Thứ ba 18/08/2026 09:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hủy phán quyết trọng tài thương mại theo pháp luật Việt Nam và một số kiến nghị

Phán quyết trọng tài là quyết định cuối cùng của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung tranh chấp được nêu trong đơn kiện, làm chấm dứt tố tụng trọng tài và có giá trị chung thẩm ràng buộc đối với các bên. Những năm gần đây, phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại ngày càng được cộng đồng doanh nghiệp ở Việt Nam lựa chọn. Tuy nhiên, việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đang phải đối mặt với nguy cơ là phán quyết trọng tài bị hủy. Đây cũng là nỗi lo thường trực của các doanh nghiệp khi lựa chọn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.


Trong bài viết này, tác giả Vũ Hoàng đã đi sâu phân tích thực trạng hủy phán quyết trọng tài thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay, từ đó đưa ra các đề xuất nhằm hoàn thiện thể chế pháp luật về hủy phán quyết trọng tài thương mại ở Việt Nam, cụ thể: (i) Hoàn thiện pháp luật về hủy phán quyết của trọng tài thương mại; (ii) Việc áp dụng các căn cứ hủy phán quyết trọng tài phải gắn với việc áp dụng quy định tại Điều 13, khoản 4 Điều 63, khoản 7 Điều 71 Luật Trọng tài thương mại; (iii) Loại bỏ trường hợp các bên tranh chấp lợi dụng tính không minh bạch của các căn cứ hủy phán quyết trọng tài để đưa ra yêu cầu hủy phán quyết.

1. Thực trạng hủy phán quyết trọng tài thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay

Phán quyết trọng tài là quyết định cuối cùng của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung tranh chấp được nêu trong đơn kiện, làm chấm dứt tố tụng trọng tài và có giá trị chung thẩm ràng buộc đối với các bên. Theo thông lệ quốc tế, hủy phán quyết trọng tài là một thủ tục pháp lý do Tòa án thực hiện nhằm xem xét lại phán quyết trọng tài được ban hành có tuân thủ đầy đủ các quy định về trình tự, thủ tục xét xử của trọng tài thương mại theo luật định. Một trong các bên tranh chấp được quyền yêu cầu Tòa án xem xét lại phán quyết trọng tài nếu có đủ căn cứ chứng minh rằng, Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết thuộc một trong những trường hợp bị hủy theo quy định của pháp luật. Việc hủy phán quyết trọng tài cũng phải tuân theo trình tự và thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định.

Ở Việt Nam, quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài được quy định tại Điều 69 Luật Trọng tài thương mại năm 2010, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được phán quyết trọng tài, nếu một bên có đủ căn cứ để chứng minh được Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết thuộc một trong những trường hợp có thể hủy phán quyết trọng tài thì có thể làm đơn gửi Tòa án có thẩm quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài. Đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài phải kèm theo các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu hủy phán quyết trọng tài là có căn cứ và hợp pháp. Theo Điều 70 Luật Trọng tài thương mại, đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài phải có các nội dung và tài liệu kèm theo đơn như: (a) Bản chính hoặc bản sao phán quyết trọng tài đã được chứng thực hợp lệ; (b) Bản chính hoặc bản sao thỏa thuận trọng tài đã được chứng thực hợp lệ.

Luật Trọng tài thương mại năm 2010 cũng phân chia nghĩa vụ chứng minh về căn cứ hủy thành hai trường hợp: (i) Đối với các căn cứ tại khoản a, b, c và d khoản 2 Điều 68, bên yêu cầu hủy có nghĩa vụ chủ động xác minh thu thập chứng cứ để quyết định hủy hay không hủy phán quyết trọng tài; (ii) Đối với các căn cứ tại khoản đ khoản 2 Điều 68, Tòa án có trách nhiệm chủ động xác minh thu thập chứng cứ để quyết định hủy hay không hủy phán quyết trọng tài. Các tài liệu, chứng cứ phải gửi kèm theo đơn yêu cầu được quy định chi tiết tại Ðiều 70 Luật Trọng tài thương mại năm 2010.

Phán quyết trọng tài sẽ bị hủy nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (i) Không có thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu; (ii) Thành phần Hội đồng trọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài không phù hợp với thỏa thuận của các bên hoặc trái với các quy định của Luật Trọng tài thương mại; (iii) Vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; trường hợp phán quyết trọng tài có nội dung không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài thì nội dung đó bị hủy; (iv) Chứng cứ do các bên cung cấp mà Hội đồng trọng tài căn cứ vào đó để ra phán quyết là giả mạo; Trọng tài viên nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất của một bên tranh chấp làm ảnh hưởng đến tính khách quan, công bằng của phán quyết trọng tài; (v) Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

Tính đến hết tháng 01/2019, toàn quốc hiện có 23 Trung tâm trọng tài thương mại với số trọng tài viên là trên 460 người và được phân bố không đồng đều tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Đắk Lắk. Số vụ việc tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài thương mại có xu hướng tăng lên (khoảng gần 500 vụ/năm 2018) nhưng vẫn ở mức khiêm tốn so với nhu cầu thực tiễn, chiếm chưa đến 1% trên tổng số vụ tranh chấp thương mại được Tòa án thụ lý, xét xử hàng năm. Trong khi đó, những năm gần đây, tranh chấp quốc tế đang có xu hướng giảm, ngược lại tranh chấp trong nước hiện chiếm khoảng 70% và có xu hướng gia tăng, nhất là ở các doanh nghiệp FDI[1].

Mặc dù trọng tài thương mại là một phương thức giải quyết tranh chấp nhanh gọn có nhiều ưu điểm, song không ít ý kiến cho rằng, họ e ngại việc phán quyết của trọng tài bị Tòa án hủy. Theo ông Vũ Ánh Dương, Tổng thư ký Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) cho biết, từ năm 2003 đến năm 2011, trong số 26 vụ yêu cầu Tòa án hủy phán quyết trọng tài, thì chỉ có 9 phán quyết bị hủy, chiếm 34,6% tổng số vụ tranh chấp yêu cầu hủy. Từ năm 2011 đến năm 2014, sau khi Luật Trọng tài thương mại năm 2010 có hiệu lực, có 20 yêu cầu hủy phán quyết trọng tài của VIAC thì có đến 10 phán quyết được Tòa án chấp nhận hủy, chiếm 50% trong tổng số vụ tranh chấp yêu cầu Tòa án hủy[2]. Thông tin cụ thể hơn về số vụ việc phán quyết trọng tài bị hủy tại Hà Nội, ông Nguyễn Đình Tiến - Phó Chánh Tòa kinh tế, Tòa án nhân dân TP. Hà Nội cho biết: Năm 2015, cơ quan này đã thụ lý 07 vụ; năm 2016 là 11 vụ; năm 2017 với 14 vụ; riêng 6 tháng đầu năm 2018 thụ lý 5 vụ. Trong đó, yêu cầu về khiếu nại thẩm quyền của Hội đồng trọng tài là 04 vụ việc, yêu cầu hủy phán quyết là 26 vụ và công nhận cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài là 07 vụ[3].

Việc số lượng phán quyết trọng tài bị Tòa án tuyên hủy có xu hướng tăng khiến cho không chỉ cộng đồng doanh nghiệp hoang mang, mà ngay chính các trọng tài viên cũng “đứng ngồi không yên”. Do tình trạng số lượng phán quyết trọng tài bị hủy cao, khiến các trọng tài viên lo lắng việc “xử mà không biết phán quyết có bị hủy hay không”. Đây là thực trạng cần khắc phục, vì bản chất Luật Trọng tài thương mại năm 2010 là tạo hành lang pháp lý cho phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài phát triển, nhưng thực tế thì đang đi ngược lại do số phán quyết trọng tài bị tuyên hủy, thậm chí còn nhiều hơn so với giai đoạn trước.

2. Hoàn thiện thể chế pháp luật về hủy phán quyết trọng tài thương mại ở Việt Nam

Qua thực tiễn thực hiện cho thấy, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 đã bộc lộ những bất cập gây ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động và uy tín của phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại. Cụ thể: (i) Phạm vi điều chỉnh của Luật chưa được thể hiện rõ ràng, nhất quán, tạo ra những khó khăn, vướng mắc khi xác định thẩm quyền của Trọng tài; (ii) Trên thực tế, số vụ việc hòa giải thành công khá cao, tạo ảnh hưởng tích cực trong hoạt động thương mại, tuy nhiên, các quy định về hòa giải, thỏa thuận trọng tài trong Luật còn quá sơ sài. Các trung tâm trọng tài hiện nay phần lớn vẫn chưa có quy tắc hòa giải riêng, việc hòa giải đơn thuần dựa trên kinh nghiệm và kỹ năng của trọng tài viên. Bên cạnh đó, quy định cụ thể về nội dung của thỏa thuận trọng tài cũng chưa được làm rõ. Qua các trường hợp hủy phán quyết trọng tài cho thấy, nhiều phán quyết bị hủy do nội dung thỏa thuận không rõ ràng; (iii) Luật Trọng tài thương mại năm 2010 cũng không quy định về thời hạn giải quyết vụ tranh chấp (thời gian từ khi hội đồng trọng tài được thành lập đến khi ra phán quyết trọng tài); không quy định rõ ràng về biện pháp khẩn cấp tạm thời; về nội dung trong kết quả giải quyết tranh chấp của Trọng tài... Bởi vậy, cần quan tâm hoàn thiện thể chế pháp luật nhằm tạo hành lang pháp lý thúc đẩy phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại phát triển mạnh mẽ, hạn chế tình trạng tùy tiện trong áp dụng pháp luật để hủy phán quyết của trọng tài thương mại, theo đó:

Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật về hủy phán quyết của trọng tài thương mại

Cần có quy định rõ về phạm vi điều chỉnh, điều này sẽ tạo điều kiện tốt cho các chủ thể liên quan và các bên tham gia tranh chấp xác định đúng về thẩm quyền của trọng tài thương mại. Trong thủ tục tố tụng, cần xác định chỉ khi các bên hòa giải không thành công, Hội đồng trọng tài mới đưa vụ tranh chấp ra giải quyết. Bổ sung quy định về nội dung thỏa thuận trọng tài, như các quy định về quyền hạn, nghĩa vụ, về chi phí, lệ phí trọng tài, ngôn ngữ, quy phạm văn bản, quy tắc tố tụng, cam kết thực hiện phán quyết trọng tài…

Về thời gian tiến hành tố tụng trọng tài, cẩn bổ sung thêm quy định thời gian giải quyết tranh chấp từ khi Hội đồng trọng tài được thành lập cho đến khi ra phán quyết trọng tài. Nhằm tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho Hội đồng trọng tài thực hiện biện pháp khẩn cấp thạm thời mà không gây ảnh hưởng xấu đến quyền lợi các bên, cần có quy định cụ thể về những hành vì nào thì được coi là bất lợi đối với quá trình tố tụng trọng tài.

Thứ hai, việc áp dụng các căn cứ hủy phán quyết trọng tài phải gắn với việc áp dụng quy định tại Điều 13, khoản 4 Điều 63, khoản 7 Điều 71 Luật Trọng tài thương mại

Khi áp dụng các căn cứ hủy phán quyết trọng tài được quy định tại khoản 2 Điều 68 Luật Trọng tài thương mại, thì phải hiểu sâu sắc rằng, tố tụng trọng tài có rất nhiều điểm khác biệt với tố tụng dân sự tại Tòa án. Nếu không nắm vững tính đặc thù đó, rất dễ xét xử lại vụ tranh chấp hoặc có những trường hợp vi phạm Luật Trọng tài thương mại, vi phạm thỏa thuận trọng tài…, nhưng vi phạm đó không còn là căn cứ để hủy phán quyết. Ví dụ như, việc đã mất quyền phản đối được quy định tại Điều 13 Luật Trọng tài thương mại.

Trong nhiều trường hợp, tố tụng trọng tài là do đương sự lựa chọn hoặc do các bên thỏa thuận. Mối quan hệ giữa Hội đồng trọng tài và các bên trong tranh chấp (quyền và nghĩa vụ của Hội đồng trọng tài và các bên trong một vụ việc cụ thể có thể là mối quan hệ hợp đồng). Do đó, các bên có thể tự do thỏa thuận bằng văn bản (thỏa thuận trọng tài, quy tắc trọng tài hay thỏa thuận riêng của các bên...) hoặc bằng hành vi cụ thể (biết nhưng im lặng và không phản đối) đối với tất cả các quyền và nghĩa vụ đó trong giới hạn pháp luật áp dụng cho phép. Vì vậy, biết vi phạm mà không phản đối trong thời hạn thì được coi là các bên đã lựa chọn, đã đồng ý về thành phần, về tố tụng, về thẩm quyền… của trọng tài. Nó khác hẳn với tố tụng dân sự là tố tụng luật định. Về xử lý sai sót của phán quyết, giữa tố tụng dân sự và tố tụng trọng tài cũng rất khác nhau. Trong tố tụng dân sự, nếu thẩm phán, Hội đồng xét xử đã công bố, đã phát hành phán quyết, dù thẩm phán, Hội đồng xét xử tự phát hiện ra sai sót hoặc thông qua khiếu nại, kháng cáo của đương sự, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân, thì thẩm phán, Hội đồng xét xử không tự mình sửa chữa sai sót đó, trừ trường hợp sai sót về lỗi chính tả, tính nhầm. Tùy theo phán quyết đó đã có hiệu lực pháp luật hay chưa có hiệu lực pháp luật, việc sửa chữa sai sót đó sẽ do Tòa án ở cấp cao hơn thực hiện theo trình tự phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm.

Trong tố tụng trọng tài, phán quyết trọng tài là chung thẩm, có hiệu lực kể từ ngày ban hành, không có trình tự xét xử phúc thẩm và không có trình tự giám đốc thẩm. Tuy nhiên, khoản 4 Điều 63 Luật Trọng tài thương mại quy định: “Trường hợp các bên không có thỏa thuận khác, trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được phán quyết, một bên có thể yêu cầu Hội đồng trọng tài ra phán quyết bổ sung đối với những yêu cầu được trình bày trong quá trình tố tụng nhưng không được ghi trong phán quyết và phải thông báo ngay cho bên kia biết. Nếu Hội đồng trọng tài cho rằng yêu cầu này là chính đáng, thì ra phán quyết bổ sung trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu”[4]. Thậm chí, khi Tòa đã thụ lý đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài của đương sự, nhưng theo quy định tại khoản 7 Điều 71 Luật Trọng tài thương mại thì: “Theo yêu cầu của một bên và xét thấy phù hợp, Hội đồng xét đơn yêu cầu có thể tạm đình chỉ việc xem xét giải quyết đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài trong thời hạn không quá 60 ngày để tạo điều kiện cho Hội đồng trọng tài khắc phục sai sót tố tụng trọng tài theo quan điểm của Hội đồng trọng tài nhằm loại bỏ căn cứ hủy bỏ phán quyết trọng tài. Hội đồng trọng tài phải thông báo cho Tòa án biết về việc khắc phục sai sót tố tụng. Trường hợp Hội đồng trọng tài không tiến hành khắc phục sai sót tố tụng thì Hội đồng tiếp tục xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài”[5].

Có thể thấy, sợi chỉ đỏ xuyên suốt Luật Trọng tài thương mại là ý chí của các bên có vai trò rất lớn trong hoạt động của trọng tài; các bên đương sự là người kiến tạo nên thẩm quyền trọng tài (Điều 5), các bên có quyền quyết định chọn địa điểm giải quyết tranh chấp (Điều 11); đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài luật áp dụng cũng do các bên lựa chọn (Điều 14), thành phần Hội đồng trọng tài (Điều 39), hình thức trọng tài (khoản 5 Điều 43), thành phần phiên họp, trình tự, thủ tục tiến hành phiên họp đối với trọng tài vụ việc cũng do các bên thỏa thuận (Điều 55)… Điều này cho thấy, trong tố tụng trọng tài, ý chí của các bên tranh chấp có vai trò chi phối, quyết định rất lớn. Do đó, khi một trong các bên phát hiện vi phạm của trọng tài mà không phản đối, được coi là các bên đã lựa chọn hoạt động đó. Mặt khác, mất quyền phản đối còn có ý nghĩa ngăn chặn sự lợi dụng kéo dài vụ kiện, đồng thời, còn đảm bảo nguyên tắc thiện chí trong giải quyết tranh chấp. Đặc biệt, trong trường hợp một bên đã biết có vi phạm nhưng không phản đối, chỉ đến khi bị thua kiện tại trọng tài, không muốn bị ràng buộc bởi phán quyết trọng tài mới đưa ra căn cứ đó tại Tòa án. Vì vậy, điều rất đáng lưu ý đối với các thẩm phán, các Tòa án là trước khi xem xét yêu cầu của một hoặc các bên về việc có vi phạm quy định Luật Trọng tài thương mại hoặc thỏa thuận trọng tài, Tòa án phải kiểm tra các tài liệu, chứng cứ, quy tắc tố tụng trọng tài để xác định đối với yêu cầu đó, một hoặc các bên có mất quyền phản đối hay không mất quyền phản đối. Trường hợp quy định tại Điều 13 Luật Trọng tài thương mại, Tòa án xác định vi phạm đã mất quyền phản đối thì bên đã mất quyền phản đối đó sẽ không được quyền khiếu nại quyết định của Hội đồng trọng tài hay yêu cầu hủy phán quyết trọng tài đối với những vi phạm đã mất quyền phản đối đó. Tòa án không được căn cứ vào các vi phạm mà một hoặc các bên đã mất quyền phản đối để chấp nhận yêu cầu hủy phán quyết trọng tài của bên yêu cầu. Tuy nhiên, mất quyền phản đối chỉ áp dụng cho các bên đương sự trong vụ kiện, chứ không thể áp dụng cho những trường hợp phán quyết trọng tài xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của dân tộc, lợi ích quốc gia, lợi ích công, trật tự công… Vì vậy, khi giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, Tòa án có trách nhiệm xem xét theo quy định tại điểm đ khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 68 Luật Trọng tài thương mại. Trường hợp xét thấy có đủ căn cứ để khẳng định phán quyết trọng tài đã xâm phạm lợi ích công, trật tự công, lợi ích của Nhà nước và đạo đức xã hội… thì Tòa án có quyền quyết định hủy phán quyết trọng tài ngay cả khi một hoặc các bên đã mất quyền phản đối.

Thứ ba, loại bỏ trường hợp các bên tranh chấp lợi dụng tính không minh bạch của các căn cứ hủy phán quyết trọng tài để đưa ra yêu cầu hủy phán quyết

Trường hợp “phán quyết trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”, Nghị quyết 01/2014/NQ- HĐTP Tòa án nhân dân tối cao đã đưa ra phạm vi căn cứ là những nguyên tắc liên quan đến việc giải quyết tranh chấp của trọng tài, như các bên đã thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng trọng tài; thỏa thuận đó không trái pháp luật, không vi phạm đạo đức, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ, nhưng Hội đồng trọng tài không chấp nhận; Hội đồng trọng tài đã vi phạm một nguyên tắc quan trọng của tố tụng trọng tài. Chỉ trong những trường hợp này mới coi là phán quyết trọng tài vi phạm nguyên tắc tự do, tự nguyện thỏa thuận, định đoạt. Đây là nguyên tắc tồn tại trong rất nhiều luật nội dung và luật hình thức, một nguyên tắc mang tính phổ quát.

ThS. Vũ Hoàng

Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam



[1]. http://bttp.moj.gov.vn/qt/Pages/trong-tai-tm.aspx.

[2]. https://lawnet.thukyluat.vn/posts/t2107-thuc-trang-huy-phan-quyet-cua-trong-tai-thuong-mai-hien-nay.

[3]. http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/xa-hoi/2018-06-07/so-vu-giai-quyet-qua-trong-tai-van-chua-tao-duoc-nhieu-ky-vong-58411.aspx.

[4]. Tưởng Duy Lượng (2015), Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Tòa án và việc phân biệt thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa Trọng tài và Tòa án theo quy định của Luật Trọng tài thương mại và Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tạp chí Tòa án nhân dân số 16.

[5]. Tưởng Duy Lượng (2015), Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Tòa án và việc phân biệt thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa Trọng tài và Tòa án theo quy định của Luật Trọng tài thương mại và Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tạp chí Tòa án nhân dân số 16.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Theo dõi chúng tôi trên: