Thứ sáu 16/01/2026 00:33
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Khuôn khổ pháp lý của ASEAN về quyền con người và giải pháp hoàn thiện

Trong số các quốc gia ASEAN, Việt Nam là một trong các quốc gia có sự ổn định cao về chính trị, xã hội, mức độ phát triển kinh tế nhanh trong những năm gần đây. Việt Nam cũng là quốc gia có quan điểm, đường lối rõ ràng và chính sách cởi mở, tích cực trong công nhận, bảo vệ và bảo đảm các quyền con người. Bài viết này cung cấp các đánh giá chung đối với khuôn khổ pháp lý của ASEAN về nhân quyền, làm rõ thực trạng thiết chế hiện hành về thúc đẩy và bảo vệ quyền con người ở ASEAN. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số giải pháp trước mắt và lâu dài để hoàn thiện khuôn khổ pháp lý của ASEAN về quyền con người, trong đó có tính đến vai trò của Việt Nam trong tiến trình này.



1. Khuôn khổ thể chế và thiết chế pháp lý của ASEAN về quyền con người

Theo khoản 7 Điều 1 Hiến chương ASEAN thì một trong những mục tiêu của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á là thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền và các quyền tự do cơ bản của con người. Đối với ASEAN, do các đặc điểm riêng về văn hóa - xã hội, các nước ASEAN nhìn nhận các quyền của cá nhân phải đặt trong mối quan hệ hài hòa với quyền của các cá nhân khác, gia đình, cộng đồng và xã hội. Vì vậy, ASEAN có một hệ thống triết lý và chính sách công nhận, bảo vệ quyền con người tương đối đặc thù, trong đó, các yếu tố về văn hóa, chính trị, xã hội tại mỗi quốc gia luôn được xem xét đến, điều này thể hiện rõ trong các văn kiện pháp lý liên quan đến quyền con người của ASEAN.

1.1. Thể chế pháp lý của ASEAN về quyền con người

Mặc dù Hiến chương ASEAN ghi nhận mục tiêu thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền và các quyền tự do cơ bản của con người nhưng cho đến nay, ASEAN chưa xây dựng được một hệ thống các quy định về quyền con người mang tính quy phạm ràng buộc chung cho cả khu vực. ASEAN chỉ mới thông qua một số văn kiện mang tính cam kết chính trị, tự nguyện ghi nhận, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, gồm: Tuyên ngôn ASEAN về quyền con người năm 2012 (AHRD), Tuyên bố ASEAN về bảo vệ và thúc đẩy quyền của lao động di cư năm 2007, Đồng thuận của ASEAN về bảo vệ và thúc đẩy quyền của lao động di cư năm 2019..., trong đó, AHRD là văn bản quan trọng, có tính bao quát nhất của ASEAN về quyền con người.

Trong phạm vi bài viết này, để tránh đi sâu vào các các nhóm quyền hoặc các nhóm chủ thể quyền riêng biệt, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu AHRD. AHRD bao gồm 40 điều và được chia thành 07 phần là: Phần mở đầu; những nguyên tắc chung; các quyền dân sự và chính trị; các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; quyền phát triển; quyền hòa bình và hợp tác trong việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người.

Phần mở đầu và nguyên tắc chung (Điều 1 đến Điều 9) của AHRD khẳng định lại các cam kết của quốc gia thành viên ASEAN với Tuyên ngôn Nhân quyền của Liên Hợp Quốc (UDHR), Hiến chương Liên Hợp Quốc và các điều ước quốc tế về quyền con người mà các quốc gia ASEAN là thành viên; cũng như ghi nhận các nguyên tắc phổ quát về bảo vệ các quyền con người quan trọng như bình đẳng, không phân biệt đối xử, quyền được công nhận và bảo vệ trước pháp luật; đối xử cân bằng giữa các quyền, bảo đảm sự không thiên vị, khách quan… AHRD nhấn mạnh, các quốc gia ASEAN là chủ thể chịu trách nhiệm chính trong việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền, tự do cơ bản (Điều 6). Đặc biệt, AHRD cũng ghi nhận các nguyên tắc mang tính đặc thù của ASEAN như nguyên tắc cân bằng giữa quyền và trách nhiệm với cá nhân khác, cộng đồng và xã hội (Điều 6, Điều 8), việc hiện thực hóa các quyền phải tính đến hoàn cảnh khu vực, quốc gia có tính đến sự khác biệt của các quốc gia (Điều 7) và không chính trị hóa các vấn đề về quyền con người (Điều 9).

Về các quyền cụ thể (từ Điều 10 đến Điều 38), AHRD ghi nhận lại hầu hết các quyền quan trọng về kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa đã được nêu tại Tuyên ngôn Nhân quyền của Liên Hợp Quốc (UDHR). Đồng thời, AHDR cụ thể hơn một số quyền đã ghi nhận tại UDHR, ví dụ: AHRD ghi nhận một số quyền chưa được cụ thể tại UDHR như quyền về nước sạch và vệ sinh (khoản e Điều 28), quyền về môi trường an toàn, sạch và bền vững (khoản f Điều 28), quyền được bảo vệ khỏi sự phân biệt đối xử trong điều trị cho các cá nhân nhiễm HIV/AIDS (Điều 29). Đặc biệt, AHRD ghi nhận riêng biệt về quyền hòa bình của các cá nhân và các dân tộc (Điều 38). Đây là một quyền chưa từng được ghi nhận một cách trực tiếp hay gián tiếp trong UDHR[1].

Các điều 39, 40 của AHRD quy định cơ chế hợp tác giữa các quốc gia ASEAN trong thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, trong đó, Điều 40 AHRD nhấn mạnh, các quy định tại AHRD không thể được diễn giải hàm ý để làm tổn hại các nguyên tắc, mục đích hoạt động của ASEAN hay xâm phạm quyền và tự do được ghi nhận tại Tuyên ngôn hay các điều ước quốc tế khác về quyền con người mà các quốc gia ASEAN là thành viên.

Mặc dù AHRD có các nội dung khá tiến bộ về bảo vệ quyền con người nhưng AHRD là một văn kiện không ràng buộc. Do đó, tác động trên thực tế của nó đối với việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người tại khu vực ASEAN chưa thực sự rõ ràng.

1.2. Các thiết chế pháp lý của ASEAN về bảo vệ quyền con người

Năm 2009, ASEAN thành lập Ủy ban Liên Chính phủ ASEAN về nhân quyền (AICHR) trên cơ sở Điều 14 Hiến chương ASEAN. Nội dung, cách thức hoạt động của AICHR được cụ thể hóa tại Quy chế hoạt động của AICHR (Quy chế AICHR).

AICHR hướng tới mục đích “duy trì các tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế” và “thúc đẩy nhân quyền trên cơ sở bối cảnh khu vực, ghi nhớ tính đặc thù của từng nước và của khu vực, tôn trọng sự khác biệt về lịch sử, văn hóa và tôn giáo, có tính đến sự cân bằng giữa quyền lợi và trách nhiệm” (Điều 1) thống nhất với nguyên tắc hoạt động của ASEAN tại các điểm i, l khoản 2 Điều 2 Hiến chương ASEAN. Các nguyên tắc hoạt động khác của AICHR cũng được quy định tại Điều 2 Quy chế AICHR và nhắc lại hầu hết các nguyên tắc của ASEAN tại Hiến chương. Tuy nhiên, khoản 3 Điều 2 Quy chế AICHR cũng khẳng định rằng, các quốc gia thành viên ASEAN có trách nhiệm chính trong việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người và các quyền tự do cơ bản.

AICHR được xác định là cơ quan tư vấn trong cơ cấu tổ chức ASEAN (Điều 3 Quy chế AICHR). AICHR đảm nhiệm 14 chức năng, nhiệm vụ (Điều 4 Quy chế AICHR), trong đó, có thực hiện tham vấn, hỗ trợ kỹ thuật cho quốc gia thành viên ASEAN cũng như tham vấn ý kiến với tổ chức quốc tế, quốc gia ngoài ASEAN và các tổ chức khác có liên quan về vấn đề quyền con người. Nhiệm vụ của AICHR cũng có thể mở rộng tới bất kỳ nội dung nào khác theo giao việc từ Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN (Điều 4.14 Quy chế AICHR). Tính đến nay, các hoạt động chính của AICHR chủ yếu liên quan đến việc thúc đẩy các quyền con người ở khu vực thông qua hoạt động nghiên cứu, tuyên truyền, chia sẻ kinh nghiệm tốt... Mặc dù có chức năng tham vấn (Điều 4.6 Quy chế AICHR), tuy nhiên, chưa có thông tin công khai về việc thực hiện hoạt động tham vấn của AICHR với quốc gia thành viên ASEAN.

Về cơ cấu tổ chức, Điều 5 Quy chế AICHR xác định thành viên của Ủy ban là đại diện của các quốc gia thành viên; được lựa chọn trên cơ sở trình độ chuyên môn và uy tín của họ trong lĩnh vực quyền con người, có sự cân nhắc tới yếu tố bình đẳng giới. Hầu hết đại diện các quốc gia tại AICHR là quan chức ngoại giao đang tại chức hoặc đã nghỉ hưu và một số ít là các chuyên gia độc lập, luật sư[2]. Bên cạnh đó, kể từ khi được thành lập vào năm 2007 đến nay, chỉ có khoảng 30% đại diện tại AICHR là nữ. Các thành viên của AICHR sẽ làm việc với nhiệm kỳ 03 năm và có thể được bổ nhiệm thêm 01 nhiệm kỳ tiếp theo. Chủ tịch AICHR là đại diện của quốc gia giữ chức Chủ tịch ASEAN (chức vụ này được luân phiên giữa các quốc gia ASEAN)[3].

Về nguồn lực, hoạt động của AICHR được bảo đảm từ ngân sách của ASEAN (được tài trợ bởi các quốc gia trên cơ sở tự nguyện và các nguồn tài trợ khác) (các điều 8.2 - 8.6 Quy chế AICHR). Việc sử dụng ngân sách cho hoạt động của AICHR phải được lập kế hoạch theo năm và do Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN xem xét, phê chuẩn (Điều 8.2 Quy chế AICHR). Hiện nay, chưa có nhiều thông tin công khai về mức ngân sách được phê duyệt hàng năm của AICHR nhưng mức ngân sách hàng năm được dự đoán là không cao do kinh phí khởi điểm của AICHR được các quốc gia thành viên ASEAN đóng góp khi thành lập chỉ khoảng 200.000 USD[4]. Kinh phí hoạt động từ năm 2010 đến năm 2018 của AICHR là khoảng 6 triệu USD và dành cho 21 hoạt động được các quốc gia thành viên thông qua[5]. Về hỗ trợ nhân lực, AICHR không có bộ máy riêng. Ban Thư ký ASEAN chịu trách nhiệm hỗ trợ nhân lực cho AICHR (dưới hình thức kiêm nhiệm).

Ngoài AICHR, hiện nay, ASEAN đã thành lập thêm Ủy ban Liên Chính phủ về thúc đẩy và bảo vệ quyền của phụ nữ và trẻ em (ACWC) và Ủy ban Liên Chính phủ về thúc đẩy và bảo vệ quyền của lao động di cư (ACMW). Tương tự AICHR, ACWC và ACMW cũng là các cơ quan tư vấn thuộc ASEAN nhưng giới hạn phạm vi hoạt động ở các khía cạnh quyền con người cụ thể là quyền của phụ nữ và trẻ em và quyền của người lao động di cư[6]. Mặc dù quy chế hoạt động của các Ủy ban nói trên cho phép sự phối hợp giữa các Ủy ban nhưng trên thực tế, sự hợp tác, phối hợp giữa các Ủy ban này chưa cao.

Có thể thấy, việc thành lập AICHR là một đột phá, tiến bộ trong việc thiết lập cơ chế bảo vệ và bảo đảm quyền con người của các quốc gia ASEAN nhưng cũng còn một số điểm hạn chế sau đây:

Thứ nhất, AICHR là cơ quan tư vấn của ASEAN nên bị giới hạn về chức năng, nhiệm vụ hơn so với các thiết chế bảo vệ quyền con người trên cơ sở các chuẩn mực của Liên Hợp Quốc.

Thứ hai, đối với chức năng tư vấn, Điều 4.9 và các quy định khác tại Quy chế AICHR cũng chưa chỉ rõ phương thức mà cơ quan này thực hiện chức năng tư vấn cho các quốc gia. Hiện nay chưa rõ chức năng này của AICHR được kích hoạt trên cơ sở yêu cầu của quốc gia thành viên hay AICHR có thể chủ động đưa ra tư vấn khi nhận thấy các nguy cơ, sự kiện về quyền con người.

Bên cạnh đó, hoạt động thường niên của AICHR được lên kế hoạch và được thông qua bởi Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN trên nguyên tắc đồng thuận (Điều 6.1, Điều 8.1 Quy chế AICHR và Điều 20 Hiến chương ASEAN). Trong khi đó, mỗi quốc gia ASEAN có những mối quan tâm rất khác nhau liên quan đến quyền con người nên các hoạt động của AICHR chỉ giới hạn chủ yếu ở nghiên cứu, hội thảo, tọa đàm nhằm chia sẻ kinh nghiệm ở một số chủ đề như quyền của phụ nữ, trẻ em, quyền được sống, phòng chống tra tấn...

Thứ ba, AICHR dường như chưa nhận được sự hỗ trợ cần thiết để có thể thực hiện các chức năng, nhiệm vụ được giao một cách hiệu quả. AICHR bị giới hạn về tài chính, nhân lực.

Những hạn chế nêu trên cũng tồn tại ở các thiết chế về quyền con người khác của ASEAN như ACWC hay ACMW.

2. Giải pháp hoàn thiện khuôn khổ thể chế và thiết chế pháp lý của ASEAN về quyền con người

Trong nhiều năm, các học giả đã đưa ra các phương hướng cải tổ nhằm giúp ASEAN có một cơ chế thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người một cách hiệu quả hơn, trong đó, có các gợi ý về việc thông qua một văn kiện pháp lý có tính ràng buộc trên cơ sở AHRD và thành lập Tòa án về quyền con người trên cơ sở AICHR. Tuy nhiên, để thực hiện các hoạt động như vậy đòi hỏi sự cải tổ sâu, rộng của khuôn khổ pháp lý về quyền con người ASEAN và cần tiến hành trong một giai đoạn dài[7]. Do đó, song song với việc nghiên cứu, thực hiện một giải pháp dài hạn, có tính can thiệp như vậy, các quốc gia ASEAN có thể cân nhắc tới các giải pháp ngắn hạn và ít can thiệp hơn để dần nâng cao hiệu quả của cơ chế hiện có như:

Thứ nhất, xây dựng cơ chế báo cáo tự nguyện về tình hình thúc đẩy và bảo vệ quyền con người. Theo đó, các quốc gia có thể tự nguyện, chủ động thông tin tình hình ghi nhận, bảo vệ, bảo đảm quyền con người của mình và tiếp nhận khuyến nghị từ các quốc gia ASEAN khác. Cơ chế này có thể tương tự như các cơ chế báo cáo định kỳ dựa trên các điều ước quốc tế hay cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) mà các quốc gia ASEAN đang thực hiện. Tuy nhiên, nội dung báo cáo tự nguyện sẽ chủ yếu dựa trên nội dung của AHRD. Thông tin, kinh nghiệm mà các quốc gia trao đổi theo phương thức này sẽ toàn diện, chính thức hơn cơ chế trao đổi thông tin, kinh nghiệm tốt theo các chủ đề hẹp mà AICHR hay các thiết chế hiện có đang thực hiện.

Thứ hai, nghiên cứu, sửa đổi Quy chế AICHR và quy chế hoạt động của các thiết chế hiện có để tăng hiệu lực, hiệu quả của các thiết chế này, trong đó:

- Xác định rõ ràng hơn và bổ sung các nhiệm vụ, chức năng về “bảo đảm quyền con người” cho các thiết chế như AICHR, ACWC và ACMW. Chức năng tham vấn của các thiết chế này cũng nên được xác định rõ ràng về phương thức thực hiện.

- Hoàn thiện quy định cơ cấu thành viên của các Ủy ban để tăng mức độ độc lập của các thiết chế này.

- Quy định các thiết chế về quyền con người của ASEAN phải có sự phối hợp chặt chẽ hơn.

Thứ ba, tập trung các hoạt động của AICHR và các thiết chế hiện có vào thúc đẩy các quốc gia thành viên gia nhập các điều ước quốc tế cốt lõi về quyền con người của Liên Hợp Quốc, đặc biệt là ICCPR, ICESCR.

Trên thực tế, trong những năm gần đây, ASEAN cũng đã chủ động thực hiện một số hoạt động cải tổ cơ chế thúc đẩy và bảo vệ quyền con người tại khu vực. Điều này có thể thấy rõ qua các kế hoạch hành động dài hạn của AICHR giai đoạn 2021 - 2025. Theo Kế hoạch giai đoạn 2021 - 2025, các hoạt động được đề ra để tăng cường hiệu quả của AICHR đã được thiết kế rõ ràng, thiết thực, trong đó xác định rõ các hoạt động tham vấn, đưa ra khuyến nghị để hiện thực hóa AHRD tại các quốc gia thành viên (Lĩnh vực ưu tiên 1.1); chia sẻ kinh nghiệm và tăng cường hiệu quả hoạt động báo cáo định kỳ của các quốc gia thành viên theo các cơ chế bảo vệ quyền con người quốc tế (Lĩnh vực ưu tiên 1.2); thúc đẩy các hoạt động làm việc thực địa của AICHR tại các quốc gia thành viên trên cơ sở tự nguyện (Lĩnh vực ưu tiên 2.2)…

3. Vai trò của Việt Nam trong tiến trình cải tổ thể chế và thiết chế pháp lý của ASEAN về quyền con người

Trong số các quốc gia ASEAN, Việt Nam là một trong các quốc gia có sự ổn định cao về chính trị, xã hội, mức độ phát triển kinh tế nhanh trong những năm gần đây. Điều này tạo cho Việt Nam những điều kiện thuận lợi để thúc đẩy và bảo vệ quyền con người. Việt Nam cũng là quốc gia có quan điểm, đường lối rõ ràng và chính sách cởi mở, tích cực trong công nhận, bảo vệ và bảo đảm các quyền con người. Điều này thể hiện ở mức độ tham gia sâu, rộng của Việt Nam vào các cơ chế bảo vệ quyền con người ở tầm toàn cầu, khu vực. Việt Nam đã gia nhập 7/9 điều ước “cốt lõi” về quyền con người của Liên Hợp Quốc. Việt Nam cũng tham gia đầy đủ, chủ động vào cơ chế rà soát định kỳ phổ quát về quyền con người với số lượng khuyến nghị chấp thuận rất lớn. Kết quả thực hiện các khuyến nghị đã chấp thuận rất tích cực, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Việt Nam cũng đã được tín nhiệm bầu là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2014 - 2016 và đang ứng cử là thành viên nhiệm kỳ 2023 - 2025. Ngoài các cơ chế liên quan trực tiếp đến quyền con người kể trên, Việt Nam cũng tham gia tích cực vào các điều ước quốc tế của Liên Hợp Quốc trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục (các điều ước quốc tế của UNESCO), lao động (điều ước quốc tế của ILO), bảo vệ môi trường... Bên cạnh đó, Việt Nam tham gia chủ động, tích cực trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs).

Trên thực tế, Việt Nam đạt được nhiều thành tựu trong thúc đẩy, bảo vệ quyền con người. Kết quả thực hiện các SDGs của Việt Nam cũng rất khả quan với nhiều kết quả tích cực trong giảm nghèo đa chiều; tăng mức độ phổ cập của bảo hiểm y tế; đảm bảo tỷ lệ đến trường của trẻ em; đảm bảo mức độ tham gia cao của phụ nữ trong quản lý xã hội; tăng tỷ lệ hộ gia đình tiếp cận nước sạch, điện, internet[8]… Các nỗ lực trong thúc đẩy và bảo vệ quyền con người của Việt Nam cũng thể hiện rõ nét trong giai đoạn phòng, chống đại dịch Covid-19 vừa qua. Sau nhiều làn sóng dịch bệnh, Việt Nam vẫn duy trì hệ thống y tế phòng, chống dịch hiệu quả, tạo điều kiện cho việc tiếp tục phát triển kinh tế; người dân vẫn được tạo điều kiện để thụ hưởng các quyền con người ở mức cao, đặc biệt là các quyền tự do đi lại, tiếp cận thông tin, chăm sóc y tế, học tập... Tính đến nay, Việt Nam vẫn là quốc gia ASEAN có tỉ lệ người nhiễm bệnh thấp trong khu vực[9], là quốc gia được dự đoán có khả năng duy trì mức tăng tổng sản lượng nội địa (GDP) cao nhất khu vực[10].

Việt Nam cũng là một trong các quốc gia hoạt động tích cực, thiện chí của ASEAN. Trong năm 2020, dù chịu ảnh hưởng lớn bởi đại dịch Covid-19, Việt Nam vẫn hoàn thành tốt vai trò Chủ tịch ASEAN và Chủ tịch AICHR. Trong nhiệm kỳ Chủ tịch của mình, Việt Nam đã chủ động, tích cực thúc đẩy các chương trình nghị sự quan trọng nhằm thúc đẩy và bảo vệ quyền con người trong khu vực trên cơ sở tuân thủ Quy chế AICHR, Hiến chương ASEAN… Các cuộc họp thường kỳ của AICHR được Việt Nam duy trì thông qua các cuộc họp trực tuyến. Kế hoạch giai đoạn 2021 - 2025 của AICHR với nhiều điểm tiến bộ cũng được thông qua trong năm Chủ tịch ASEAN của Việt Nam[11].

Từ những khía cạnh này, có thể thấy rằng, trong tương lai, Việt Nam có cơ hội và các điều kiện thuận lợi để tham gia sâu hơn nữa vào tiến trình cải tổ cơ chế thúc đẩy và bảo vệ quyền con người của ASEAN. Những kinh nghiệm của Việt Nam trong việc gia nhập, thực hiện các nghĩa vụ theo các điều ước quốc tế về quyền con người của Liên Hợp Quốc cũng như hiện thực hóa các quy định của AHRD có giá trị tham khảo cao đối với các quốc gia ASEAN; đồng thời, đây cũng là cơ sở để Việt Nam có thể đề xuất các sáng kiến, giải pháp khả thi giúp hoàn thiện cơ chế thúc đẩy và bảo vệ quyền con người của ASEAN.

TS. Trần Anh Tuấn & ThS. Phạm Thùy Linh
Vụ Pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp



[1]. Mặc dù được thảo luận từ những năm 80 của thế kỷ XX thông qua Tuyên ngôn về quyền được hòa bình của các dân tộc, đến năm 2016, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc mới thông qua Tuyên ngôn về quyền hòa bình (Nghị quyết A/71/189) ghi nhận quyền được hưởng sự hòa bình của các cá nhân như một quyền con người, truy cập tại https://www.refworld.org/docid/589c72134.html.

Xem thêm tại: Christian Guillermet Fernandez và David Fernandez Puyana, The Adoption of the Declaration on the Right to Peace by the United Nations: a Human Rights Landmark, Peace Human Rights Governance, tập 1, Số 2 năm 2017, truy cập tại http://phrg.padovauniversitypress.it/system/files/papers/2017_2_6.pdf .

[2]. Solidarity to Asian People’s Advocacy/ Task Force on ASEAN and Human Rights, A report on the performance of the ASEAN Human Rights Mechanism in 2016: Have they passed the limit test?, năm 2016, trang 15 và AICHR, AICHR Representatives 2016 -2018, truy cập tại https://aichr.org/aichr-representatives-1/.

[3]. Khoản 5.9 Quy chế AICHR.

[4]. Yuyun Wahyuningrum (2014), The ASEAN Intergovernmental Commission on Human Rights: Origins, Evolution and the Way Forward, International Institute for Democracy and Electoral Assisstance, Stockholm, trang 15, truy cập tại https://www.idea.int/sites/default/files/publications/the-asean-intergovernmental-commission-on-human-rights-origins-evolution-and-the-way-forward.pdf.

[5]. Joint Statement: ASEAN needs a stronger human rights mechanism, ReliefWeb, truy cập tại https://reliefweb.int/report/world/joint-statement-asean-needs-stronger-human-rights-mechanism (ngày 10/5/2019).

[6]. AICHR được thành lập dựa trên Điều 14 Hiến chương ASEAN và có Quy chế được thông qua bởi Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao. AICHR do đó thuộc Cộng đồng Chính trị - An ninh của ASEAN. Trong khi đó, ACWC được thành lập dựa trên Quy chế được thông qua bởi Hội nghị Bộ trưởng về phúc lợi xã hội và phát triển và do đó, thuộc Cộng đồng Văn hóa - Xã hội của ASEAN. Thông tin xin xem thêm tại https://www.upr-info.org/en/upr-process/what-is-it/brief-history-of-the-upr và https://acwc.asean.org/about/.

[7]. Phan Duy Hao (2019), “A Blueprint For a Southease Asian Court of Human Rights”, Asian-Pacific Law & Policy Journal, Vol 10 (2).

[8]. UNDP, Sustainable Development Goals: Vietnam, truy cập tại https://sustainabledevelopment.un.org/ memberstates/vietnam.

[9]. Center for Strategic & International Studies, Southeast Asia Covid-19 Tracker, truy cập tại https://www.csis.org/programs/southeast-asia-program/southeast-asia-covid-19-tracker-0.

[10]. Center for Strategic & International Studies, Southeast Asia Covid-19 Tracker, tlđd; xem thêm tại ASEAN, Policy Brief – Economic Impact of Covid-19 Outbreak on ASEAN, truy cập tại https://asean.org/storage/2020/04/ASEAN-Policy-Brief-April-2020_FINAL.pdf (tháng 4/2020) và Aaron O’Neil, Gross Domestic Product of the ASEAN countries from 2010 to 2020, Statista, truy cập tại https://www.statista.com/statistics/796245/gdp-of-the-asean-countries/ (ngày 01/4/2021).

[11]. ASEAN đánh giá cao vai trò dẫn dắt của Việt Nam trong AICHR, Công an nhân dân Online, truy cập tại http://cand.com.vn/Su-kien-Binh-luan-thoi-su/ASEAN-danh-gia-cao-vai-tro-dan-dat-cua-Viet-Nam-trong-AICHR-621280/ (ngày 26/11/2020).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.

Theo dõi chúng tôi trên: