Thứ tư 11/03/2026 15:17
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Khả năng áp dụng mô hình nhà nước kiến tạo ở Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam đang có một số tiền đề ban đầu để xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển. Tuy nhiên, để hòa chung vào dòng chảy của nhân loại, cũng giống như xây dựng Nhà nước pháp quyền,

Tóm tắt: Việt Nam đang có một số tiền đề ban đầu để xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển. Tuy nhiên, để hòa chung vào dòng chảy của nhân loại, cũng giống như xây dựng Nhà nước pháp quyền, Nhà nước kiến tạo cũng đặt ra cho Việt Nam những yêu cầu, nguyên tắc và phương pháp tổ chức, thực hiện quyền lực nhà nước. Bài viết này phân tích về những yếu tố nền tảng và khả năng áp dụng mô hình Nhà nước kiến tạo ở Việt Nam.

Abstract: Vietnam has some primary premises for building a tectonic developing state model. However, in order to integrate into the flow of mankind, just like building a rule-of-law state, the tectonic state also sets for Vietnam requirements, principles and methods of organizing and exercising state power. This paper analyzes the foundations and applicability of a tectonic state model in Vietnam.

1. Nền tảng cho Nhà nước kiến tạo ở Việt Nam

Theo Điều 8 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 quy định: “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền”. Điều 52 Hiến pháp năm 2013 cũng quy định: “Nhà nước xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, điều tiết nền kinh tế trên cơ sở tôn trọng các quy luật thị trường; thực hiện phân công, phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước; thúc đẩy liên kết kinh tế vùng, bảo đảm tính thống nhất của nền kinh tế quốc dân”. Ngoài ra, trong các nghị quyết của Đảng và chính sách phát triển của Nhà nước vẫn luôn quán triệt quan điểm hướng tới một Nhà nước kiến tạo phát triển, theo đó, Nhà nước kiến tạo phát triển thì không làm thay dân, mà tạo khuôn khổ thể chế và mọi điều kiện cần thiết khác để từng người dân có thể mưu cầu hạnh phúc. Khi và chỉ khi người dân Việt Nam có điều kiện làm ăn dễ dàng, có năng lực làm chủ cuộc sống và sáng tạo tương lai, thì sự giàu có và thịnh vượng bền lâu mới đến với đất nước ta. Điều quan trọng là phải xây dựng được những khuôn khổ thể chế cần thiết để cho công việc làm ăn của người dân ngày một dễ dàng hơn. Quan trọng nhất ở đây là quyền tự do kinh doanh, quyền tự do khế ước và quyền sở hữu tài sản... phải được bảo đảm; sự minh bạch phải được tăng cường; quan hệ hợp đồng phải được tôn trọng và bảo vệ; các tranh chấp phải được giải quyết nhanh chóng và hiệu quả.

Thời gian gần đây, Chính phủ đã có nhiều cố gắng trong việc cắt giảm thủ tục hành chính để cải thiện môi trường kinh doanh, để cung cấp dịch vụ công tốt hơn và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước, đây là một cách làm đang ngày càng khác hơn so với trước. Tất cả những cố gắng trên đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong cách nghĩ và cách làm của chúng ta. Thực sự chúng ta đang đi những bước đầu tiên trên con đường chuyển đổi từ mô hình nhà nước quản lý toàn diện sang mô hình nhà nước kiến tạo phát triển.

Có thể nói rằng, ở Việt Nam đang xuất hiện những nền tảng để xây dựng một Nhà nước kiến tạo phát triển. Cụ thể:

- Về vai trò của Nhà nước: Nhà nước Việt Nam đã chuyển từ một Nhà nước toàn trị, tập trung quan liêu, bao cấp sang Nhà nước dân chủ, pháp quyền với vai trò là “người cầm lái” sự phát triển của đất nước, thay vì “người trực tiếp chèo thuyền” như trước đây. Nhà nước Việt Nam đang cố gắng thực hiện chức năng của mình là xây dựng quy hoạch phát triển theo một chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đúng đắn; tạo môi trường và điều kiện cho các thành phần kinh tế phát huy mọi tiềm năng trong môi trường cạnh tranh và hội nhập quốc tế; tăng cường giám sát để phát hiện các mất cân đối có thể xảy ra, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và an toàn hệ thống. Chính vì vậy, Nghị quyết của Đại hội Đảng lần XI đã xác định tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính là trọng tâm trong khâu đột phá về thể chế.

- Về bộ máy nhà nước: Theo Hiến pháp năm 2013, bộ máy nhà nước Việt Nam đã được tổ chức minh bạch hơn và ít nhiều đã có năng lực và trách nhiệm giải trình. Hệ thống hành chính nhà nước đã dần được chuyển từ tư duy cai trị sang tư duy phục vụ, định hướng thị trường và chịu sự giám sát của xã hội. Công cuộc cải cách hành chính bước đầu đã đạt được những thành công nhất định. Theo đó, hệ thống đã được tinh giản, mối quan hệ giữa các bộ phận của Nhà nước dần được mạch lạc và quyền lực được kiểm soát theo pháp luật. Hệ thống công chức được tuyển dụng và đạo tạo có chuyên môn nghiệp vụ tương đối phù hợp, hoạt động theo tinh thần “gần dân”.

- Về mối quan hệ nhà nước - thị trường và xã hội: Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, quyền tự do kinh doanh được ghi nhận trong Hiến pháp, theo đó, các doanh nghiệp được tự do làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm, đây là một nguyên tắc điển hình trong Nhà nước pháp quyền. Theo đó, mọi giới hạn của quyền tự do kinh doanh vì những mục tiêu hiến định đều phải được tiến hành theo những trình tự và thủ tục pháp lý nghiêm ngặt. Bên cạnh đó, động lực phát triển của kinh tế thị trường là cạnh tranh. Vì vậy, Nhà nước trong kinh tế thị trường phải bảo vệ và bảo hộ cạnh tranh công bằng, chống và cấm mọi hành vi sử dụng quyền lực nhà nước can thiệp làm méo mó thị trường cạnh tranh.

Trong quan hệ với xã hội, Nhà nước ta hiện nay đã có phần nào cởi mở hơn, ở nước ta, với gần 500 các hội, hiệp hội, tổ chức phi Chính phủ ở cấp quốc gia, hơn 6.000 các cấp hội ở cấp tỉnh và hàng vạn ở cấp xã, huyện..., các tổ chức xã hội này của công dân rất phong phú và đa dạng. Nó không phải là kết quả “chỉ định” của Nhà nước, mà xuất phát từ đòi hỏi và sự tự nguyện của chính người dân theo quy định của pháp luật, trước hết là để thỏa mãn các nhu cầu, lợi ích, mục đích hợp pháp của các thành viên. Do vậy, không thể quan niệm như trước xem các tổ chức xã hội là tổ chức ngoại vi được lập ra để ủng hộ mọi chính sách, pháp luật của Nhà nước, mà nó có tính độc lập và tích cực nhất định. Các tổ chức xã hội ở Việt Nam ngày càng có vai trò quan trọng hơn đối với hoạt động của Nhà nước, trong vai trò biểu đạt nguyện vọng, ý chí của xã hội - tiền đề hoạch định chính sách phát triển, kiến tạo và đặc biệt là vai trò phản biện các chính sách phát triển, quản trị quốc gia trong bối cảnh một đảng cầm quyền. Như thế, trong quan hệ với khu vực thứ ba của “tam giác phát triển”, Nhà nước Việt Nam đang hợp tác và ít nhiều chịu ảnh hưởng của các tổ chức xã hội trong việc thực hiện vai trò và chức năng của mình theo tinh thần kiến tạo phát triển.

2. Khả năng áp dụng mô hình Nhà nước kiến tạo ở Việt Nam

Quả thực, không có mô hình mẫu và giá trị duy nhất của Nhà nước kiến tạo phát triển. Tuy nhiên, với những tiền đề cơ bản nêu trên, chúng tôi cho rằng, Việt Nam đang có một số tiền đề ban đầu để xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển. Tuy nhiên, để hòa chung vào dòng chảy của nhân loại, cũng giống như xây dựng Nhà nước pháp quyền, Nhà nước kiến tạo cũng đặt ra cho Việt Nam nhiều yêu cầu, nguyên tắc và phương pháp tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước để đáp ứng khả năng áp dụng mô hình này ở Việt Nam. Những khả năng đó, thực sự là những đòi hỏi mà Việt Nam cần đạt được.

Thứ nhất, về nhận thức: Nhận thức về nhu cầu và yêu cầu của xây dựng Nhà nước kiến tạo ở Việt Nam vẫn chưa trở thành nhận thức chung trong xã hội, thậm chí, cả trong hệ thống các cơ quan nhà nước. Cuộc cách mạng này vẫn còn đang ở phía bên trên, chưa thấm sâu vào đời sống thực tiễn. Bởi lẽ, ngay trong chính một bộ phận đội ngũ cán bộ, công chức chưa thay đổi được nhận thức từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ, chưa thay đổi sang một Nhà nước kiến tạo thay vì Nhà nước quản lý. Đã có ý kiến cho rằng, bộ máy nhà nước không phục vụ người dân, không phục vụ doanh nghiệp thì phục vụ ai? Tại sao phải xây dựng Nhà nước kiến tạo thay cho Nhà nước quản lý? Tại sao công dân phải làm “đơn xin” mà không phải là “đơn yêu cầu”, “đơn đề nghị”? Vì vậy, công chức trong bộ máy nhà nước cần phải thay đổi tư duy từ quản lý sang phục vụ người dân và doanh nghiệp, xóa bỏ suy nghĩ đã là cán bộ, công chức là có quyền hành, là quản lý, là ban phát, là bắt buộc người dân phải xin mới cho…

Xa hơn nữa, đến nay, Đảng và Nhà nước ta cũng chưa minh định rõ nhu cầu và yêu cầu phải xây dựng một Nhà nước kiến tạo phát triển. Ngay cả trong Hiến pháp, mặc dù đã trực tiếp hoặc gián tiếp ghi nhận một số yếu tố liên quan đến Nhà nước kiến tạo phát triển, song nhìn chung, vai trò và chức năng kiến tạo phát triển của Nhà nước trong xã hội pháp quyền Việt Nam là chưa thực sự rõ.

Thứ hai, về hệ thống chính trị: Nhà nước Việt Nam tồn tại và hoạt động dưới sự lãnh đạo thống nhất và toàn diện của Đảng cầm quyền theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất và theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Vấn đề đặt ra là:

- Nếu chưa có sự ghi nhận trong các nghị quyết của Đảng và cũng chưa được luật hóa thì liệu Nhà nước có thể “chủ động” thực hiện các phương thức kiến tạo phát triển? Nhà nước kiến tạo phát triển là một Nhà nước năng động, linh hoạt và có trách nhiệm giải trình. Vì vậy, sự rành mạch giữa quyền lực lãnh đạo và quyền lực kiến tạo cần được làm rõ.

- Trong một Nhà nước kiến tạo thì vai trò của Chính phủ luôn là vị trí trung tâm. Đây là nơi chủ yếu hoạch định chính sách và kiến tạo, sáng tạo phát triển, vì vậy, liệu có sự ngăn cản độc lập và sáng tạo của Chính phủ trong kiến tạo phát triển khi Chính phủ chỉ là “cơ quan chấp hành của Quốc hội Việt Nam”.

- “Tập trung dân chủ” là nguyên tắc chủ đạo trong quản lý nhà nước xã hội chủ nghĩa sinh thời. Ngày nay, Nhà nước mà Việt Nam xây dựng là Nhà nước pháp quyền, kinh tế thị trường và kiến tạo phát triển. Theo đó, Nhà nước là Nhà nước phục vụ và cầm lái, tiếng nói của người dân và xã hội ảnh hưởng không nhỏ đến chính sách của Nhà nước. Trong khi, giá trị đích thực của tập trung dân chủ theo các khuôn mẫu của Nhà nước pháp quyền hiện tại vẫn còn khá mờ nhạt. Vì vậy, vấn đề đặt ra là, cần tính đến những nguyên tắc khác áp dụng trong tổ chức và quản trị một Nhà nước kiến tạo phát triển.

Thứ ba, sự can thiệp của Nhà nước: Theo kinh nghiệm của các nước đã thành công trong việc xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển, Nhà nước cần can thiệp đúng quy luật, quyết định mọi chính sách kinh tế, tạo nền tảng và điều kiện tốt để cho kinh tế phát triển. Ở Việt Nam hiện nay, Nhà nước không chỉ can thiệp sâu, cầm tay chỉ việc mà còn “làm thay”, không chỉ làm nhiệm vụ “lái thuyền”, mà còn làm cả nhiệm vụ “chèo thuyền”. Chính vì vậy, Nhà nước cần bớt can thiệp và “làm hộ” mà hãy tạo điều kiện để cho các ngành kinh tế phát triển. Nhà nước cần đưa ra những quyết sách kinh tế thông minh, phù hợp với hoàn cảnh để tạo nên sự đột phá về kinh tế, cần can thiệp đúng quy luật và phải xây dựng một bộ máy dân chủ có năng lực đủ khả năng đưa ra những quyết sách. Để làm được việc này, chúng ta cần cải tổ bộ máy, chỉ khi có một bộ máy với những công chức có phẩm chất đạo đức, có năng lực chuyên môn và làm việc trong môi trường dân chủ, thì mới đưa ra được những quyết sách đúng đắn.

Thứ tư, Nhà nước kiến tạo phát triển và pháp quyền: Một Nhà nước kiến tạo phát triển phải là một Nhà nước tuân thủ pháp quyền. Pháp luật trước hết ràng buộc Nhà nước và các cơ quan công quyền. Người dân được làm tất cả những gì pháp luật không cấm, nhưng quan chức nhà nước chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép. Từ việc xây dựng dự án, đề ra chính sách đến việc thực thi pháp luật, quan chức đều cần bảo đảm một cách chắc chắn rằng, pháp luật cho phép họ làm như vậy. Trước khi hành động, mọi cơ quan công quyền, mọi công chức thực thi công vụ đều phải chỉ ra được điều luật cho phép họ hành động. Việc áp dụng các chế tài của pháp luật nặng với dân, mà nhẹ với quan là không thể chấp nhận được. Đây cũng đang là một trong những nút thắt trong xây dựng Nhà nước kiến tạo ở Việt Nam hiện nay.

Thứ năm, Nhà nước kiến tạo phát triển và cạnh tranh: Nhà nước kiến tạo phát triển cũng là một Nhà nước cần biết tạo ra cạnh tranh lành mạnh để tất cả mọi chủ thể trong xã hội đều phải vươn lên và để thu hút được người tài. Thúc đẩy cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước và kiểm soát gắt gao những doanh nghiệp còn chiếm giữ vị thế độc quyền là rất quan trọng. Độc quyền không chỉ dẫn đến lạm quyền, mà còn làm cho hoạt động kinh tế kém hiệu quả và xã hội kém năng động. Một cơ chế để người tài được tuyển chọn cũng hết sức quan trọng. Một phần của cơ chế này là áp đặt chế độ trách nhiệm rất rõ ràng, để những người đứng đầu bắt buộc phải chọn cho được người tài (không chọn được người tài thì không thể hoàn thành được công việc). Tất nhiên, cũng phải trao quyền tuyển chọn cho những quan chức này. Trong lĩnh vực này, Việt Nam cũng đang hướng tới. Tuy nhiên, đây cũng chỉ là sự khởi đầu mà chưa có nhiều kết quả tích cực.

Tóm lại, Việt Nam đã có những tiền đề ban đầu rất cơ bản cho việc xây dựng một Nhà nước kiến tạo phát triển, nhưng nhìn chung, những tiền đề này chưa được phát huy mạnh mẽ, nhận thức về việc xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển ở Việt Nam vẫn chưa thấm được vào toàn bộ hệ thống nhà nước và xã hội. Để thực sự có được một Nhà nước kiến tạo phát triển, Việt Nam còn phải giải quyết nhiều vấn đề hệ trọng trong tổ chức lại đời sống nhà nước và xã hội.

PGS.TS. Nguyễn Như Phát

ThS. Nguyễn Thị Hưng

Viện Nhà nước và Pháp luật

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.

Theo dõi chúng tôi trên: