiền thừa kế. Di chúc này đã được công chứng tại Phòng công chứng số 01 tỉnh B.

- Ngày 06/6/2001 cụ Quý lập di chúc thứ 3 với nội dung giao nhà và đất số 289 Trần Hưng Đạo, thành phố Q cho cháu ngoại là Huỳnh Thị Thu Hiền quản lý, dùng làm nơi thờ cúng ông bà, tuyệt đối không được mua bán, cho thuê. Di chúc này đã được công chứng tại Phòng công chứng số 1 tỉnh B.

Ngày 18/12/2001 cụ Võ Thị Quý chết. Sau khi cụ Quý qua đời, bà Huỳnh Thị Thu Hiền là người trực tiếp quản lý, sử dụng nhà và đất số 289 Trần Hưng Đạo, thành phố Q, nhưng bản gốc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất và các tờ di chúc nêu trên do ông Hanh (con cụ Quý, cụ Hải) cất giữ. Năm 2009, bà Hiền làm đơn báo mất giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở đứng tên cụ Quý; đồng thời tự ý làm thủ tục đăng ký kê khai và được Uỷ ban nhân dân thành phố Q cấp chứng nhận quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số H 00405 ngày 11/9/2009 đứng tên bà Huỳnh Thị Thu Hiền.

Ngày 27/9/2011 bà Huỳnh Thị Thu Hiền xác lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho bà Phan Thị Thúy Ái với giá chuyển nhượng là 3.400.000.000 đồng. Hợp đồng này đã được công chứng tại Phòng công chứng số 01 tỉnh B, các bên cũng đã hoàn tất thủ tục chuyển quyền sử dụng đất và sở hữu tài sản trên đất vào ngày 03/10/2011. Nguồn tiền bán ngôi nhà này một phần bà Hiền sử dụng vào việc chữa bệnh, một phần dùng để mua lại ngôi nhà 32 Đặng Trần Côn, thành phố Q, tỉnh B.

Ngày 06/12/2011 vợ chồng bà Phan Thị Thúy Ái, ông Lê Quang Định đến Chi nhánh Ngân hàng (Phòng giao dịch Đống Đa) làm thủ tục xin vay vốn và ký hợp đồng thế chấp số 01/2011/HĐ. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là ngôi nhà số 298 Trần Hưng Đạo, thành phố Q mà trước đây đứng tên Huỳnh Thị Thu Hiền, sau đã chuyển quyền sở hữu cho bà Phan Thị Thúy Ái vào ngày 03/10/2011, đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố Q.

Ngày 19/12/2011 ông Lê Quang Định đã ký hợp đồng tín dụng số 01/2011/HĐ vay của chi nhánh Ngân hàng (Phòng giao dịch Đống Đa) số tiền 300.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, hạn trả nợ gốc là ngày 19/12/2012. Ngày 28/12/2011 ông Lê Quang Định đã ký hợp đồng tín dụng số 02/2011/HĐ vay của chi nhánh Ngân hàng (Phòng giao dịch Đống Đa) số tiền 1.600.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, hạn trả nợ gốc là 28/12/2012. Ngày 08/3/2012 ông Lê Quang Định đã ký hợp đồng tín dụng số 01/2012/HĐ vay của chi nhánh Ngân hàng số tiền 1.100.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, hạn trả nợ gốc là ngày 08/3/2013.

Việc nhận thế chấp tài sản là ngôi nhà 289 Trần Hưng Đạo, thành phố Q của ông Lê Công Định, bà Phan Thị Thúy Ái là hoàn toàn đúng theo quy định của pháp luật và đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố Q để đảm bảo cho việc thu hồi vốn các khoản vay của ông Lê Quang Định. Hiện nay, khoản vay của ông Lê Công Định đã chậm trả lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký, với số tiền 34.500.000 đồng. Do ngôi nhà đã xuống cấp trầm trọng nên sau đó bà Ái, ông Định đã tháo dỡ nhà, hiện chỉ còn lại đất trống.

Ngày 06/4/2012 ông Nguyễn Văn Hanh khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng mua bán nhà giữa bà Huỳnh Thị Thu Hiền với bà Phan Thị Thúy Ái xác lập ngày 27/9/2001. Đồng thời, yêu cầu thay đổi người quản lý di sản thờ cúng đối với di sản là nhà và đất số 289 Trần Hưng Đạo, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Q, tỉnh B.

2. Các quan điểm giải quyết trái ngược nhau

Đây là vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, có nhiều quan điểm, ý kiến khác nhau trong việc áp dụng pháp luật và giải quyết vụ án. Chúng tôi xin nêu ra một số quan điểm để các nhà nghiên cứu pháp luật phân tích đánh giá và có hướng giải quyết.

Quan điểm thứ nhất: Nhà đất tại số 289 Trần Hưng Đạo, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Q, tỉnh B do cụ Nguyễn Hải và cụ Võ Thị Quý tạo lập thuộc quyền sở hữu, sử dụng chung của cụ Hải và cụ Quý. Cụ Hải chết ngày 04/12/2002, cụ Quý chết ngày 18/12/2001 nên di sản thuộc quyền sở hữu chung của các người thừa kế của 2 cụ. Di chúc của cụ Quý lập ngày 06/6/2001 với nội dung giao nhà và đất số 289 Trần Hưng Đạo cho bà Hiền quản lý, dùng làm nơi thờ cúng. Nhưng sau khi cụ Hải, cụ Quý chết, năm 2009 bà Hiền làm thủ tục đăng ký kê khai và được Uỷ ban nhân dân thành phố Q cấp chứng nhận quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày 11/9/2009 đứng tên bà Hiền là không đúng quy định của pháp luật. Ngày 27/9/2011, bà Hiền xác lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho bà Ái là bất hợp pháp. Vì vậy, Tòa án cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hủy hợp đồng mua bán nhà giữa bà Hiền với bà Ái và thay đổi người quản lý di sản thờ cúng của bà Hiền đối với di sản là nhà và đất số 289 Trần Hưng Đạo nêu trên. Xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bà Hiền với bà Ái là vô hiệu. Buộc bà Hiền phải hoàn trả cho bà Ái giá trị hợp đồng là 3.400.000.000 đồng (lấy căn nhà 32 Đặng Trần Côn, thành phố Q của bà Hiền mua đứng tên đảm bảo thi hành án). Nếu Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam có yêu cầu độc lập về xử lý hợp đồng thế chấp giữa vợ chồng bà Ái, ông Định với Ngân hàng thì buộc bà Ái giải chấp cho Ngân hàng số tiền 34.500.000 đồng (theo số tiền mà bà Hiền hoàn trả cho bà Ái).

Quan điểm thứ hai: Bà Hiền được Ủy ban nhân dân thành phố Q cấp chứng nhận quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày 11/9/2009. Vì bà Ái là người thứ ba ngay tình nên cần công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bà Hiền với bà Ái và hợp đồng thế chấp giữa vợ chồng bà Ái, ông Định với Ngân hàng là hợp pháp. Bà Ái thực hiện việc giải chấp với Ngân hàng nhà số 289 Trần Hưng Đạo. Vì di sản thờ cúng không còn, nhà số 289 Trần Hưng Đạo đã phá dỡ. Các đương sự là người thừa kế của cụ Hải, cụ Quý đều định cư ở Mỹ. Bà Hiền có nghĩa vụ giao cho các thừa kế căn nhà 32 Đặng Trần Côn, thành phố Q.

3. Bình luận về vụ án

Nhà đất tại số 289 Trần Hưng Đạo, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Q, tỉnh B do cụ Nguyễn Hải và cụ Võ Thị Quý tạo lập thuộc quyền sở hữu, sử dụng chung của cụ Hải và cụ Quý. Cụ Hải chết ngày 04/12/2002, cụ Quý chết ngày 18/12/2001, nên di sản thuộc quyền sở hữu chung của các người thừa kế của 2 cụ. Di chúc của cụ Quý lập ngày 06/6/2001 với nội dung giao nhà và đất số 289 Trần Hưng Đạo cho bà Hiền quản lý, dùng làm nơi thờ cúng, di chúc này chỉ hợp pháp đối với phần di sản của cụ Quý là ½ nhà đất tại số 289 Trần Hưng Đạo nêu trên. Sau khi cụ Hải, cụ Quý chết, các thừa kế của cụ Hải, cụ Quý đều định cư ở nước ngoài, nên thực tế nhà đất vẫn do bà Hiền quản lý, sử dụng. Năm 2009 bà Hiền làm thủ tục đăng ký kê khai và được Uỷ ban nhân dân thành phố Q cấp chứng nhận quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày 11/9/2009 đứng tên bà Hiền là không đúng quy định của pháp luật. Ngày 27/9/2011, bà Hiền xác lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho bà Ái. Song bà Ái là người thứ ba ngay tình, nên cần công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bà Hiền với bà Ái và hợp đồng thế chấp giữa vợ chồng bà Ái, ông Định với Ngân hàng là hợp pháp. Bà Ái thực hiện việc giải chấp với Ngân hàng nhà số 289 Trần Hưng Đạo. Vì di sản thờ cúng không còn, nhà số 289 Trần Hưng Đạo đã phá dỡ. Các đương sự là người thừa kế của cụ Hải, cụ Quý đều định cư ở Mỹ. Bà Hiền có nghĩa vụ giao cho các thừa kế giá trị nhà đất tại số 289 Trần Hưng Đạo (lấy căn nhà 32 Đặng Trần Côn, thành phố Q để đảm bảo thi hành án).

Trên đây là quan điểm riêng của chúng tôi về việc giải quyết vụ án. Vụ án này có tính chất phức tạp, cần được thảo luận nhiều hơn để làm sáng tỏ vấn đề

Nguyễn Thị Triển

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: