Thứ tư 11/03/2026 05:42
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hủy phán quyết trọng tài thương mại theo pháp luật Việt Nam và một số kiến nghị

Phán quyết trọng tài là quyết định cuối cùng của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung tranh chấp được nêu trong đơn kiện, làm chấm dứt tố tụng trọng tài và có giá trị chung thẩm ràng buộc đối với các bên. Những năm gần đây, phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại ngày càng được cộng đồng doanh nghiệp ở Việt Nam lựa chọn. Tuy nhiên, việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đang phải đối mặt với nguy cơ là phán quyết trọng tài bị hủy. Đây cũng là nỗi lo thường trực của các doanh nghiệp khi lựa chọn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.


Trong bài viết này, tác giả Vũ Hoàng đã đi sâu phân tích thực trạng hủy phán quyết trọng tài thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay, từ đó đưa ra các đề xuất nhằm hoàn thiện thể chế pháp luật về hủy phán quyết trọng tài thương mại ở Việt Nam, cụ thể: (i) Hoàn thiện pháp luật về hủy phán quyết của trọng tài thương mại; (ii) Việc áp dụng các căn cứ hủy phán quyết trọng tài phải gắn với việc áp dụng quy định tại Điều 13, khoản 4 Điều 63, khoản 7 Điều 71 Luật Trọng tài thương mại; (iii) Loại bỏ trường hợp các bên tranh chấp lợi dụng tính không minh bạch của các căn cứ hủy phán quyết trọng tài để đưa ra yêu cầu hủy phán quyết.

1. Thực trạng hủy phán quyết trọng tài thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay

Phán quyết trọng tài là quyết định cuối cùng của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung tranh chấp được nêu trong đơn kiện, làm chấm dứt tố tụng trọng tài và có giá trị chung thẩm ràng buộc đối với các bên. Theo thông lệ quốc tế, hủy phán quyết trọng tài là một thủ tục pháp lý do Tòa án thực hiện nhằm xem xét lại phán quyết trọng tài được ban hành có tuân thủ đầy đủ các quy định về trình tự, thủ tục xét xử của trọng tài thương mại theo luật định. Một trong các bên tranh chấp được quyền yêu cầu Tòa án xem xét lại phán quyết trọng tài nếu có đủ căn cứ chứng minh rằng, Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết thuộc một trong những trường hợp bị hủy theo quy định của pháp luật. Việc hủy phán quyết trọng tài cũng phải tuân theo trình tự và thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định.

Ở Việt Nam, quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài được quy định tại Điều 69 Luật Trọng tài thương mại năm 2010, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được phán quyết trọng tài, nếu một bên có đủ căn cứ để chứng minh được Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết thuộc một trong những trường hợp có thể hủy phán quyết trọng tài thì có thể làm đơn gửi Tòa án có thẩm quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài. Đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài phải kèm theo các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu hủy phán quyết trọng tài là có căn cứ và hợp pháp. Theo Điều 70 Luật Trọng tài thương mại, đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài phải có các nội dung và tài liệu kèm theo đơn như: (a) Bản chính hoặc bản sao phán quyết trọng tài đã được chứng thực hợp lệ; (b) Bản chính hoặc bản sao thỏa thuận trọng tài đã được chứng thực hợp lệ.

Luật Trọng tài thương mại năm 2010 cũng phân chia nghĩa vụ chứng minh về căn cứ hủy thành hai trường hợp: (i) Đối với các căn cứ tại khoản a, b, c và d khoản 2 Điều 68, bên yêu cầu hủy có nghĩa vụ chủ động xác minh thu thập chứng cứ để quyết định hủy hay không hủy phán quyết trọng tài; (ii) Đối với các căn cứ tại khoản đ khoản 2 Điều 68, Tòa án có trách nhiệm chủ động xác minh thu thập chứng cứ để quyết định hủy hay không hủy phán quyết trọng tài. Các tài liệu, chứng cứ phải gửi kèm theo đơn yêu cầu được quy định chi tiết tại Ðiều 70 Luật Trọng tài thương mại năm 2010.

Phán quyết trọng tài sẽ bị hủy nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (i) Không có thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu; (ii) Thành phần Hội đồng trọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài không phù hợp với thỏa thuận của các bên hoặc trái với các quy định của Luật Trọng tài thương mại; (iii) Vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; trường hợp phán quyết trọng tài có nội dung không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài thì nội dung đó bị hủy; (iv) Chứng cứ do các bên cung cấp mà Hội đồng trọng tài căn cứ vào đó để ra phán quyết là giả mạo; Trọng tài viên nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất của một bên tranh chấp làm ảnh hưởng đến tính khách quan, công bằng của phán quyết trọng tài; (v) Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

Tính đến hết tháng 01/2019, toàn quốc hiện có 23 Trung tâm trọng tài thương mại với số trọng tài viên là trên 460 người và được phân bố không đồng đều tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Đắk Lắk. Số vụ việc tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài thương mại có xu hướng tăng lên (khoảng gần 500 vụ/năm 2018) nhưng vẫn ở mức khiêm tốn so với nhu cầu thực tiễn, chiếm chưa đến 1% trên tổng số vụ tranh chấp thương mại được Tòa án thụ lý, xét xử hàng năm. Trong khi đó, những năm gần đây, tranh chấp quốc tế đang có xu hướng giảm, ngược lại tranh chấp trong nước hiện chiếm khoảng 70% và có xu hướng gia tăng, nhất là ở các doanh nghiệp FDI[1].

Mặc dù trọng tài thương mại là một phương thức giải quyết tranh chấp nhanh gọn có nhiều ưu điểm, song không ít ý kiến cho rằng, họ e ngại việc phán quyết của trọng tài bị Tòa án hủy. Theo ông Vũ Ánh Dương, Tổng thư ký Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) cho biết, từ năm 2003 đến năm 2011, trong số 26 vụ yêu cầu Tòa án hủy phán quyết trọng tài, thì chỉ có 9 phán quyết bị hủy, chiếm 34,6% tổng số vụ tranh chấp yêu cầu hủy. Từ năm 2011 đến năm 2014, sau khi Luật Trọng tài thương mại năm 2010 có hiệu lực, có 20 yêu cầu hủy phán quyết trọng tài của VIAC thì có đến 10 phán quyết được Tòa án chấp nhận hủy, chiếm 50% trong tổng số vụ tranh chấp yêu cầu Tòa án hủy[2]. Thông tin cụ thể hơn về số vụ việc phán quyết trọng tài bị hủy tại Hà Nội, ông Nguyễn Đình Tiến - Phó Chánh Tòa kinh tế, Tòa án nhân dân TP. Hà Nội cho biết: Năm 2015, cơ quan này đã thụ lý 07 vụ; năm 2016 là 11 vụ; năm 2017 với 14 vụ; riêng 6 tháng đầu năm 2018 thụ lý 5 vụ. Trong đó, yêu cầu về khiếu nại thẩm quyền của Hội đồng trọng tài là 04 vụ việc, yêu cầu hủy phán quyết là 26 vụ và công nhận cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài là 07 vụ[3].

Việc số lượng phán quyết trọng tài bị Tòa án tuyên hủy có xu hướng tăng khiến cho không chỉ cộng đồng doanh nghiệp hoang mang, mà ngay chính các trọng tài viên cũng “đứng ngồi không yên”. Do tình trạng số lượng phán quyết trọng tài bị hủy cao, khiến các trọng tài viên lo lắng việc “xử mà không biết phán quyết có bị hủy hay không”. Đây là thực trạng cần khắc phục, vì bản chất Luật Trọng tài thương mại năm 2010 là tạo hành lang pháp lý cho phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài phát triển, nhưng thực tế thì đang đi ngược lại do số phán quyết trọng tài bị tuyên hủy, thậm chí còn nhiều hơn so với giai đoạn trước.

2. Hoàn thiện thể chế pháp luật về hủy phán quyết trọng tài thương mại ở Việt Nam

Qua thực tiễn thực hiện cho thấy, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 đã bộc lộ những bất cập gây ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động và uy tín của phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại. Cụ thể: (i) Phạm vi điều chỉnh của Luật chưa được thể hiện rõ ràng, nhất quán, tạo ra những khó khăn, vướng mắc khi xác định thẩm quyền của Trọng tài; (ii) Trên thực tế, số vụ việc hòa giải thành công khá cao, tạo ảnh hưởng tích cực trong hoạt động thương mại, tuy nhiên, các quy định về hòa giải, thỏa thuận trọng tài trong Luật còn quá sơ sài. Các trung tâm trọng tài hiện nay phần lớn vẫn chưa có quy tắc hòa giải riêng, việc hòa giải đơn thuần dựa trên kinh nghiệm và kỹ năng của trọng tài viên. Bên cạnh đó, quy định cụ thể về nội dung của thỏa thuận trọng tài cũng chưa được làm rõ. Qua các trường hợp hủy phán quyết trọng tài cho thấy, nhiều phán quyết bị hủy do nội dung thỏa thuận không rõ ràng; (iii) Luật Trọng tài thương mại năm 2010 cũng không quy định về thời hạn giải quyết vụ tranh chấp (thời gian từ khi hội đồng trọng tài được thành lập đến khi ra phán quyết trọng tài); không quy định rõ ràng về biện pháp khẩn cấp tạm thời; về nội dung trong kết quả giải quyết tranh chấp của Trọng tài... Bởi vậy, cần quan tâm hoàn thiện thể chế pháp luật nhằm tạo hành lang pháp lý thúc đẩy phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại phát triển mạnh mẽ, hạn chế tình trạng tùy tiện trong áp dụng pháp luật để hủy phán quyết của trọng tài thương mại, theo đó:

Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật về hủy phán quyết của trọng tài thương mại

Cần có quy định rõ về phạm vi điều chỉnh, điều này sẽ tạo điều kiện tốt cho các chủ thể liên quan và các bên tham gia tranh chấp xác định đúng về thẩm quyền của trọng tài thương mại. Trong thủ tục tố tụng, cần xác định chỉ khi các bên hòa giải không thành công, Hội đồng trọng tài mới đưa vụ tranh chấp ra giải quyết. Bổ sung quy định về nội dung thỏa thuận trọng tài, như các quy định về quyền hạn, nghĩa vụ, về chi phí, lệ phí trọng tài, ngôn ngữ, quy phạm văn bản, quy tắc tố tụng, cam kết thực hiện phán quyết trọng tài…

Về thời gian tiến hành tố tụng trọng tài, cẩn bổ sung thêm quy định thời gian giải quyết tranh chấp từ khi Hội đồng trọng tài được thành lập cho đến khi ra phán quyết trọng tài. Nhằm tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho Hội đồng trọng tài thực hiện biện pháp khẩn cấp thạm thời mà không gây ảnh hưởng xấu đến quyền lợi các bên, cần có quy định cụ thể về những hành vì nào thì được coi là bất lợi đối với quá trình tố tụng trọng tài.

Thứ hai, việc áp dụng các căn cứ hủy phán quyết trọng tài phải gắn với việc áp dụng quy định tại Điều 13, khoản 4 Điều 63, khoản 7 Điều 71 Luật Trọng tài thương mại

Khi áp dụng các căn cứ hủy phán quyết trọng tài được quy định tại khoản 2 Điều 68 Luật Trọng tài thương mại, thì phải hiểu sâu sắc rằng, tố tụng trọng tài có rất nhiều điểm khác biệt với tố tụng dân sự tại Tòa án. Nếu không nắm vững tính đặc thù đó, rất dễ xét xử lại vụ tranh chấp hoặc có những trường hợp vi phạm Luật Trọng tài thương mại, vi phạm thỏa thuận trọng tài…, nhưng vi phạm đó không còn là căn cứ để hủy phán quyết. Ví dụ như, việc đã mất quyền phản đối được quy định tại Điều 13 Luật Trọng tài thương mại.

Trong nhiều trường hợp, tố tụng trọng tài là do đương sự lựa chọn hoặc do các bên thỏa thuận. Mối quan hệ giữa Hội đồng trọng tài và các bên trong tranh chấp (quyền và nghĩa vụ của Hội đồng trọng tài và các bên trong một vụ việc cụ thể có thể là mối quan hệ hợp đồng). Do đó, các bên có thể tự do thỏa thuận bằng văn bản (thỏa thuận trọng tài, quy tắc trọng tài hay thỏa thuận riêng của các bên...) hoặc bằng hành vi cụ thể (biết nhưng im lặng và không phản đối) đối với tất cả các quyền và nghĩa vụ đó trong giới hạn pháp luật áp dụng cho phép. Vì vậy, biết vi phạm mà không phản đối trong thời hạn thì được coi là các bên đã lựa chọn, đã đồng ý về thành phần, về tố tụng, về thẩm quyền… của trọng tài. Nó khác hẳn với tố tụng dân sự là tố tụng luật định. Về xử lý sai sót của phán quyết, giữa tố tụng dân sự và tố tụng trọng tài cũng rất khác nhau. Trong tố tụng dân sự, nếu thẩm phán, Hội đồng xét xử đã công bố, đã phát hành phán quyết, dù thẩm phán, Hội đồng xét xử tự phát hiện ra sai sót hoặc thông qua khiếu nại, kháng cáo của đương sự, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân, thì thẩm phán, Hội đồng xét xử không tự mình sửa chữa sai sót đó, trừ trường hợp sai sót về lỗi chính tả, tính nhầm. Tùy theo phán quyết đó đã có hiệu lực pháp luật hay chưa có hiệu lực pháp luật, việc sửa chữa sai sót đó sẽ do Tòa án ở cấp cao hơn thực hiện theo trình tự phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm.

Trong tố tụng trọng tài, phán quyết trọng tài là chung thẩm, có hiệu lực kể từ ngày ban hành, không có trình tự xét xử phúc thẩm và không có trình tự giám đốc thẩm. Tuy nhiên, khoản 4 Điều 63 Luật Trọng tài thương mại quy định: “Trường hợp các bên không có thỏa thuận khác, trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được phán quyết, một bên có thể yêu cầu Hội đồng trọng tài ra phán quyết bổ sung đối với những yêu cầu được trình bày trong quá trình tố tụng nhưng không được ghi trong phán quyết và phải thông báo ngay cho bên kia biết. Nếu Hội đồng trọng tài cho rằng yêu cầu này là chính đáng, thì ra phán quyết bổ sung trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu”[4]. Thậm chí, khi Tòa đã thụ lý đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài của đương sự, nhưng theo quy định tại khoản 7 Điều 71 Luật Trọng tài thương mại thì: “Theo yêu cầu của một bên và xét thấy phù hợp, Hội đồng xét đơn yêu cầu có thể tạm đình chỉ việc xem xét giải quyết đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài trong thời hạn không quá 60 ngày để tạo điều kiện cho Hội đồng trọng tài khắc phục sai sót tố tụng trọng tài theo quan điểm của Hội đồng trọng tài nhằm loại bỏ căn cứ hủy bỏ phán quyết trọng tài. Hội đồng trọng tài phải thông báo cho Tòa án biết về việc khắc phục sai sót tố tụng. Trường hợp Hội đồng trọng tài không tiến hành khắc phục sai sót tố tụng thì Hội đồng tiếp tục xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài”[5].

Có thể thấy, sợi chỉ đỏ xuyên suốt Luật Trọng tài thương mại là ý chí của các bên có vai trò rất lớn trong hoạt động của trọng tài; các bên đương sự là người kiến tạo nên thẩm quyền trọng tài (Điều 5), các bên có quyền quyết định chọn địa điểm giải quyết tranh chấp (Điều 11); đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài luật áp dụng cũng do các bên lựa chọn (Điều 14), thành phần Hội đồng trọng tài (Điều 39), hình thức trọng tài (khoản 5 Điều 43), thành phần phiên họp, trình tự, thủ tục tiến hành phiên họp đối với trọng tài vụ việc cũng do các bên thỏa thuận (Điều 55)… Điều này cho thấy, trong tố tụng trọng tài, ý chí của các bên tranh chấp có vai trò chi phối, quyết định rất lớn. Do đó, khi một trong các bên phát hiện vi phạm của trọng tài mà không phản đối, được coi là các bên đã lựa chọn hoạt động đó. Mặt khác, mất quyền phản đối còn có ý nghĩa ngăn chặn sự lợi dụng kéo dài vụ kiện, đồng thời, còn đảm bảo nguyên tắc thiện chí trong giải quyết tranh chấp. Đặc biệt, trong trường hợp một bên đã biết có vi phạm nhưng không phản đối, chỉ đến khi bị thua kiện tại trọng tài, không muốn bị ràng buộc bởi phán quyết trọng tài mới đưa ra căn cứ đó tại Tòa án. Vì vậy, điều rất đáng lưu ý đối với các thẩm phán, các Tòa án là trước khi xem xét yêu cầu của một hoặc các bên về việc có vi phạm quy định Luật Trọng tài thương mại hoặc thỏa thuận trọng tài, Tòa án phải kiểm tra các tài liệu, chứng cứ, quy tắc tố tụng trọng tài để xác định đối với yêu cầu đó, một hoặc các bên có mất quyền phản đối hay không mất quyền phản đối. Trường hợp quy định tại Điều 13 Luật Trọng tài thương mại, Tòa án xác định vi phạm đã mất quyền phản đối thì bên đã mất quyền phản đối đó sẽ không được quyền khiếu nại quyết định của Hội đồng trọng tài hay yêu cầu hủy phán quyết trọng tài đối với những vi phạm đã mất quyền phản đối đó. Tòa án không được căn cứ vào các vi phạm mà một hoặc các bên đã mất quyền phản đối để chấp nhận yêu cầu hủy phán quyết trọng tài của bên yêu cầu. Tuy nhiên, mất quyền phản đối chỉ áp dụng cho các bên đương sự trong vụ kiện, chứ không thể áp dụng cho những trường hợp phán quyết trọng tài xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của dân tộc, lợi ích quốc gia, lợi ích công, trật tự công… Vì vậy, khi giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, Tòa án có trách nhiệm xem xét theo quy định tại điểm đ khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 68 Luật Trọng tài thương mại. Trường hợp xét thấy có đủ căn cứ để khẳng định phán quyết trọng tài đã xâm phạm lợi ích công, trật tự công, lợi ích của Nhà nước và đạo đức xã hội… thì Tòa án có quyền quyết định hủy phán quyết trọng tài ngay cả khi một hoặc các bên đã mất quyền phản đối.

Thứ ba, loại bỏ trường hợp các bên tranh chấp lợi dụng tính không minh bạch của các căn cứ hủy phán quyết trọng tài để đưa ra yêu cầu hủy phán quyết

Trường hợp “phán quyết trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”, Nghị quyết 01/2014/NQ- HĐTP Tòa án nhân dân tối cao đã đưa ra phạm vi căn cứ là những nguyên tắc liên quan đến việc giải quyết tranh chấp của trọng tài, như các bên đã thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng trọng tài; thỏa thuận đó không trái pháp luật, không vi phạm đạo đức, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ, nhưng Hội đồng trọng tài không chấp nhận; Hội đồng trọng tài đã vi phạm một nguyên tắc quan trọng của tố tụng trọng tài. Chỉ trong những trường hợp này mới coi là phán quyết trọng tài vi phạm nguyên tắc tự do, tự nguyện thỏa thuận, định đoạt. Đây là nguyên tắc tồn tại trong rất nhiều luật nội dung và luật hình thức, một nguyên tắc mang tính phổ quát.

ThS. Vũ Hoàng

Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam



[1]. http://bttp.moj.gov.vn/qt/Pages/trong-tai-tm.aspx.

[2]. https://lawnet.thukyluat.vn/posts/t2107-thuc-trang-huy-phan-quyet-cua-trong-tai-thuong-mai-hien-nay.

[3]. http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/xa-hoi/2018-06-07/so-vu-giai-quyet-qua-trong-tai-van-chua-tao-duoc-nhieu-ky-vong-58411.aspx.

[4]. Tưởng Duy Lượng (2015), Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Tòa án và việc phân biệt thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa Trọng tài và Tòa án theo quy định của Luật Trọng tài thương mại và Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tạp chí Tòa án nhân dân số 16.

[5]. Tưởng Duy Lượng (2015), Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Tòa án và việc phân biệt thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa Trọng tài và Tòa án theo quy định của Luật Trọng tài thương mại và Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tạp chí Tòa án nhân dân số 16.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.

Theo dõi chúng tôi trên: