Chủ nhật 08/02/2026 05:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kiến nghị sửa đổi một số quy định về trách nhiệm của cơ quan cung cấp thông tin trong Luật Tiếp cận thông tin năm 2016[1]

Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 quy định công dân được tiếp cận thông tin của cơ quan nhà nước, trừ những thông tin thuộc bí mật nhà nước và những thông tin mà nếu để tiếp cận sẽ gây nguy hại đến lợi ích của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến quốc phòng, an ninh quốc gia, quan hệ quốc tế, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng; gây nguy hại đến tính mạng, cuộc sống hoặc tài sản của người khác; thông tin thuộc bí mật công tác; thông tin về cuộc họp nội bộ của cơ quan nhà nước; tài liệu do cơ quan nhà nước soạn thảo cho công việc nội bộ. Trách nhiệm cung cấp thông tin cho công dân của cơ quan nhà nước cũng được xác định rõ ràng và cụ thể trong Luật. Trong bài viết này, tác giả phân tích, đánh giá những hạn chế của quy định về trách nhiệm của cơ quan cung cấp thông tin trong Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, từ đó, đưa ra những kiến nghị để sửa đổi, hoàn thiện quy định này.



Trước đây, do pháp luật chưa quy định rõ và cụ thể những cơ quan nào có trách nhiệm cung cấp thông tin nên khi có nhu cầu tiếp cận thông tin, người dân không biết mình cần đến đâu và hỏi ai. Về phía cơ quan nhà nước cũng không biết mình có được phép cung cấp thông tin hay không và trong trường hợp được yêu cầu, thì cơ quan nhà nước cũng lúng túng không biết dựa trên cơ sở pháp lý nào để cung cấp thông tin cho người dân. Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 ra đời đã khắc phục tình trạng trên, xác định rõ và cụ thể các cơ quan nhà nước có trách nhiệm cung cấp thông tin, qua đó, góp phần bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân được thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, qua một thời gian triển khai thực hiện, các quy định về trách nhiệm của cơ quan cung cấp thông tin trong Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã bộc lộ những hạn chế, điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến quyền tiếp cận thông tin của công dân.

1. Hạn chế của quy định về trách nhiệm của cơ quan cung cấp thông tin trong Luật Tiếp cận thông tin năm 2016

Thứ nhất, quy định về phạm vi và trách nhiệm cung cấp thông tin chưa bảo đảm tính ổn định và thống nhất

Trách nhiệm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trước hết là Nhà nước, do đó, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước cung cấp thông tin cho công dân để một mặt, giúp người dân tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, mặt khác, tạo điều kiện cho người dân tham gia giám sát hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước. Hơn nữa, thông qua việc tiếp cận thông tin, người dân có cơ hội tham gia hiệu quả hơn vào các công việc của bộ máy chính quyền; đồng thời, tính công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước cũng được tăng cường. Tuy nhiên, tại khoản 2 Điều 9 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 liệt kê các cơ quan có trách nhiệm cung cấp thông tin như: Văn phòng Quốc hội có trách nhiệm cung cấp thông tin do Quốc hội, cơ quan của Quốc hội, cơ quan thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng bầu cử quốc gia tạo ra và thông tin do mình tạo ra; Văn phòng Chủ tịch nước có trách nhiệm cung cấp thông tin do Chủ tịch nước tạo ra và thông tin do mình tạo ra; Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm cung cấp thông tin do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tạo ra và thông tin do mình tạo ra; Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội có trách nhiệm cung cấp thông tin do Đoàn đại biểu Quốc hội tạo ra và thông tin do mình tạo ra; Văn phòng Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm cung cấp thông tin do Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các cơ quan của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh tạo ra và thông tin do mình tạo ra… Về lâu dài, có thể các bộ phận của các cơ quan nhà nước có thể thay đổi, tinh gọn… quy định bằng cách liệt kê như Điều 9 sẽ không bảo đảm tính ổn định lâu dài của văn bản luật, gây lãng phí nguồn lực. Mặt khác, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã quy định cơ quan cung cấp thông tin ban hành và công bố công khai quy chế nội bộ về tổ chức cung cấp thông tin thuộc phạm vi trách nhiệm của mình (điểm h khoản 1 Điều 34), việc xác định đầu mối cung cấp thông tin được thể hiện trong quy chế này, bởi vậy, việc quy định cụ thể bộ phận cung cấp thông tin cho các cơ quan nhà nước theo trên là không cần thiết. Ngoài ra, quy định đó tạo sự đùn đẩy trách nhiệm, trách nhiệm không cao trong việc cung cấp thông tin cho công dân. Trong một trường hợp nào đó, vì ý chí chủ quan của chủ thể tạo ra thông tin mà không muốn công khai thông tin, dẫn đến “sự khó xử”, thậm chí trách nhiệm “đổ lên đầu” chủ thể trực tiếp cung cấp thông tin thay (sự việc này dễ xảy ra khi mối quan hệ là thủ trưởng cơ quan và bộ phận chuyên môn cấp dưới).

Thứ hai, quy định về các hành vi bị nghiêm cấm

Điều 11 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 quy định các hành vi bị nghiêm cấm, gồm: Cố ý cung cấp thông tin sai lệch, không đầy đủ, trì hoãn việc cung cấp thông tin; hủy hoại thông tin; làm giả thông tin; cung cấp thông tin để chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phá hoại chính sách đoàn kết, kích động bạo lực; cung cấp thông tin nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín, gây kỳ thị về giới, gây thiệt hại về tài sản của cá nhân, cơ quan, tổ chức; cản trở, đe dọa, trù dập người yêu cầu cung cấp thông tin. Với quy định này thì các hành vi bị nghiêm cấm đã gộp chung tất cả các đối tượng, bao gồm: Cơ quan cung cấp thông tin, người cung cấp thông tin, người thực hiện quyền tiếp cận thông tin và cả người khác nữa vào chung một văn bản và chung một điều luật. Cách quy định này có ưu điểm là dễ tìm kiếm, không trùng lặp về nội dung, tránh mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật quy định chung một vấn đề. Tuy nhiên, mỗi loại chủ thể có đặc điểm riêng khác nhau, nên không thể có quy định như nhau đối với tất cả đối tượng được[2]. Nếu cơ quan chức năng làm không tốt công tác tuyên truyền, phổ biến luật thì công dân rất khó xác định được hành vi nào của mình bị nghiêm cấm và không bị nghiêm cấm. Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là văn bản luật đầu tiên quy định về quyền tiếp cận thông tin của công dân, đa số người dân còn chưa biết được mình có quyền này. Bên cạnh đó, Điều 11 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã liệt kê cụ thể, đóng khung, cố định các hành vi bị nghiêm cấm, trong khi đây là luật áp dụng chung cho việc tiếp cận thông tin của công dân và cũng chưa thể hoặc không thể liệt kê hết ra được những hành vi có thể xảy ra ở hiện tại hay tương lai, không mang tính dự báo, nên tính ổn định không cao, dễ đến quy định không còn phù hợp và không khả thi khi triển khai thực hiện. Trong khi công dân có quyền làm bất cứ việc gì mà pháp luật không cấm thì các cơ quan cung cấp thông tin và nhân viên nhà nước chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép, cho nên, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 không cần thiết phải quy định các hành vi bị nghiêm cấm của cơ quan nhà nước và nhân viên nhà nước. Bởi trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 chính là những việc bắt buộc phải thực hiện nghiêm, nếu không thực hiện nghiêm thì phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi dành cho mình.

Thứ ba, quy định về công khai thông tin chưa thống nhất

Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 quy định công dân được tiếp cận thông tin bằng các cách thức: Tự do tiếp cận thông tin được cơ quan nhà nước công khai và yêu cầu cơ quan nhà nước cung cấp thông tin (Điều 10). Trong đó, đối với thông tin phải được công khai thì thời điểm công khai thông tin đối với từng lĩnh vực được thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan, trường hợp pháp luật chưa có quy định thì chậm nhất là 05 ngày làm việc kể từ ngày tạo ra thông tin, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải công khai thông tin[3]. Như vậy, đối với cơ quan nhà nước phải có nghĩa vụ thực hiện nghiêm chỉnh việc công khai đối với những thông tin phải được công khai và công dân được tự do tiếp cận đối với loại thông tin này. Nhưng khoản 1 Điều 23 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 lại quy định thông tin phải được công khai có thể là thông tin được cung cấp theo yêu cầu. Quy định này có thể dẫn đến tình trạng trì hoãn việc cung cấp thông tin của cơ quan nhà nước, nguyên tắc kịp thời cung cấp thông tin cho công dân không được bảo đảm. Nghĩa vụ chủ động công khai thông tin của cơ quan nhà nước không được thực hiện nghiêm. Bởi cơ quan cung cấp thông tin có thể viện dẫn lý do để dẫn đến việc không kịp thời công khai thông tin. Qua đó, công dân phải qua thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin phức tạp hơn việc tự do tiếp cận thông tin.

Thứ tư, quy định cơ quan cung cấp thông tin xem xét, cân nhắc lợi ích công cộng, sức khỏe của cộng đồng chưa bảo đảm tính kịp thời, minh bạch và phù hợp

Điểm g khoản 1 Điều 34 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 quy định cơ quan cung cấp thông tin có trách nhiệm kịp thời xem xét, cân nhắc lợi ích của việc cung cấp thông tin để công khai thông tin hoặc cung cấp thông tin theo yêu cầu nhằm bảo đảm lợi ích công cộng, sức khỏe của cộng đồng. Quy định này chưa bảo đảm tính kịp thời, minh bạch trong việc cung cấp thông tin cho công dân từ phía cơ quan nhà nước, bởi các lý do sau:

- Hiện nay, chưa có quy định pháp luật hướng dẫn cụ thể các trường hợp hạn chế quyền tiếp cận thông tin được đưa ra tại Điều 6, Điều 7 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016. Như vậy, việc xem xét, cân nhắc lợi ích công cộng, sức khỏe của cộng đồng sẽ phụ thuộc vào ý chí chủ quan của cơ quan cung cấp thông tin. Nếu việc đánh giá dựa trên ý chí chủ quan của chủ thể sẽ có thể dẫn đến sự tùy tiện, không minh bạch. Thực tiễn cho thấy, bất kỳ chính quyền hay cá nhân mang quyền lực nào đều có khuynh hướng cố hữu là muốn cai trị, hạn chế sự công khai, minh bạch thông tin là cách thức để dễ bề cai trị. Do đó, sẽ không loại trừ trường hợp các cơ quan cung cấp thông tin “viện cớ” để hạn chế quyền tiếp cận thông tin của người dân, lảng tránh cung cấp thông tin nhằm tạo thuận lợi, giảm trách nhiệm cho cơ quan mình.

- Việc giao cho cơ quan cung cấp thông tin xem xét, cân nhắc lợi ích công, sức khỏe của cộng đồng sẽ dẫn đến tình trạng không thống nhất trong triển khai thực hiện, bởi vì mỗi cơ quan cung cấp thông tin sẽ được tự do đưa ra ý chí của mình để xem xét, cân nhắc lợi ích công, sức khỏe cộng đồng mà chưa có văn bản nào của cơ quan có thẩm quyền ở cấp cao hơn quy định.

- Nguyên tắc trực tiếp hạn chế quyền công dân được quy định tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 chỉ ra 06 cơ sở để hạn chế quyền công dân vì lợi ích công, bao gồm: Quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Nhưng khoản 2 Điều 6 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 quy định: “Thông tin mà nếu để tiếp cận sẽ gây nguy hại đến lợi ích của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến quốc phòng, an ninh quốc gia, quan hệ quốc tế, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng; gây nguy hại đến tính mạng, cuộc sống hoặc tài sản của người khác; thông tin thuộc bí mật công tác; thông tin về cuộc họp nội bộ của cơ quan nhà nước; tài liệu do cơ quan nhà nước soạn thảo cho công việc nội bộ”. Như vậy, việc hạn chế quyền tiếp cận thông tin của người dân trong Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là rộng hơn so với các quy định trực tiếp giới hạn quyền công dân của Hiến pháp năm 2013.

Thứ năm, quy định cơ quan cung cấp thông tin có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật các biện pháp và quy trình bảo vệ thông tin và bảo vệ các hệ thống quản lý thông tin là chưa phù hợp

Thông tin được lưu trữ, vận hành trên cơ sở dữ liệu thông tin, mà thực hiện nhiệm vụ này là thuộc nghiệp vụ của Bộ Thông tin và Truyền thông. Về nguyên tắc thì Bộ Thông tin và Truyền thông cũng có trách nhiệm cung cấp thông tin và thực hiện trách nhiệm trên là chính xác. Hơn nữa, trách nhiệm này đã được ghi nhận tại điểm e khoản 1 Điều 35 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 quy định trách nhiệm của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước và đã giao trực tiếp trách nhiệm này cho Bộ Thông tin và Truyền thông tại khoản 3 Điều 35 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, đó là: “Hướng dẫn kỹ thuật về biện pháp, quy trình bảo quản thông tin và hệ thống quản lý thông tin”. Mặc dù có khác nhau về mặt câu chữ giữa từ “bảo vệ” và “bảo quản”, nhưng nghĩa của chúng đều nhằm lưu trữ thông tin được sử dụng lâu dài, tránh gây lãng phí nguồn lực cho Nhà nước. Bên cạnh đó, cũng không phải cơ quan cung cấp thông tin nào cũng có đủ nguồn lực thực hiện trách nhiệm này, chẳng hạn như Ủy ban nhân dân cấp xã sẽ không có cơ hội, điều kiện để hướng dẫn kỹ thuật về biện pháp và quy trình bảo vệ thông tin và bảo vệ các hệ thống quản lý thông tin. Cho nên quy định trách nhiệm này đối với tất cả các cơ quan cung cấp thông tin là khó khả thi.

Thứ sáu, quy định người đứng đầu đơn vị được giao làm đầu mối cung cấp thông tin xử lý người cung cấp thông tin là không phù hợp về thẩm quyền

Khoản 2 Điều 34 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 quy định, người đứng đầu đơn vị được giao làm đầu mối cung cấp thông tin kịp thời xử lý người cung cấp thông tin thuộc thẩm quyền quản lý có hành vi cản trở quyền tiếp cận thông tin của công dân là chưa hợp lý về mặt thẩm quyền. Theo quy định này của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, có thể hiểu đơn vị được giao đầu mối cung cấp thông tin là một bộ phận hợp thành cơ quan cung cấp thông tin, cho nên người đứng đầu đơn vị được giao đầu mối không phải là người đứng đầu cơ quan cung cấp thông tin. Trong pháp luật hiện nay, các vấn đề thẩm quyền xử lý kỷ luật được quy định trong nhiều văn bản khác nhau, hầu hết các văn bản đều quy định người đứng đầu cơ quan nhà nước mới có thẩm quyền xử lý kỷ luật, ví dụ như Nghị định số 112/2020/NĐ-CP ngày 18/9/2020 của Chính phủ về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức quy định: Đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền bổ nhiệm hoặc được phân cấp thẩm quyền bổ nhiệm tiến hành xử lý kỷ luật và quyết định hình thức kỷ luật; đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu cơ quan quản lý hoặc người đứng đầu cơ quan được phân cấp quản lý công chức tiến hành xử lý kỷ luật và quyết định hình thức kỷ luật; đối với công chức biệt phái, người đứng đầu cơ quan nơi công chức được cử đến biệt phái tiến hành xử lý kỷ luật, thống nhất hình thức kỷ luật với cơ quan cử biệt phái trước khi quyết định hình thức kỷ luật... Bên cạnh đó, thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự thì phần lớn là do người có thẩm quyền của cơ quan khác xử lý, chứ không phải do người đứng đầu của chính cơ quan cung cấp thông tin có thẩm quyền xử lý. Mặt khác, trong cơ quan nhà nước thường có xu hướng bảo vệ, bao che, nể nang nhau khi họ vi phạm pháp luật và họ thường bỏ qua những lỗi cho nhau hoặc “giơ cao đánh khẽ”, dẫn đến vấn đề xử lý sẽ không nghiêm minh, khách quan và hiệu quả không cao khi mà pháp luật giao cho chính người trong cơ quan cung cấp thông tin xử lý người cung cấp thông tin thuộc cơ quan mình, có hành vi cản trở quyền tiếp cận thông tin của công dân.

2. Một số kiến nghị

Từ việc phân tích, đánh giá những hạn chế nêu trên, để bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân thực chất, hiệu quả trên thực tế, cần nghiên cứu, sửa đổi các quy định của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 về trách nhiệm của cơ quan cung cấp thông tin theo hướng:

- Thứ nhất, sửa đổi Điều 9 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 theo hướng bỏ nội dung tại khoản 2. Theo đó, Điều 9 Luật Tiếp cận thông tin nên quy định: “Cơ quan nhà nước có trách nhiệm cung cấp thông tin do mình tạo ra, trừ trường hợp quy định tại Điều 6 của Luật này; đối với trường hợp quy định tại Điều 7 của Luật này thì cung cấp thông tin khi có đủ điều kiện theo quy định. Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm cung cấp thông tin do mình tạo ra và thông tin do mình nhận được để trực tiếp thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, trừ trường hợp quy định tại Điều 6 của Luật này; đối với trường hợp quy định tại Điều 7 của Luật này thì cung cấp thông tin khi có đủ điều kiện theo quy định”.

- Thứ hai, sửa đổi khoản 2 Điều 6 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 phù hợp với Hiến pháp năm 2013 về việc hạn chế quyền tiếp cận thông tin của công dân. Điều 6 Luật Tiếp cận thông tin có thể được quy định như sau:

“Điều 6. Thông tin công dân không được tiếp cận

1. Thông tin thuộc bí mật nhà nước, bao gồm những thông tin có nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh quốc gia, đối ngoại, kinh tế, khoa học, công nghệ và các lĩnh vực khác theo quy định của luật.

Khi thông tin thuộc bí mật nhà nước được giải mật thì công dân được tiếp cận theo quy định của Luật này.

2. Thông tin mà nếu để tiếp cận sẽ gây nguy hại đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”.

- Thứ ba, sửa đổi Điều 11 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, quy định các hành vi bị nghiêm cấm đối với công dân, bao gồm: Hủy hoại thông tin; làm giả thông tin; sử dụng thông tin để chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phá hoại chính sách đoàn kết, kích động bạo lực; sử dụng thông tin nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín, gây kỳ thị về giới, gây thiệt hại về tài sản của cá nhân, cơ quan, tổ chức; cản trở, đe dọa, trù dập người yêu cầu, người cung cấp thông tin; các hành vi khác theo quy định của pháp luật.

- Thứ tư, để bảo đảm sự minh bạch, thống nhất, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 nên sửa đổi theo hướng quy định Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định việc xem xét, cân nhắc việc cung cấp thông tin vì lợi ích công cộng, sức khỏe của cộng đồng. Đây là những chủ thể được ban hành văn bản quy phạm pháp luật để quy định chi tiết điều, khoản, điểm trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan cấp trên và biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực được phân công trên phạm vi cả nước và địa phương. Theo đó, nên sửa đổi Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 theo hướng bỏ nội dung dung điểm g khoản 1 Điều 34 và bổ sung quy định “Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định việc xem xét, cân nhắc việc cung cấp thông tin vì lợi ích công cộng, sức khỏe của cộng đồng theo quy định pháp luật” vào Điều 35.

- Thứ năm, bỏ khoản 1 Điều 23 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016. Theo đó, nội dung Điều 23 Luật Tiếp cận thông tin nên quy định:

“Điều 23. Thông tin được cung cấp theo yêu cầu

1. Thông tin liên quan đến bí mật kinh doanh, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình đủ điều kiện cung cấp theo quy định tại Điều 7 của Luật này.

2. Thông tin liên quan đến đời sống, sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh của người yêu cầu cung cấp thông tin nhưng không thuộc loại thông tin quy định tại Điều 17 của Luật này và khoản 2 Điều này.

3. Ngoài thông tin quy định tại các khoản 1, 2 Điều này, căn cứ vào nhiệm vụ, quyền hạn, điều kiện và khả năng thực tế của mình, cơ quan nhà nước có thể cung cấp thông tin khác do mình tạo ra hoặc nắm giữ”.

- Thứ sáu, sửa đổi Điều 34 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 theo hướng bỏ quy định tại điểm h khoản 1.

- Thứ bảy, sửa đổi khoản 2 Điều 34 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 theo hướng quy định trách nhiệm người đứng đầu cơ quan cung cấp thông tin, như sau: “Người đứng đầu cơ quan cung cấp thông tin chịu trách nhiệm bảo đảm thực hiện nhiệm vụ cung cấp thông tin của cơ quan mình, kịp thời xử lý người cung cấp thông tin thuộc thẩm quyền quản lý có hành vi cản trở quyền tiếp cận thông tin của công dân”.

ThS. Dương Văn Quý
Phân hiệu Trường Đại học Luật Hà Nội tại tỉnh Đắk Lắk



[1]. Bài viết được thực hiện trong khuôn khổ đề tài của Trường Đại học Luật Hà Nội, Trách nhiệm bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam.

[2]. Vũ Thư (2020), Một số vấn đề về hoàn thiện chế định trách nhiệm kỷ luật hành chính ở Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 6 (386), tr.16.

[3]. Khoản 4 Điều 18 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.

Theo dõi chúng tôi trên: