Thứ ba 28/07/2026 15:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Khuyến khích và bảo vệ cán bộ trẻ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung - Cơ sở chính trị, pháp lý, thực tiễn và đề xuất, kiến nghị hoàn thiện thể chế

Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đã đặt ra các mục tiêu hướng tới: Hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, nhân đạo, đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, kịp thời, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận, “mở đường cho đổi mới sáng tạo”, phát triển bền vững và cơ chế tổ chức thực hiện pháp luật nghiêm minh, nhất quán và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức “có đủ phẩm chất, năng lực, chuyên nghiệp, liêm chính, chí công, vô tư.

1. Cơ sở lý luận, chính trị, pháp lý và thực tiễn để kiến nghị hoàn thiện thể chế về khuyến kích và bảo vệ cán bộ trẻ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung

1.1. Cơ sở chính trị

1.1.1. Quan niệm và vai trò của cán bộ trẻ

Ở một số quốc gia trên thế giới, việc xác định đối tượng lao động trẻ qua các khảo sát về độ tuổi đối với đội ngũ nhân sự làm việc trong Nhà nước[1] có sự tương đồng, được xác định nằm trong khoảng từ 18 tuổi đến 34 tuổi. Quy định số 50-QĐ/TW ngày 27/12/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về công tác quy hoạch cán bộ (Quy định số 50-QĐ/TW) xác định: Cán bộ trẻ là cán bộ dưới 45 tuổi đối với trung ương; dưới 40 tuổi đối với cấp tỉnh, cấp huyện[2]. Theo quy định của Luật Thanh niên năm 2020 thì thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi. Trong phạm vi bài viết này, nhóm tác giả quan niệm, cán bộ trẻ bao gồm cán bộ, công chức, viên chức, người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo quy định của Chính phủ, người thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu với độ tuổi được xác định theo Quy định số 50-QĐ/TW.

Cán bộ trẻ nói chung và cán bộ là thanh niên nói riêng giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của một quốc gia. Luật Thanh niên năm 2020 đã xác định, thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, xung kích, sáng tạo, “đi đầu trong công cuộc đổi mới”, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; có vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội; đồng thời, quy định thanh niên có trách nhiệm: Chủ động đề xuất ý tưởng, sáng kiến trong quá trình xây dựng chính sách, pháp luật; tham gia quản lý nhà nước và xã hội… xung kích, sáng tạo, đi đầu trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ độc lập, giữ vững chủ quyền, an ninh quốc gia, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; đảm nhận công việc khó khăn, gian khổ, cấp bách khi Tổ quốc yêu cầu.

Có thể nói, cán bộ trẻ là lực lượng đông đảo, dồi dào trong hệ thống bộ máy, là đội ngũ lãnh đạo kế cận, nòng cốt. Qua khảo sát ở các cơ quan, đơn vị, địa phương, nhiều đồng chí cán bộ trẻ nhanh chóng khẳng định được trình độ, năng lực chuyên môn trong thực tiễn công việc; tham gia tích cực vào hoạch định chính sách, giải quyết các khâu yếu, điểm nghẽn, việc khó và được minh chứng qua những sản phẩm cụ thể mang tính định lượng. Trong công tác, cán bộ trẻ nhìn chung đều mang trong mình tinh thần nhiệt huyết, sự trẻ trung, ham học hỏi, tìm tòi, dấn thân nhằm tìm ra phương án tốt, cách làm hay để giải quyết vấn đề đòi hỏi trong thực tiễn; đồng thời, có thể tạo ra động lực phát triển mới từ những tư duy đột phá cho hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo[3].

1.1.2. Chủ trương của Đảng, Nhà nước về việc khuyến khích và bảo vệ cán bộ trẻ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung

Trong thời gian qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách về việc bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm nói chung (trong đó, bao gồm lực lượng cán bộ trẻ) với mục tiêu khơi dậy và phát huy lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm cống hiến, phục vụ của đội ngũ cán bộ với tinh thần đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám dấn thân, dám chịu trách nhiệm... cụ thể như sau:

Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đã đặt ra các mục tiêu hướng tới: Hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, nhân đạo, đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, kịp thời, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận, “mở đường cho đổi mới sáng tạo”, phát triển bền vững và cơ chế tổ chức thực hiện pháp luật nghiêm minh, nhất quán và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức “có đủ phẩm chất, năng lực, chuyên nghiệp, liêm chính, chí công, vô tư.

Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 17/11/2022 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới đề ra các nhiệm vụ đối với công tác cán bộ, trong đó yêu cầu: Thể chế chủ trương của Đảng về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Đặc biệt, Kết luận số 14-KL/TW ngày 22/9/2021 của Bộ Chính trị về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung (Kết luận số 14-KL/TW) đã xác định nhiệm vụ cần đặc biệt quan tâm trong giai đoạn hiện nay là xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, có bản lĩnh chính trị, trí tuệ, gương mẫu, quyết tâm đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, sẵn sàng đương đầu với khó khăn, thử thách, luôn nỗ lực hành động vì lợi ích chung. Đây là cơ sở chính trị quan trọng để nghiên cứu “thể chế hóa” thành pháp luật đối với việc khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm nói chung và cán bộ trẻ dám nghĩ, dám làm nói riêng. Để hiện thực hóa chủ trương này, Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu đối với các cấp ủy, tổ chức Đảng cần:

Thứ nhất, tạo sự thống nhất cao trong toàn Đảng và đồng thuận trong xã hội về chủ trương khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung.

Thứ hai, trong quá trình thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, xuất phát từ yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn, khuyến khích cán bộ có tư duy sáng tạo, cách làm đột phá, tháo gỡ, giải quyết những điểm nghẽn, nút thắt trong cơ chế, chính sách, tập trung vào những vấn đề chưa được quy định hoặc đã có quy định nhưng không phù hợp với thực tiễn, mang lại giá trị, hiệu quả thiết thực.

Thứ ba, đề xuất đổi mới sáng tạo của cán bộ phải báo cáo với người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị nơi công tác; được cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định cho thực hiện hoặc thực hiện thí điểm, bảo đảm không trái với Hiến pháp và Điều lệ Đảng.

Thứ tư, thường xuyên theo dõi, kiểm tra, giám sát quá trình triển khai thực hiện thí điểm các đề xuất đổi mới sáng tạo… khi cán bộ thực hiện thí điểm mà kết quả không đạt hoặc chỉ đạt được một phần mục tiêu đề ra hoặc gặp rủi ro, xảy ra thiệt hại thì cấp có thẩm quyền phải kịp thời xác định rõ nguyên nhân khách quan, chủ quan, đánh giá công tâm để xem xét, xử lý phù hợp, nếu thực hiện đúng chủ trương, có động cơ trong sáng, vì lợi ích chung thì được xem xét miễn hoặc giảm nhẹ trách nhiệm...

Đội ngũ cán bộ trẻ, xét ở một góc độ nhất định, sở hữu những lợi thế về sức khỏe thể chất, nhiệt huyết, tư duy nhạy bén, nhanh nhạy, khả năng nắm bắt cơ hội; đồng thời, đây là đội ngũ có trình độ, năng lực chuyên môn tốt nhờ được hưởng thụ nền giáo dục phát triển, bài bản và có thích ứng nhanh với sự thay đổi của xã hội trong kỷ nguyên số cũng như thời đại hội nhập. Nhắc đến cán bộ trẻ là nhắc đến tinh thần tiên phong, xung kích, không ngại khó, ngại khổ; luôn tìm tòi, sáng tạo, đổi mới trong công việc, có nhiều hoài bão cống hiến cho xã hội, đất nước. Do đó, với các chủ trương, đường lối nêu trên, có lẽ, đội ngũ cán bộ trẻ hơn lúc nào hết rất cần một “hành lang pháp lý” được cụ thể hóa từ cơ sở chính trị (đặc biệt là Kết luận số 14-KL/TW) nhằm tạo động lực thúc đẩy hơn nữa tư duy sáng tạo, đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm trong quá trình thực thi chức trách, nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó.

1.2. Cơ sở pháp lý

Hiện nay, Bộ Nội vụ đang xây dựng và trình Chính phủ Nghị định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung[4]. Tuy nhiên, qua nghiên cứu bước đầu, nhóm tác giả nhận thấy, các quy định của pháp luật có liên quan đến cơ chế bảo vệ và khuyến khích cán bộ trẻ dám nghĩ, dám làm… đang được quy định rải rác ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật với thẩm quyền ban hành và phạm vi điều chỉnh khác nhau, đặc biệt là các quy định thuộc tầm luật do Quốc hội ban hành. Do vậy, việc xây dựng khung pháp lý cho vấn đề này cần được nghiên cứu, xem xét thận trọng, kỹ lưỡng, toàn diện để bảo đảm tính khả thi và sự phù hợp về thẩm quyền, chẳng hạn như:

- Pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức: Đã có các quy định về chính sách phát hiện, thu hút, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng đối với người có tài năng; quy định về quản lý, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức;... Tuy nhiên, với yêu cầu khuyến khích và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) chỉ quy định khen thưởng đối với cán bộ, công chức do có thành tích xuất sắc hoặc công trạng thì được nâng lương trước thời hạn, được ưu tiên khi xem xét bổ nhiệm chức vụ cao hơn nếu cơ quan, tổ chức, đơn vị có nhu cầu (Điều 76); đồng thời, Luật cũng chưa có quy định về việc miễn trách nhiệm đối với cán bộ, công chức trong trường hợp dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới nhưng quá trình thực hiện chưa thành công (Điều 77)…

- Pháp luật về hình sự: Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định loại trừ trách nhiệm hình sự đối với rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ (Điều 25); miễn trách nhiệm hình sự (Điều 29); giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (Điều 51)… Như vậy, các quy định này thuộc thẩm quyền ban hành của Quốc hội, do đó, tương tự các quy định miễn trách nhiệm xử lý kỷ luật tại Luật Cán bộ, công chức, để bảo đảm thể chế hóa Kết luận số 14-KL/TW đối với vấn đề xem xét miễn hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hoặc hành chính đối với cán bộ trẻ dám nghĩ, dám làm thì thẩm quyền sửa đổi, bổ sung các quy định này (nếu có) cũng thuộc về Quốc hội.

- Pháp luật về khoa học - công nghệ và sở hữu trí tuệ: Đã có các quy định về bảo hộ sáng chế; cơ chế, chính sách và biện pháp đào tạo thu hút đội ngũ nhân lực khoa học - công nghệ; chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả nghiên cứu và phát triển công nghệ...; đào tạo, bồi dưỡng nhân tài về khoa học công nghệ;… Tuy nhiên, Luật Khoa học và công nghệ năm 2013 lại có quy định về nhiệm vụ khoa học và công nghệ (được tổ chức dưới hình thức chương trình, đề tài, dự án, nhiệm vụ nghiên cứu theo chức năng của tổ chức khoa học và công nghệ và các hình thức khác) kèm theo các quy định về đề xuất, thẩm quyền phê duyệt, ký hợp đồng, giao nhiệm vụ khoa học… tương đối chặt chẽ. Như vậy, câu hỏi đặt ra là, trường hợp cán bộ trẻ đề xuất thực hiện thí điểm cách làm đột phá, tháo gỡ, giải quyết những điểm nghẽn theo quy định của Luật Khoa học và công nghệ thì quy trình đề xuất, báo cáo, cho phép thực hiện ý tưởng thí điểm sẽ áp dụng theo quy trình của Luật Khoa học và công nghệ hay quy định về trình tự, thủ tục đề xuất và phê duyệt đề xuất đổi mới sáng tạo tại dự thảo văn bản do Bộ Nội vụ soạn thảo?

- Pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật: Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện hành chỉ quy định thẩm quyền của Quốc hội trong việc ban hành nghị quyết để “thí điểm” một số chính sách mới chưa có luật điều chỉnh hoặc khác với quy định của luật hiện hành nhưng lại chưa quy định cho các chủ thể khác có thẩm quyền này trong phạm vi quản lý. Như vậy, giả sử cán bộ đề xuất giải pháp để thí điểm một chính sách thuộc thẩm quyền quyết định của Chính phủ nhưng khác hoặc không có quy định tại nghị định do Chính phủ ban hành thì Chính phủ chưa có cơ sở pháp lý tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện[5].

1.3. Cơ sở thực tiễn về khuyến khích và bảo vệ cán bộ trẻ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung

Trong giai đoạn hiện nay, việc phát huy tinh thần đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung của cán bộ trẻ vẫn còn những khó khăn, hạn chế nhất định. Cán bộ nói chung và cán bộ trẻ trong thực thi nhiệm vụ công vụ còn gặp khó khăn, vướng mắc do một số quy định chính sách, pháp luật chưa hoàn thiện, thậm chí còn chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu tính thống nhất, đồng bộ hoặc liên thông, không còn phù hợp với thực tiễn. Đặc biệt, tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo giữa các văn bản quy phạm pháp luật được đánh giá là một trở ngại lớn trong việc khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung[6]. Mặt khác, nhiều vấn đề thực tiễn mới nảy sinh, chưa có tiền lệ, chưa được quy định, chưa được kiểm chứng trong thực tế, dễ gây rủi ro, sai sót.

Bên cạnh đó, thực tế quản lý, sử dụng (quy hoạch, đề bạt, bổ nhiệm, thu hút, đào tạo, bồi dưỡng…) cán bộ trẻ thời gian qua cũng vẫn còn có những hạn chế, bất cập đã được cấp có thẩm quyền và nhiều chuyên gia nhận định, chẳng hạn như: Một số cơ quan, đơn vị thu hút được cán bộ trẻ song còn lúng túng, bị động trong bố trí, sử dụng; vẫn có nơi còn định kiến, không mạnh dạn đề bạt cán bộ trẻ, dẫn tới cán bộ không yên tâm công tác, chưa phát huy được hết năng lực, sở trường, gây lãng phí nguồn lực, “chảy máu chất xám”. Ngoài ra, trong thời gian qua cũng xuất hiện tâm lý sợ mắc sai lầm, muốn giữ mình an toàn, sợ khuyết điểm, sợ trách nhiệm trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, dẫn đến tình trạng co cụm, đùn đẩy trách nhiệm khiến công việc không “chạy”[7]. Đặc biệt, qua đại dịch Covid-19, việc xử lý cán bộ có vi phạm, khuyết điểm đã góp phần tích cực trong phòng, chống tham nhũng nhưng cũng khiến không ít người dù dám làm nhưng thấy tình hình đó đã có tâm lý chững lại, thậm chí lo ngại, tạm dừng[8].

Trong bối cảnh đó, bên cạnh việc xây dựng cơ chế, chính sách thu hút, tuyển dụng, “giữ chân” đội ngũ cán bộ trẻ vào làm việc trong hệ thống chính trị thì cần đặc biệt quan tâm đến vấn đề thể chế hóa chủ trương của Đảng về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Vấn đề bảo vệ cán bộ trẻ dám nghĩ, dám làm sẽ giúp cán bộ trẻ có thêm động lực và yên tâm mang tri thức, chuyên môn, ý tưởng sáng tạo và nhiệt huyết của mình đóng góp trực tiếp vào công việc chung của cơ quan, tổ chức; đồng thời, góp phần khuyến khích, phát hiện, nuôi dưỡng và bảo vệ lực lượng cán bộ trẻ - đội ngũ cán bộ lãnh đạo kế cận trong tương lai.

2. Đề xuất, kiến nghị về thể chế hóa chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ trẻ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung

Thứ nhất, về thẩm quyền ban hành quy định: Các quy định về bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm nói chung và cán bộ trẻ dám nghĩ, dám làm nói riêng có liên quan trực tiếp đến nhiều văn bản luật như: Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức, Bộ luật Hình sự, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật Khoa học và công nghệ, Luật Thanh tra… Do đó, để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật[9], việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý điều chỉnh chung về khuyến khích và bảo vệ cán bộ trẻ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung phải do Quốc hội ban hành. Việc xây dựng một nghị quyết của Quốc hội về vấn đề nêu trên để bảo đảm thẩm quyền pháp lý theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật đối với những vấn đề khác luật hoặc chưa có luật điều chỉnh.

Thứ hai, về đối tượng áp dụng: Khung khổ pháp lý về khuyến khích và bảo vệ cán bộ dám nghĩa, dám làm phải được áp dụng chung cho tất cả đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức mà không phải chỉ áp dụng riêng cho đội ngũ giữ các chức vụ, chức danh lãnh đạo, quản lý để bảo đảm bình đẳng và phù hợp với thực tiễn[10]. Bởi lẽ, để đề xuất và thực hiện được ý tưởng đột phá, dám nghĩ, dám làm nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn công tác không thể do một người chủ trì thực hiện mà cần có sự phối hợp, đồng hành của nhiều cán bộ (bao gồm cán bộ lãnh đạo, quản lý giữ vai trò định hướng, chỉ đạo; cán bộ trẻ, cán bộ trong độ tuổi thanh niên trong các cơ quan, đơn vị hiện đang đảm nhiệm các vị trí chuyên viên, kỹ thuật, nghiệp vụ hoặc lãnh đạo, quản lý cấp thấp chủ yếu sẽ là những người trực tiếp tham mưu, đề xuất, thực hiện với những lợi thế về thể chất, tinh thần, sự năng động, sáng tạo của tuổi trẻ.

Thứ ba, cần xây dựng một quy trình thống nhất để cán bộ trẻ có thể đề xuất ý tưởng đổi mới, sáng tạo thí điểm với người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị nơi công tác (đặc biệt, cần lưu ý thiết kế quy định cấp có thẩm quyền quyết định cho phép thí điểm, hình thức cho phép thí điểm trong trường hợp nội dung thí điểm khác hoặc chưa có trong quy định hiện hành; thời hạn cho ý kiến; hình thức báo cáo đề xuất của cán bộ có ý tưởng đổi mới sáng tạo…). Mặt khác, cần nghiên cứu để loại trừ hoặc cho phép áp dụng đồng thời quy trình đề xuất, giao nhiệm vụ của Luật Khoa học và công nghệ trong trường hợp các ý tưởng đề xuất đổi mới sáng tạo được thực hiện theo quy định của Luật này.

Thứ tư, xác định trình tự tiến hành kiểm tra, giám sát, thanh tra riêng biệt để tiến hành theo dõi, đánh giá quá trình triển khai thực hiện thí điểm các đề xuất đổi mới sáng tạo.

Thứ năm, quy định rõ nguyên tắc, điều kiện để khuyến khích và bảo vệ cán bộ trẻ, bao gồm: Khen thưởng, đề bạt, bổ nhiệm, ứng dụng “thành quả” thí điểm khi việc thí điểm các đề xuất, ý tưởng mang đến kết quả tốt; các biện pháp bảo vệ cán bộ trong quá trình thực hiện ý tưởng đề xuất; nguyên tắc và cơ chế xử lý, bồi thường thiệt hại (miễn hoặc giảm nhẹ trách nhiệm) khi cán bộ thực hiện thí điểm mà kết quả không đạt hoặc chỉ đạt được một phần mục tiêu đề ra nhưng thực hiện đúng chủ trương, có động cơ trong sáng, vì lợi ích chung nhằm bảo đảm không làm “nản lòng”, “nhụt chí” những cán bộ nói chung và cán bộ trẻ có năng lực, trình độ, có động cơ trong sáng và khát khao cống hiến.

ThS. Nguyễn Sơn Hải

Vụ Pháp luật Hình sự - Hành chính, Bộ Tư pháp

ThS. Ngô Đức Minh

Vụ Công chức, viên chức, Bộ Nội vụ

[1]. Khảo sát của Partnership for Public Service tiến hành tại Mỹ năm 2021 - 2022, được đăng tải tại https://ourpublicservice.org/blog/public-perceptions-of-civil-servants/; khảo sát của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) tiến hành năm 2021, được đăng tải trên “Age profile of central government workforce” trong “Government at a Glance 2021” tại https://www.oecd.org/mena/governance/35526160.pdf; khảo sát của Civil Service World tại Vương quốc Anh năm 2022, được đăng tải tại https://www.civilserviceworld.com/in-depth/article/now-thats-what-i-call-the-civil-service.

[2]. Căn cứ đặc điểm, tình hình và yêu cầu nhiệm vụ, các bộ, ngành, địa phương đã ban hành các đề án, kế hoạch, quyết định cụ thể hóa quy định này. Tại Quảng Ngãi, căn cứ Kế hoạch số 65/KH-UBND ngày 18/4/2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, cán bộ trẻ ở cấp tỉnh có độ tuổi dưới 45 tuổi đối với nữ và dưới 40 tuổi đối với nam; cấp huyện có độ tuổi dưới 40 tuổi; cấp xã có độ tuổi dưới 35 tuổi. Tại Bắc Giang, căn cứ Kế hoạch số 66/KH-UBND ngày 28/3/2023 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang, cán bộ trẻ trong Đề án tính từ 40 tuổi trở xuống.

[3]. Minh Mạnh, Bài 1: Trọng dụng cán bộ trẻ - chủ trương xuyên suốt của Đảng, https://www.qdnd.vn/chinh-tri/dua-nghi-quyet-cua-dang-vao-cuoc-song/nghi-quyet-va-cuoc-song/bai-1-trong-dung-can-bo-tre-chu-truong-xuyen-suot-cua-dang-648798.

[4]. Quốc hội yêu cầu Chính phủ “khẩn trương tham mưu thể chế hóa, thực hiện Kết luận số 14-KL/TW ngày 22/9/2021 của Bộ Chính trị về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung”; Nghị quyết số 28-NQ/TW Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới đã yêu cầu thể chế chủ trương của Đảng về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; tại Nghị quyết số 85/NQ-CP ngày 09/7/2022 của Chính phủ về Hội nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương và phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6 năm 2022, Chính phủ giao Bộ Nội vụ “nghiên cứu việc xây dựng văn bản để thể chế hóa chủ trương của Đảng về khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung”.

[5]. Trong thực tế, do yêu cầu quản lý nhà nước đa dạng, sinh động, thường xuyên phát sinh các vấn đề cần giải quyết, Chính phủ vẫn ban hành các nghị quyết cá biệt để quyết định một hoặc một số vấn đề cụ thể trong thẩm quyền của Chính phủ mà khác hoặc không có quy định tại các nghị định do Chính phủ ban hành, ví dụ: Nghị quyết số 23/NQ-CP ngày 23/02/2023 về việc thí điểm cho phép tác động vào rừng tự nhiên để làm một số công trình tạm (đường công vụ, bãi tập kết vật liệu) phục vụ thi công Dự án đường dây 500kV Monsoon - Thạnh Mỹ trên địa bàn huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam.

[6]. Số lượng các văn bản quy phạm pháp luật có vướng mắc, bất cập cần xử lý trong các lĩnh vực quản lý nhà nước là tương đối lớn (nhất là các lĩnh vực như đất đai, đầu tư công, đấu thầu, đấu giá, tài chính, ngân sách, kinh doanh...). Theo Báo cáo kết quả hoạt động năm 2022 của Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ về rà soát văn bản quy phạm pháp luật trong năm 2021, 2022, vẫn còn số lượng lớn các văn bản chưa hoàn thành việc xử lý (233 văn bản/446 văn bản cần xử lý).

[7]. Bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm: Thể chế hóa bằng nghị định là cần thiết, https://vov.vn/chinh-tri/bao-ve-can-bo-dam-nghi-dam-lam-the-che-hoa-bang-nghi-dinh-la-can-thiet-post1000585.vov.

[8]. Cần có quy định cụ thể để cán bộ dám nghĩ, dám làm, https://tuoitre.vn/can-co-quy-dinh-cu-the-de-can-bo-dam-nghi-dam-lam-20230206084604814.htm.

[9]. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 15 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020): “Quốc hội ban hành nghị quyết để quyết định thực hiện thí điểm một số chích sách mới thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội nhưng chưa có luật điều chỉnh hoặc khác với quy định của luật hiện hành”; đồng thời, đây cũng là đề xuất của một số cán bộ lãnh đạo, đại biểu Quốc hội, chuyên gia tại bài báo “Đề xuất sửa luật để bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm” của tác giả Vy Oanh, đăng tải tại https://dangcongsan.vn/thoi-su/de-xuat-sua-luat-de-bao-ve-can-bo-dam-nghi-dam-lam-611314.html.

[10]. Dự thảo Nghị định do Bộ Nội vụ hiện nay dự kiến chỉ áp dụng đối với đối tượng cán bộ, công chức, viên chức giữ chức danh lãnh đạo, quản lý (Điều 2 Dự thảo ngày 09/8/2023).

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 391), tháng 10/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: