Thứ hai 15/06/2026 07:53
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Khả năng áp dụng mô hình nhà nước kiến tạo ở Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam đang có một số tiền đề ban đầu để xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển. Tuy nhiên, để hòa chung vào dòng chảy của nhân loại, cũng giống như xây dựng Nhà nước pháp quyền,

Tóm tắt: Việt Nam đang có một số tiền đề ban đầu để xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển. Tuy nhiên, để hòa chung vào dòng chảy của nhân loại, cũng giống như xây dựng Nhà nước pháp quyền, Nhà nước kiến tạo cũng đặt ra cho Việt Nam những yêu cầu, nguyên tắc và phương pháp tổ chức, thực hiện quyền lực nhà nước. Bài viết này phân tích về những yếu tố nền tảng và khả năng áp dụng mô hình Nhà nước kiến tạo ở Việt Nam.

Abstract: Vietnam has some primary premises for building a tectonic developing state model. However, in order to integrate into the flow of mankind, just like building a rule-of-law state, the tectonic state also sets for Vietnam requirements, principles and methods of organizing and exercising state power. This paper analyzes the foundations and applicability of a tectonic state model in Vietnam.

1. Nền tảng cho Nhà nước kiến tạo ở Việt Nam

Theo Điều 8 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 quy định: “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền”. Điều 52 Hiến pháp năm 2013 cũng quy định: “Nhà nước xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, điều tiết nền kinh tế trên cơ sở tôn trọng các quy luật thị trường; thực hiện phân công, phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước; thúc đẩy liên kết kinh tế vùng, bảo đảm tính thống nhất của nền kinh tế quốc dân”. Ngoài ra, trong các nghị quyết của Đảng và chính sách phát triển của Nhà nước vẫn luôn quán triệt quan điểm hướng tới một Nhà nước kiến tạo phát triển, theo đó, Nhà nước kiến tạo phát triển thì không làm thay dân, mà tạo khuôn khổ thể chế và mọi điều kiện cần thiết khác để từng người dân có thể mưu cầu hạnh phúc. Khi và chỉ khi người dân Việt Nam có điều kiện làm ăn dễ dàng, có năng lực làm chủ cuộc sống và sáng tạo tương lai, thì sự giàu có và thịnh vượng bền lâu mới đến với đất nước ta. Điều quan trọng là phải xây dựng được những khuôn khổ thể chế cần thiết để cho công việc làm ăn của người dân ngày một dễ dàng hơn. Quan trọng nhất ở đây là quyền tự do kinh doanh, quyền tự do khế ước và quyền sở hữu tài sản... phải được bảo đảm; sự minh bạch phải được tăng cường; quan hệ hợp đồng phải được tôn trọng và bảo vệ; các tranh chấp phải được giải quyết nhanh chóng và hiệu quả.

Thời gian gần đây, Chính phủ đã có nhiều cố gắng trong việc cắt giảm thủ tục hành chính để cải thiện môi trường kinh doanh, để cung cấp dịch vụ công tốt hơn và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước, đây là một cách làm đang ngày càng khác hơn so với trước. Tất cả những cố gắng trên đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong cách nghĩ và cách làm của chúng ta. Thực sự chúng ta đang đi những bước đầu tiên trên con đường chuyển đổi từ mô hình nhà nước quản lý toàn diện sang mô hình nhà nước kiến tạo phát triển.

Có thể nói rằng, ở Việt Nam đang xuất hiện những nền tảng để xây dựng một Nhà nước kiến tạo phát triển. Cụ thể:

- Về vai trò của Nhà nước: Nhà nước Việt Nam đã chuyển từ một Nhà nước toàn trị, tập trung quan liêu, bao cấp sang Nhà nước dân chủ, pháp quyền với vai trò là “người cầm lái” sự phát triển của đất nước, thay vì “người trực tiếp chèo thuyền” như trước đây. Nhà nước Việt Nam đang cố gắng thực hiện chức năng của mình là xây dựng quy hoạch phát triển theo một chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đúng đắn; tạo môi trường và điều kiện cho các thành phần kinh tế phát huy mọi tiềm năng trong môi trường cạnh tranh và hội nhập quốc tế; tăng cường giám sát để phát hiện các mất cân đối có thể xảy ra, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và an toàn hệ thống. Chính vì vậy, Nghị quyết của Đại hội Đảng lần XI đã xác định tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính là trọng tâm trong khâu đột phá về thể chế.

- Về bộ máy nhà nước: Theo Hiến pháp năm 2013, bộ máy nhà nước Việt Nam đã được tổ chức minh bạch hơn và ít nhiều đã có năng lực và trách nhiệm giải trình. Hệ thống hành chính nhà nước đã dần được chuyển từ tư duy cai trị sang tư duy phục vụ, định hướng thị trường và chịu sự giám sát của xã hội. Công cuộc cải cách hành chính bước đầu đã đạt được những thành công nhất định. Theo đó, hệ thống đã được tinh giản, mối quan hệ giữa các bộ phận của Nhà nước dần được mạch lạc và quyền lực được kiểm soát theo pháp luật. Hệ thống công chức được tuyển dụng và đạo tạo có chuyên môn nghiệp vụ tương đối phù hợp, hoạt động theo tinh thần “gần dân”.

- Về mối quan hệ nhà nước - thị trường và xã hội: Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, quyền tự do kinh doanh được ghi nhận trong Hiến pháp, theo đó, các doanh nghiệp được tự do làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm, đây là một nguyên tắc điển hình trong Nhà nước pháp quyền. Theo đó, mọi giới hạn của quyền tự do kinh doanh vì những mục tiêu hiến định đều phải được tiến hành theo những trình tự và thủ tục pháp lý nghiêm ngặt. Bên cạnh đó, động lực phát triển của kinh tế thị trường là cạnh tranh. Vì vậy, Nhà nước trong kinh tế thị trường phải bảo vệ và bảo hộ cạnh tranh công bằng, chống và cấm mọi hành vi sử dụng quyền lực nhà nước can thiệp làm méo mó thị trường cạnh tranh.

Trong quan hệ với xã hội, Nhà nước ta hiện nay đã có phần nào cởi mở hơn, ở nước ta, với gần 500 các hội, hiệp hội, tổ chức phi Chính phủ ở cấp quốc gia, hơn 6.000 các cấp hội ở cấp tỉnh và hàng vạn ở cấp xã, huyện..., các tổ chức xã hội này của công dân rất phong phú và đa dạng. Nó không phải là kết quả “chỉ định” của Nhà nước, mà xuất phát từ đòi hỏi và sự tự nguyện của chính người dân theo quy định của pháp luật, trước hết là để thỏa mãn các nhu cầu, lợi ích, mục đích hợp pháp của các thành viên. Do vậy, không thể quan niệm như trước xem các tổ chức xã hội là tổ chức ngoại vi được lập ra để ủng hộ mọi chính sách, pháp luật của Nhà nước, mà nó có tính độc lập và tích cực nhất định. Các tổ chức xã hội ở Việt Nam ngày càng có vai trò quan trọng hơn đối với hoạt động của Nhà nước, trong vai trò biểu đạt nguyện vọng, ý chí của xã hội - tiền đề hoạch định chính sách phát triển, kiến tạo và đặc biệt là vai trò phản biện các chính sách phát triển, quản trị quốc gia trong bối cảnh một đảng cầm quyền. Như thế, trong quan hệ với khu vực thứ ba của “tam giác phát triển”, Nhà nước Việt Nam đang hợp tác và ít nhiều chịu ảnh hưởng của các tổ chức xã hội trong việc thực hiện vai trò và chức năng của mình theo tinh thần kiến tạo phát triển.

2. Khả năng áp dụng mô hình Nhà nước kiến tạo ở Việt Nam

Quả thực, không có mô hình mẫu và giá trị duy nhất của Nhà nước kiến tạo phát triển. Tuy nhiên, với những tiền đề cơ bản nêu trên, chúng tôi cho rằng, Việt Nam đang có một số tiền đề ban đầu để xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển. Tuy nhiên, để hòa chung vào dòng chảy của nhân loại, cũng giống như xây dựng Nhà nước pháp quyền, Nhà nước kiến tạo cũng đặt ra cho Việt Nam nhiều yêu cầu, nguyên tắc và phương pháp tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước để đáp ứng khả năng áp dụng mô hình này ở Việt Nam. Những khả năng đó, thực sự là những đòi hỏi mà Việt Nam cần đạt được.

Thứ nhất, về nhận thức: Nhận thức về nhu cầu và yêu cầu của xây dựng Nhà nước kiến tạo ở Việt Nam vẫn chưa trở thành nhận thức chung trong xã hội, thậm chí, cả trong hệ thống các cơ quan nhà nước. Cuộc cách mạng này vẫn còn đang ở phía bên trên, chưa thấm sâu vào đời sống thực tiễn. Bởi lẽ, ngay trong chính một bộ phận đội ngũ cán bộ, công chức chưa thay đổi được nhận thức từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ, chưa thay đổi sang một Nhà nước kiến tạo thay vì Nhà nước quản lý. Đã có ý kiến cho rằng, bộ máy nhà nước không phục vụ người dân, không phục vụ doanh nghiệp thì phục vụ ai? Tại sao phải xây dựng Nhà nước kiến tạo thay cho Nhà nước quản lý? Tại sao công dân phải làm “đơn xin” mà không phải là “đơn yêu cầu”, “đơn đề nghị”? Vì vậy, công chức trong bộ máy nhà nước cần phải thay đổi tư duy từ quản lý sang phục vụ người dân và doanh nghiệp, xóa bỏ suy nghĩ đã là cán bộ, công chức là có quyền hành, là quản lý, là ban phát, là bắt buộc người dân phải xin mới cho…

Xa hơn nữa, đến nay, Đảng và Nhà nước ta cũng chưa minh định rõ nhu cầu và yêu cầu phải xây dựng một Nhà nước kiến tạo phát triển. Ngay cả trong Hiến pháp, mặc dù đã trực tiếp hoặc gián tiếp ghi nhận một số yếu tố liên quan đến Nhà nước kiến tạo phát triển, song nhìn chung, vai trò và chức năng kiến tạo phát triển của Nhà nước trong xã hội pháp quyền Việt Nam là chưa thực sự rõ.

Thứ hai, về hệ thống chính trị: Nhà nước Việt Nam tồn tại và hoạt động dưới sự lãnh đạo thống nhất và toàn diện của Đảng cầm quyền theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất và theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Vấn đề đặt ra là:

- Nếu chưa có sự ghi nhận trong các nghị quyết của Đảng và cũng chưa được luật hóa thì liệu Nhà nước có thể “chủ động” thực hiện các phương thức kiến tạo phát triển? Nhà nước kiến tạo phát triển là một Nhà nước năng động, linh hoạt và có trách nhiệm giải trình. Vì vậy, sự rành mạch giữa quyền lực lãnh đạo và quyền lực kiến tạo cần được làm rõ.

- Trong một Nhà nước kiến tạo thì vai trò của Chính phủ luôn là vị trí trung tâm. Đây là nơi chủ yếu hoạch định chính sách và kiến tạo, sáng tạo phát triển, vì vậy, liệu có sự ngăn cản độc lập và sáng tạo của Chính phủ trong kiến tạo phát triển khi Chính phủ chỉ là “cơ quan chấp hành của Quốc hội Việt Nam”.

- “Tập trung dân chủ” là nguyên tắc chủ đạo trong quản lý nhà nước xã hội chủ nghĩa sinh thời. Ngày nay, Nhà nước mà Việt Nam xây dựng là Nhà nước pháp quyền, kinh tế thị trường và kiến tạo phát triển. Theo đó, Nhà nước là Nhà nước phục vụ và cầm lái, tiếng nói của người dân và xã hội ảnh hưởng không nhỏ đến chính sách của Nhà nước. Trong khi, giá trị đích thực của tập trung dân chủ theo các khuôn mẫu của Nhà nước pháp quyền hiện tại vẫn còn khá mờ nhạt. Vì vậy, vấn đề đặt ra là, cần tính đến những nguyên tắc khác áp dụng trong tổ chức và quản trị một Nhà nước kiến tạo phát triển.

Thứ ba, sự can thiệp của Nhà nước: Theo kinh nghiệm của các nước đã thành công trong việc xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển, Nhà nước cần can thiệp đúng quy luật, quyết định mọi chính sách kinh tế, tạo nền tảng và điều kiện tốt để cho kinh tế phát triển. Ở Việt Nam hiện nay, Nhà nước không chỉ can thiệp sâu, cầm tay chỉ việc mà còn “làm thay”, không chỉ làm nhiệm vụ “lái thuyền”, mà còn làm cả nhiệm vụ “chèo thuyền”. Chính vì vậy, Nhà nước cần bớt can thiệp và “làm hộ” mà hãy tạo điều kiện để cho các ngành kinh tế phát triển. Nhà nước cần đưa ra những quyết sách kinh tế thông minh, phù hợp với hoàn cảnh để tạo nên sự đột phá về kinh tế, cần can thiệp đúng quy luật và phải xây dựng một bộ máy dân chủ có năng lực đủ khả năng đưa ra những quyết sách. Để làm được việc này, chúng ta cần cải tổ bộ máy, chỉ khi có một bộ máy với những công chức có phẩm chất đạo đức, có năng lực chuyên môn và làm việc trong môi trường dân chủ, thì mới đưa ra được những quyết sách đúng đắn.

Thứ tư, Nhà nước kiến tạo phát triển và pháp quyền: Một Nhà nước kiến tạo phát triển phải là một Nhà nước tuân thủ pháp quyền. Pháp luật trước hết ràng buộc Nhà nước và các cơ quan công quyền. Người dân được làm tất cả những gì pháp luật không cấm, nhưng quan chức nhà nước chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép. Từ việc xây dựng dự án, đề ra chính sách đến việc thực thi pháp luật, quan chức đều cần bảo đảm một cách chắc chắn rằng, pháp luật cho phép họ làm như vậy. Trước khi hành động, mọi cơ quan công quyền, mọi công chức thực thi công vụ đều phải chỉ ra được điều luật cho phép họ hành động. Việc áp dụng các chế tài của pháp luật nặng với dân, mà nhẹ với quan là không thể chấp nhận được. Đây cũng đang là một trong những nút thắt trong xây dựng Nhà nước kiến tạo ở Việt Nam hiện nay.

Thứ năm, Nhà nước kiến tạo phát triển và cạnh tranh: Nhà nước kiến tạo phát triển cũng là một Nhà nước cần biết tạo ra cạnh tranh lành mạnh để tất cả mọi chủ thể trong xã hội đều phải vươn lên và để thu hút được người tài. Thúc đẩy cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước và kiểm soát gắt gao những doanh nghiệp còn chiếm giữ vị thế độc quyền là rất quan trọng. Độc quyền không chỉ dẫn đến lạm quyền, mà còn làm cho hoạt động kinh tế kém hiệu quả và xã hội kém năng động. Một cơ chế để người tài được tuyển chọn cũng hết sức quan trọng. Một phần của cơ chế này là áp đặt chế độ trách nhiệm rất rõ ràng, để những người đứng đầu bắt buộc phải chọn cho được người tài (không chọn được người tài thì không thể hoàn thành được công việc). Tất nhiên, cũng phải trao quyền tuyển chọn cho những quan chức này. Trong lĩnh vực này, Việt Nam cũng đang hướng tới. Tuy nhiên, đây cũng chỉ là sự khởi đầu mà chưa có nhiều kết quả tích cực.

Tóm lại, Việt Nam đã có những tiền đề ban đầu rất cơ bản cho việc xây dựng một Nhà nước kiến tạo phát triển, nhưng nhìn chung, những tiền đề này chưa được phát huy mạnh mẽ, nhận thức về việc xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển ở Việt Nam vẫn chưa thấm được vào toàn bộ hệ thống nhà nước và xã hội. Để thực sự có được một Nhà nước kiến tạo phát triển, Việt Nam còn phải giải quyết nhiều vấn đề hệ trọng trong tổ chức lại đời sống nhà nước và xã hội.

PGS.TS. Nguyễn Như Phát

ThS. Nguyễn Thị Hưng

Viện Nhà nước và Pháp luật

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: