Thứ ba 22/09/2026 07:16
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kiểm soát điều kiện đầu tư kinh doanh đối với ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện ở Việt Nam

Bản chất của nền kinh tế thị trường là tự do kinh doanh. Tuy nhiên, quyền tự do nào của một người cũng luôn bị hạn chế bởi quyền tự do của người khác và vì vậy, trong những điều kiện nhất định, quyền tự do bị giám sát bởi quyền lực nhà nước. Mỗi loại hoạt động đầu tư kinh doanh đều cần những điều kiện khác nhau và mức độ can thiệp của Nhà nước vào hoạt động đó. Vấn đề kiểm soát điều kiện đầu tư kinh doanh chính là mức độ can thiệp hợp lý của Nhà nước vào những lĩnh vực mà ở đó có những tác động tiêu cực tới con người, xã hội, lợi ích công cộng.


Ở Việt Nam, sự ra đời của Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư năm 2014 và năm 2020 đã thay đổi tư duy tiếp cận trong quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh; hệ thống hóa ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và số lượng điều kiện đầu tư kinh doanh có xu hướng giảm dần theo thời gian. Tuy nhiên, pháp luật điều kiện đầu tư kinh doanh cũng còn những bất cập, hạn chế nhất định khi áp dụng trong thực tiễn.

Bài viết khái quát pháp luật Việt Nam về điều kiện đầu tư kinh doanh, nêu lên thực trạng và một số giải pháp nhằm kiểm soát pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam.

1. Khái quát pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh

Pháp luật về kinh doanh chứa đựng hai vấn đề cơ bản là pháp luật về hoạt động kinh doanh của các chủ thể kinh doanh và pháp luật về quản lý của Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh[1]. Theo đó, pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh là một bộ phận quan trọng của pháp luật về kinh doanh nói chung.

Có thể hiểu, pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh là tổng thể các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, điều chỉnh mối quan hệ phát sinh giữa Nhà nước với tổ chức, cá nhân nhằm thực hiện quản lý nhà nước đối với các ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.

- Đối tượng điều chỉnh của pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh là mối quan hệ phát sinh trong hoạt động quản lý kinh tế của Nhà nước. Theo đó, Nhà nước dựa trên pháp luật về điều kiện đầu tư, kinh doanh để quản lý, điều tiết hoạt động kinh doanh đối với các ngành nghề đầu tư, kinh doanh nhất định theo mục đích của mình. Tuy nhiên, cũng giống như các mối quan hệ khác phát sinh trong quá trình quản lý nhà nước, đây không phải là những quan hệ mang tính chất hành chính đơn thuần, vì dù bị chi phối bởi yếu tố quyền lực công, quan hệ trên vẫn mang yếu tố tài sản, trách nhiệm vật chất và bị chi phối bởi các quy luật kinh tế[2].

- Phương pháp điều chỉnh của pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh là phương pháp mệnh lệnh và phương pháp hướng dẫn mà không dùng phương pháp thỏa thuận bình đẳng. Trong mối quan hệ này, chủ thể kinh doanh phải tuân thủ đúng, đủ các yêu cầu, trình tự, thủ tục cần thiết để được kinh doanh ngành nghề nhất định. Các cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm hướng dẫn, xác nhận đủ điều kiện kinh doanh và kiểm tra chủ thể kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật.

- Chủ thể ban hành quy định về điều kiện đầu tư, kinh doanh: Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ có thẩm quyền ban hành luật, pháp lệnh, nghị định quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh (Điều 7 Luật Đầu tư năm 2020).

- Bản chất của việc quy định điều kiện đầu tư, kinh doanh là để bảo đảm chủ thể kinh doanh ngành nghề đó sẽ không gây thiệt hại hay đe dọa gây thiệt hại đến những lợi ích mà Nhà nước cần bảo vệ, đó có thể là lợi ích quốc gia, lợi ích xã hội, đạo đức, tập quán tốt đẹp của dân tộc, hay lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân trong xã hội… Bên cạnh đó, điều kiện đầu tư, kinh doanh là công cụ pháp lý để Nhà nước kiểm soát, điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp, nhằm định hướng sự phát triển của nền kinh tế theo quan điểm chủ trương, chính sách của mỗi quốc gia[3].

- Điều kiện đầu tư kinh doanh được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau và thời điểm doanh nghiệp phải đáp ứng các điều kiện đầu tư, kinh doanh có sự khác nhau, nhưng doanh nghiệp phải duy trì các điều kiện đó trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giám sát theo cơ chế hậu kiểm.

Khoản 2 Điều 7 Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định, điều kiện kinh doanh là yêu cầu mà doanh nghiệp phải có hoặc phải thực hiện khi kinh doanh ngành, nghề cụ thể, được thể hiện bằng giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, chứng chỉ hành nghề, chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, yêu cầu về vốn pháp định hoặc yêu cầu khác.

Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Đầu tư năm 2014 không định nghĩa về điều kiện kinh doanh, tuy nhiên khoản 2 Điều 9 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư năm 2014 đã liệt kê các hình thức của điều kiện đầu tư kinh doanh.

Khoản 6 Điều 7 Luật Đầu tư năm 2020 đã luật hóa các hình thức của điều kiện đầu tư, kinh doanh, đó là: Giấy phép; giấy chứng nhận; chứng chỉ; văn bản xác nhận, chấp thuận; các yêu cầu khác phải đáp ứng để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh mà không cần phải có xác nhận bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền.

2. Thực trạng và một số giải pháp nhằm kiểm soát pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam

2.1. Thực trạng pháp luật điều kiện đầu tư kinh doanh

a) Những kết quả đạt được

- Thay đổi về tư duy tiếp cận trong quy định của luật: Pháp luật doanh nghiệp và pháp luật đầu tư đã quy định tách bạch giữa yêu cầu thành lập doanh nghiệp (gia nhập thị trường nói chung) và yêu cầu về điều kiện đầu tư kinh doanh đối với ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện (gia nhập thị trường ngành, lĩnh vực đặc thù). Trước đây, tại Luật Doanh nghiệp năm 2005, những quy định về điều kiện kinh doanh đối với ngành, nghề kinh doanh có điều kiện chưa có sự tách biệt rõ giữa yêu cầu thành lập doanh nghiệp và yêu cầu về điều kiện kinh doanh đối với ngành, nghề kinh doanh có điều kiện. Đối với một số ngành nghề kinh doanh, Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã yêu cầu phải có một số điều kiện như bản sao chứng chỉ hành nghề của người quản lý và xác nhận về vốn pháp định tại thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp... Quy định này chưa thực sự hợp lý, gây ra nhiều khó khăn, tốn kém không cần thiết cho nhà đầu tư.

Để khắc phục những bất cập đó, Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã quy định việc phải đáp ứng đầy đủ điều kiện kinh doanh khi kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện được xem là một trong những nghĩa vụ của doanh nghiệp, đồng thời phải tuân thủ các quy định của Luật Đầu tư về vấn đề này. Hơn nữa, doanh nghiệp phải đảm bảo duy trì đủ điều kiện đầu tư kinh doanh đó trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh (khoản 1 Điều 8 Luật Doanh nghiệp năm 2020).

Trong hồ sơ đăng ký, đối với tất cả các loại hình doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Doanh nghiệp năm 2020 đều bỏ các yêu cầu văn bản xác nhận vốn pháp định đối với công ty kinh doanh ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải có vốn pháp định và chứng chỉ hành nghề của giám đốc hoặc tổng giám đốc và cá nhân khác đối với công ty kinh doanh ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải có chứng chỉ hành nghề.

- Hệ thống hóa ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và số lượng điều kiện đầu tư kinh doanh có xu hướng giảm dần theo thời gian: Theo quy định tại Phụ lục IV Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh đoanh có điều kiện ban hành kèm theo Luật Đầu tư năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2016) có 243 ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và hiện nay, danh mục này của Luật Đầu tư năm 2020 chỉ còn 227 ngành, nghề. Hơn nữa, điều kiện đầu tư kinh doanh và những ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện đã được đăng tải trên Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia. Những quy định này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong quá trình thành lập, hoạt động kinh doanh, minh bạch hóa môi trường kinh doanh. Tuy nhiên, khi nghiên cứu Danh mục những ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, có thể thấy rằng, số lượng 227 ngành, nghề này vẫn có thể giảm thêm được nữa. Có những ngành, nghề không nhất thiết phải đưa vào danh mục là ngành, nghề kinh doanh có điều kiện.

b) Hạn chế, nguyên nhân

- Về mối quan hệ giữa Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp: Không thể phủ nhận vai trò của Luật Đầu tư trong hệ thống pháp luật về kinh doanh. Tuy nhiên, có thể thấy rõ ràng, quy định về danh mục các ngành, nghề đầu tư kinh doanh bị cấm hoặc có điều kiện tại Luật Đầu tư là chưa thực sự “đúng nơi, đúng chỗ”. Để hợp lý và đơn giản hóa thì nội dung này phải được quy định ở Luật Doanh nghiệp - đạo luật quy định về thành lập, tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp. Hiện nay, khi thành lập doanh nghiệp, thực hiện quyền gia nhập thị trường, tự do kinh doanh, người dân đều thấy khó hiểu khi phải rà soát các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện lại quy định ở Luật Đầu tư. Luật Đầu tư chỉ nên quy định về ngành, nghề và điều kiện khi tiếp cận thị trường của nhà đầu tư nước ngoài, như vậy với đúng bản chất của Luật Đầu tư.

- Tiêu chí xác định ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện chưa rõ ràng: Khoản 1 Điều 7 Luật Đầu tư năm 2020 quy định ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện là ngành, nghề mà việc thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong ngành, nghề đó phải đáp ứng điều kiện cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.. Các tiêu chí như an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội có phạm vi quá rộng, cần có hướng dẫn cụ thể hơn.

- Việc phân loại các ngành, nghề đầu tư kinh doanh theo nhóm để quản lý còn chưa hợp lý: Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Doanh nghiệp năm 2020, Luật Đầu tư năm 2020 đã phân định ngành nghề kinh doanh theo ba mức độ là các lĩnh vực kinh doanh bị cấm; các ngành, nghề không bị cấm, nhưng cần phải đáp ứng các điều kiện bắt buộc trước khi tiến hành kinh doanh; những ngành nghề còn lại được tự do kinh doanh. Tuy nhiên, trên thực tế, tiếp cận phân loại ngành, nghề kinh doanh theo cách cấm, có điều kiện và không có điều kiện là chưa thực sự hợp lý, bởi vì không một ngành nghề nào là bị cấm tuyệt đối, kể cả sản xuất kinh doanh vũ khí, việc cấm chỉ giới hạn trong khu vực tư nhân và cũng không có hoạt động kinh doanh nào, thuộc ngành, nghề “không có điều kiện”, không phải đáp ứng yêu cầu hay quy định nào. Chẳng hạn, đơn giản như một người bán hàng ăn trên đường phố vẫn phải đáp ứng các quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm và các quy định hành chính khác.

- Việc lập danh mục ngành, nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện không giúp kiểm soát được tốt hơn các điều kiện kinh doanh: Khi một ngành được xếp loại kinh doanh có điều kiện là hợp lý, thì bản thân việc xếp loại cho một ngành là quá rộng, sẽ gây ra hiện tượng can thiệp hành chính bất hợp lý vào các hoạt động sản xuất trong ngành. Ví dụ, kinh doanh mũ bảo hiểm được xếp loại là ngành kinh doanh có điều kiện. Theo đó, cơ quan quản lý đã đưa ra cả những quy định “điều kiện” về sản xuất, về phân phối, bán lẻ sản phẩm mũ bảo hiểm. Nhưng việc cần Nhà nước can thiệp trong ngành này chỉ là mũ sản xuất ra có đáp ứng tiêu chí an toàn hay không. Còn việc phân phối bán lẻ mũ hoàn toàn không liên quan gì đến an toàn của người sử dụng. Tuy nhiên, trên thực tế, cơ quan quản lý đã viện lý do “ngành sản xuất - kinh doanh” mũ bảo hiểm để đưa cả hoạt động bán lẻ mũ vào và đặt ra các điều kiện tạo ra gánh nặng tuân thủ không cần thiết cho người kinh doanh.

- Kiểm soát đối với việc ban hành các điều kiện đầu tư kinh doanh còn kém, tạo nhiều rào cản gia nhập thị trường: Về mặt hình thức và tên gọi các điều kiện kinh doanh đã được quy định rõ trong Luật Đầu tư. Tuy nhiên, trên thực tế, các bộ, ngành địa phương tiếp tục tạo ra các điều kiện gia nhập ngành trái thẩm quyền, dưới hình thức là các văn bản không thuộc danh mục của điều kiện đầu tư, kinh doanh nhưng lại yêu cầu phải thực hiện.

2.2. Một số giải pháp nhằm kiểm soát pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính hiện nay

a) Mục tiêu cải cách thủ tục hành chính nhằm kiểm soát điều kiện đầu tư kinh doanh ở Việt Nam

Cắt giảm được đáng kể các điều kiện đầu tư kinh doanh và quy định hành chính chưa hợp lý đang tạo gánh nặng cho doanh nghiệp. Xây dựng và vận hành hiệu quả các thiết chế giám sát, kiểm soát ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh. Trong đó, giám sát, kiểm soát từ trong hệ thống nhà nước thuộc về Quốc hội; từ ngoài hệ thống nhà nước thuộc về các hiệp hội doanh nghiệp. Xây dựng các thiết chế giúp doanh nghiệp tự bảo vệ được quyền tự do kinh doanh của mình trong trường hợp bị xâm phạm bởi các cơ quan hành chính nhà nước. Xây dựng các thiết chế điều tiết thị trường hiện đại, tiệm cận với tiêu chuẩn thế giới.

b) Giải pháp cụ thể

- Thành lập Ủy ban cải cách quy chế hành chính: Nhiều quốc gia đã sẵn sàng bỏ ra nhiều năm để tiến hành việc rà soát quy định pháp luật và cơ chế thực thi, để có những cải cách mang tính triệt để và mang lại thành công lớn. Từ kinh nghiệm của các quốc gia đó, Việt Nam cũng hoàn toàn có thể thực hiện một cuộc rà soát mang tính toàn diện và triệt để như thế. Để thực hiện được, cần phải thiết lập một Ủy quan tiến hành rà soát và có lộ trình cụ thể.

Để có thể hoạt động hiệu quả, Ủy ban nên trực thuộc Thủ tướng Chính phủ. Thành phần Ủy ban gồm lãnh đạo Chính phủ, người đứng đầu Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tư Pháp và các bộ có liên quan. Các thành viên chuyên trách là các chuyên gia từ trong hệ thống hành pháp, kết hợp với các chuyên gia độc lập về phân tích chính sách, chuyên gia kinh tế, các chuyên gia về lập pháp và cải cách pháp luật - là những thành phần không bị chi phối về lợi ích. Ủy ban có những chức năng chính như: (i) Là đầu mối chịu trách nhiệm rà soát và kiến nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội bãi bỏ các giấy phép bất hợp pháp và vi hiến đang có hiệu lực thi hành, kiến nghị Thủ tướng Chính phủ bãi bỏ các quy định, thủ tục hành thực hiện giấy phép bất hợp lý, không cần thiết; (ii) Tiếp nhận trực tiếp kiến nghị từ hiệp hội doanh nghiệp, doanh nghiệp về các quy định hành chính, điều kiện kinh doanh bất hợp lý hoặc bất hợp pháp; (iii) Là đầu mối nghiên cứu và thiết kế tổ chức lại mô hình các cơ quan quản lý để điều tiết thị trường một cách độc lập. Từ kết quả nghiên cứu, Ủy ban có thể giúp Quốc hội để hiện thực hóa các thiết chế điều tiết thị trường trên thực tế.

- Giảm bớt thủ tục bắt buộc phải cấp phép, chấp thuận của cơ quan nhà nước, chuyển sang điều kiện đầu tư kinh doanh không cần sự chấp thuận: Như đã phân tích ở trên, hiện nay số lượng điều kiện đầu tư, kinh doanh cần có sự chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở Việt Nam còn tương đối nhiều. Một số nhà nghiên cứu đã đưa ra quan điểm cho rằng, Việt Nam phải thực hiện cải cách, tiến tới xóa bỏ hệ thống giấy phép kinh doanh và cơ chế chấp thuận thay thế việc quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp bằng cơ chế giám sát khác. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, việc xóa bỏ hoàn toàn các điều kiện đầu tư kinh doanh này không phải là một biện pháp thực sự tốt, bởi các điều kiện đầu tư kinh doanh minh bạch, hợp lý chính là công cụ để quản lý hiệu quả các chủ thể kinh doanh. Hầu hết các quốc gia trên thế giới, ngay cả những quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, Anh, Singapore, Nhật Bản… vẫn duy trì cơ chế cấp giấy phép và xin chấp thuận trong những ngành nghề nhất định, vì điều đó là cần thiết.

Những điều kiện đầu tư kinh doanh cần sự chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền vẫn nên được duy trì, nhưng chỉ duy trì điều kiện đầu tư kinh doanh thực sự cần thiết. Điều này, đòi hỏi các cơ quan quản lý phải đưa ra được tiêu chí rõ ràng trong việc quy định ngành nghề đầu tư kinh doanh cần có giấy phép, chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền. Căn cứ vào đó, giảm số lượng các ngành, nghề phải đáp ứng điều kiện đầu tư kinh doanh cần sự chấp thuận của cơ quan nhà nước, chuyển sang áp dụng hệ thống điều kiện kinh doanh không cần sự chấp thuận. Với phương thức này, Nhà nước chỉ ghi nhận chứ không chịu trách nhiệm về các điều kiện đầu tư kinh doanh do doanh nghiệp kê khai. Doanh nghiệp phải có trách nhiệm về những cam kết liên quan tới đáp ứng đủ các điều kiện đầu tư kinh doanh đã đăng kí, cơ quan nhà nước có vai trò giám sát thực hiện và tạo ra cơ chế hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện các cam kết này.

- Xây dựng các thiết chế giám sát, kiểm soát điều kiện đầu tư kinh doanh từ bên ngoài hệ thống nhà nước: Hiệp hội doanh nghiệp đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy và tạo áp lực cải cách các điều kiện đầu tư kinh doanh. Để tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động của hiệp hội cũng như nhanh chóng nâng cao năng lực của các thiết chế hiệp hội, các công việc cần làm gồm: (i) Đối với các hiệp hội hiện hành, để chống xung đột lợi ích, cần quy định lãnh đạo các cơ quan quản lý nhà nước quản lý trực tiếp lĩnh vực thị trường đó không được đảm nhận vai trò lãnh đạo hiệp hội trong thời hạn 05 năm từ thời điểm kết thúc công việc trong bộ máy nhà nước. (ii) Không giới hạn số lượng hiệp hội được phép thành lập và hoạt động trên mỗi lĩnh vực thị trường như hiện nay. Đa dạng hiệp hội là hợp lý, bởi vì, quyền tự do hiệp hội của người dân đã được Hiến pháp bảo hộ. Mặt khác, sự cạnh tranh giữa các hiệp hội khác nhau sẽ giúp các hiệp hội hoạt động hiệu quả hơn (nhằm thu hút thành viên tham gia, duy trì và phát triển hội). Điều này cũng giúp các hiệp hội tự chủ và trưởng thành, giảm gánh nặng hỗ trợ từ ngân sách cho hiệp hội như hiện nay. (iii) Về lâu dài, khi thiết chế tư pháp có chức năng bãi bỏ điều kiện đầu tư kinh doanh vi hiến và bất hợp pháp hoạt động, cần đồng thời trao cho các hiệp hội quyền thay mặt các doanh nghiệp thành viên để khởi kiện, yêu cầu xem xét văn bản quy phạm pháp luật đặc biệt liên quan tới điều kiện đầu tư, kinh doanh.

- Áp dụng lý thuyết của kinh tế học - pháp luật trong việc xây dựng các quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh[4]: Những thập kỷ gần đây, các quốc gia Âu - Mỹ đã phát triển một ngành nghiên cứu mới là kinh tế học - pháp luật (Law and Economics) kết hợp giữa kinh tế học và luật học trở thành ngành khoa học độc lập, ứng dụng các phân tích kinh tế vào môi trường pháp lý. Một trong những thành tựu của kinh tế học - pháp luật là giúp các nhà hoạch định chính sách và soạn thảo luật pháp tính được phí tổn mà xã hội có thể phải gánh chịu khi áp dụng chính sách hoặc đạo luật cụ thể trong tương lai. Đối với những quy định về thủ tục đáp ứng các điều kiện đầu tư kinh doanh, gia nhập thị trường, nhà làm luật cần quy định trình tự, thủ tục, chi phí để các nhà đầu tư dễ dàng thực hiện. Nhà đầu tư sẽ cân nhắc những thiệt hại về công sức, thời gian, cơ hội kinh doanh khi thực hiện đúng các trình tự để có được giấy phép kinh doanh với việc bỏ ra một số tiền thực hiện hối lộ hoặc vi phạm pháp luật để đạt được giấy phép kinh doanh đó một cách nhanh nhất, dễ dàng nhất. Như vậy, nếu quá nhiều các điều kiện được ban hành, làm cho việc tuân thủ đúng quá phức tạp và tốn kém, thì người dân tìm cách thực hiện thông qua những “giao dịch ngầm”. Áp dụng nguyên lý kinh tế học - pháp luật khi ban hành các điều kiện đầu tư kinh doanh sẽ giảm chi phí xã hội và tránh được những “giao dịch ngầm” này.

ThS. Nguyễn Như Chính

Đại học Luật Hà Nội



[1]. Đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình Luật Thương mại tập 1, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 15.

[2]. Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh (2008), Giáo trình Một số ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, 2, Nxb. Lý luận chính trị, tr. 214.

[3]. Nguyễn Thị Huyền Trang (2014), Pháp luật về điều kiện kinh doanh ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và hướng hoàn thiện, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội, tr. 9.

[4]. ThS. Nguyễn Như Chính, Cải cách thủ tục gia nhập thị trường góp phần bảo đảm môi trường kinh doanh ở Việt Nam, Tạp chí Luật học, Số 11/2010.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.

Theo dõi chúng tôi trên: