Thứ sáu 16/01/2026 16:40
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kết quả 2 năm triển khai thực hiện thí điểm chế định thừa phát lại tại Nghệ An - Một số nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian tới

Nghệ An được Bộ Tư pháp lựa chọn là một trong 13 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại. Để triển khai thực hiện, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An đã kịp thời có các hoạt động cụ thể để quán triệt, tuyên truyền chủ trương của Đảng, Nghị quyết của Quốc hội và các quy định của Chính phủ về việc thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại địa phương.

1. Những kết quả bước đầu

Nghệ An được Bộ Tư pháp lựa chọn là một trong 13 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại. Để triển khai thực hiện, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An đã kịp thời có các hoạt động cụ thể để quán triệt, tuyên truyền chủ trương của Đảng, Nghị quyết của Quốc hội và các quy định của Chính phủ về việc thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại địa phương. Nhờ đó, bước đầu đã tạo được sự đồng thuận, quyết tâm của các cơ quan có trách nhiệm trực tiếp triển khai thí điểm và nâng cao nhận thức của người dân đối với chế định này. Việc thành lập và đăng ký hoạt động cho 2 văn phòng Thừa phát lại tại thành phố Vinh và Kim Tiến Tây Bắc Nghệ (huyện Diễn Châu) đúng lộ trình theo Đề án và Kế hoạch đã đề ra. Qua 02 năm triển khai thực hiện, những kết quả đạt được của các văn phòng Thừa phát lại đã khẳng định sự cần thiết của chế định này trong hoạt động tư pháp cũng như trong đời sống xã hội của tỉnh Nghệ An.

Trên cơ sở Quyết định số 485/QĐ-BTP ngày 03/3/2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Kế hoạch truyền thông, phổ biến về chế định Thừa phát lại, ngày 29/4/2014, Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành có liên quan tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 205/KH-UBND về truyền thông, phổ biến về chế định Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh. Theo đó, Sở Tư pháp đã phối hợp với các sở, ngành có liên quan tiến hành nhiều hoạt động khác nhau nhằm tuyên truyền, tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ Thừa phát lại, thông qua nhiều hình thức như: Tổ chức Hội nghị tập huấn nghiệp vụ Thừa phát lại và các văn bản pháp luật có liên quan cho các cá nhân, tổ chức, đơn vị; phối hợp với Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh, Báo Công An Nghệ An lồng ghép, xây dựng các chương trình, tin bài để thông tin, giới thiệu về vị trí, vai trò, ý nghĩa, tác động của chế định Thừa phát lại và việc triển khai thí điểm chế định này trên phạm vi toàn tỉnh; tuyên truyền rộng rãi các hoạt động thí điểm chế định Thừa phát lại trên 12 số Tập san Pháp luật và Đời sống (với số lượng gần 19.200 cuốn) và trên các báo địa phương thuộc quản lý của Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, thị xã; biên soạn và phát hành tờ gấp tìm hiểu về chế định Thừa phát lại (với số lượng hơn 11.000 bản) cung cấp cho các huyện, thành phố, thị xã, các văn phòng Thừa phát lại để truyền thông, phổ biến cho cán bộ, nhân dân.

Ngoài ra, Sở Tư pháp còn phối hợp với Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh xây dựng phóng sự với thời lượng 15 - 20 phút/phóng sự để phản ánh một số kết quả thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh; mở chuyên trang về Thừa phát lại trên Cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân tỉnh, thường xuyên cập nhật các văn bản pháp luật và hoạt động liên quan để làm kênh thông tin chính thống, toàn diện về việc thí điểm chế định Thừa phát lại.

Cùng với việc đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, để triển khai có hiệu quả chế định Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Nghệ An, Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức một số cuộc họp Ban Chỉ đạo Đề án tỉnh, có sự tham gia của các văn phòng Thừa phát lại và các cơ quan, đơn vị có liên quan, nhằm kịp thời phát hiện những khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện, từ đó đề xuất, hướng dẫn, chỉ đạo các giải pháp tháo gỡ.

Để nâng cao năng lực quản lý, phương pháp thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại địa phương, Ban Chỉ đạo và văn phòng Thừa phát lại đã có chuyến đi học tập kinh nghiệm triển khai thí điểm chế định Thừa phát lại tại TP. Hồ Chí Minh - địa phương đi đầu, thực hiện khá tốt, có hiệu quả việc thí điểm.

Trong 2 năm (2014 - 2015), Đoàn Kiểm tra của Ban Chỉ đạo thực hiện thí điểm Thừa phát lại ở trung ương đã thực hiện 2 cuộc kiểm tra việc triển khai thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại tỉnh Nghệ An và thấy được những khó khăn, vướng mắc của địa phương, đồng thời khẩn trương có những chỉ đạo, hướng dẫn nhằm chấn chỉnh, khắc phục những hạn chế, vướng mắc, và phát huy những mặt mạnh vốn có của địa phương.

Ủy ban nhân dân tỉnh, các sở, ban, ngành có liên quan thường xuyên có văn bản yêu cầu các văn phòng Thừa phát lại cung cấp thông tin, báo cáo tình hình triển khai thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại, phản ánh những khó khăn, vướng mắc và đề xuất những giải pháp tháo gỡ.

Kết quả hoạt động của các văn phòng Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong 2 năm thực hiện thí điểm như sau: Tống đạt văn bản (11.796 văn bản) thu được 768.212.000 đồng; lập vi bằng (42 vi bằng) thu được 57.300.000 đồng; xác minh điều kiện thi hành án (16 vụ việc) thu được 89.000.000 đồng; tổ chức thi hành án (11 vụ việc) thu được 360.293.000 đồng.

Nhìn chung, trong thời gian qua, việc triển khai thực hiện chủ trương của Đảng, Nghị quyết của Quốc hội, Đề án của Thủ tướng Chính phủ về tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại đã được các cấp, các ngành của tỉnh Nghệ An thực hiện nghiêm túc: Ban Chỉ đạo đã tham mưu, tích cực triển khai các nội dung, nhiệm vụ trong Đề án và Kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh, bảo đảm đúng thời gian, tiến độ; công tác tuyên truyền bước đầu đạt được một số kết quả tích cực; các ngành đã ban hành một số văn bản chỉ đạo, hướng dẫn kịp thời trong tổ chức thực hiện chế định; việc thành lập và đăng ký hoạt động cho 2 văn phòng Thừa phát lại đúng lộ trình theo Đề án và Kế hoạch đã đề ra, các văn phòng đã bước đầu ổn định về tổ chức và hoạt động; Ủy ban nhân dân tỉnh đã cử các cán bộ, công chức, Thừa phát lại, thư ký nghiệp vụ tham gia các lớp tập huấn công tác triển khai, kỹ năng nghiệp vụ do Bộ Tư pháp tổ chức. Tuy thời gian thí điểm chế định Thừa phát lại tại tỉnh Nghệ An không dài nhưng với những kết quả đạt được đã bước đầu khẳng định vị trí, vai trò của Thừa phát lại đối với nền kinh tế, xã hội và hoạt động tư pháp của tỉnh, được người dân ủng hộ, có tác động hiệu quả đối với xã hội.

Qua 2 năm triển, việc khai thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại Nghệ An đã góp phần nâng cao nhận thức không những đối với cơ quan nhà nước mà còn đối với người dân về một chủ trương mới của Đảng, Nhà nước. Hoạt động Thừa phát lại đã tạo cơ chế để người dân tăng cường tính chủ động, tích cực trong các quan hệ dân sự, tố tụng dân sự và hành chính. Trong đó, việc lập vi bằng của Thừa phát lại đã được người dân đón nhận hết sức tích cực vì đã tạo thêm một công cụ pháp lý để người dân tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong thực hiện các giao dịch dân sự và trong các quá trình tố tụng tư pháp. Bên cạnh đó, sự hiện diện của các văn phòng Thừa phát lại bên cạnh các cơ quan thi hành án của Nhà nước đã tạo điều kiện để người dân có thêm sự lựa chọn phù hợp với năng lực, điều kiện của cá nhân khi yêu cầu thi hành án dân sự.

2. Những tồn tại, hạn chế

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại trong thời gian qua vẫn còn tồn tại những khó khăn, vướng mắc: Các thành viên của Ban Chỉ đạo hoạt động kiêm nhiệm, chưa dành nhiều thời gian thực hiện triển khai Đề án; cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo - Sở Tư pháp trong tham mưu có lúc còn chưa chủ động và kịp thời; một số cấp ủy, chính quyền, các ngành, cán bộ và nhân dân chưa nhận thức đúng vai trò, trách nhiệm của mình nên còn nhiều hạn chế trong phối hợp, tổ chức thực hiện; ở một số xã, phường, khối trưởng, xóm trưởng không hợp tác xác nhận vào biên bản tống đạt khi Thừa phát lại thực hiện việc tống đạt cho đương sự.

Ngoài ra, đội ngũ Thừa phát lại và nhân viên Văn phòng Thừa phát lại còn mỏng, năng lực, trình độ, kinh nghiệm, kỹ năng nghề nghiệp còn hạn chế; còn thiếu nguồn Thừa phát lại để thành lập thêm Văn phòng Thừa phát lại theo kế hoạch đã đề ra; nội dung tuyên truyền chưa sâu rộng, kịp thời, hình thức tuyên truyền chưa đa dạng, phong phú; các phương tiện, thiết bị hỗ trợ cho công tác tuyên truyền còn hạn chế, chưa thu hút, truyền tải kịp thời cho người nghe một cách sinh động.

Do chế định Thừa phát lại đang trong thời gian thí điểm nên còn nhiều mới mẻ từ cơ chế lãnh đạo của Đảng, công tác quản lý nhà nước đến mô hình tổ chức, hoạt động, phạm vi công việc của Thừa phát lại chưa được quy định cụ thể trong các văn bản có giá trị pháp lý cao; thời gian thực hiện thí điểm lại quá ngắn, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, các quy định của pháp luật chưa hoàn thiện, đồng bộ nên ảnh hưởng đến quá trình triển khai, tổ chức thực hiện.

Trong tổ chức thực hiện vẫn còn gặp nhiều khó khăn do kinh phí phục vụ triển khai chế định Thừa phát lại còn hạn chế, đặc biệt là nguồn kinh phí cho công tác truyền thông, phổ biến chế định Thừa phát lại. Chương trình bồi dưỡng, đào tạo Thừa phát lại và thư ký Thừa phát lại chưa thực sự hiệu quả, thời gian đào tạo ngắn, nên kỹ năng và nghiệp vụ hoạt động của Thừa phát lại chưa cao.

Hơn nữa, nhận thức của các cán bộ, công chức đối với lĩnh vực này còn hạn chế; tâm lý e ngại, chưa thật tin tưởng của người dân đối với một số việc do Thừa phát lại thực hiện...

Sự phối hợp của một số ngành liên quan chưa cao, chưa có sự chỉ đạo tích cực các đơn vị cấp dưới thực hiện nghiêm túc việc bàn giao văn bản tống đạt, chậm hoặc không bàn giao, gây khó khăn cho các văn phòng Thừa phát lại. Một số cơ quan cơ sở không chỉ đạo các ban, ngành có liên quan phối hợp với các văn phòng thừa phát lại khi thực hiện.

3. Một số nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian tới

Trong thời gian chờ Quốc hội ban hành Luật Thừa phát lại, Ban Chỉ đạo của tỉnh tiếp tục chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị thực hiện các quy định của pháp luật về chế định Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Nghệ An theo hướng như sau:

- Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy, chính quyền đối với hoạt động Thừa phát lại trên địa bàn, nhất là các địa phương có văn phòng Thừa phát lại.

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến về chế định Thừa phát lại nhằm nâng cao nhận thức hiểu biết của cán bộ và người dân; lồng ghép tuyên truyền về chế định Thừa phát lại trong các hội nghị tuyên truyền pháp luật.

- Nâng cao chất lượng phối hợp quản lý nhà nước giữa các cơ quan trực tiếp triển khai, tổ chức thực hiện chế định Thừa phát lại, tạo mọi điều kiện thuận lợi để Thừa phát lại hoạt động có hiệu quả.

- Các thành viên của Ban Chỉ đạo tiếp tục thực hiện nghiêm túc các nhiệm vụ đã được phân công tại Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo và các quy định pháp luật có liên quan. Trong đó, Sở Tư pháp với vai trò là cơ quan thường trực, cần phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng tăng cường công tác tuyên truyền chế định Thừa phát lại; tham mưu đào tạo nguồn bổ nhiệm Thừa phát lại để thành lập các văn phòng Thừa phát lại tiếp theo; tổ chức kiểm tra các văn phòng Thừa phát lại để kịp thời phát hiện và chấn chỉnh các tồn tại, sai sót nhằm nâng cao kết quả hoạt động.

- Cục Thi hành án dân sự và Tòa án nhân dân tỉnh cần chỉ đạo các đơn vị ngành dọc thực hiện nghiêm túc việc chuyển giao văn bản tống đạt cho văn phòng Thừa phát lại thực hiện theo quy định của pháp luật; tăng cường tổ chức kiểm tra công tác chuyển giao văn bản tống đạt cho văn phòng Thừa phát lại thực hiện.

- Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi có văn phòng Thừa phát lại cần chủ động tổ chức tuyên truyền chế định Thừa phát lại tại địa phương; chỉ đạo các đơn vị có liên quan phối hợp với các văn phòng thừa phát lại trong tổ chức thực hiện trên địa bàn.

Nguyễn Quế Anh

Phó Giám đốc Sở Tư pháp Nghệ An

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: