Thứ bảy 10/10/2026 06:32
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về bảo vệ quyền con người và quyền công dân bằng thiết chế truyền thông

Bà Aung San Thar, một nhà báo quay phim cho "Đài Tiếng nói tự do Burma", một tổ chức truyền thông độc lập khuyến khích nhân quyền và tự do ngôn luận tại Myanmar nói rằng: "Chúng ta cần phải sáng tạo khi mở đường truyền thông sao cho tin tức mà chúng ta gửi đi sẽ đến được người nhận".

1. Bảo vệ nhân quyền bằng các thiết chế truyền thông

Đại sứ Eileen Chamberlain, Đại diện Hoa Kỳ tại Ủy ban Nhân quyền của Liên hợp quốc nói rằng: "Các chương trình thành viên Tự do Internet được khai trương... để làm sáng tỏ việc đổi mới sử dụng internet trong khuyến khích và bảo vệ nhân quyền. Người dân trên toàn thế giới đang sử dụng phương tiện truyền thông mới để kêu gọi tự do, minh bạch và tự quyết hơn. Chúng ta phải luôn nhớ rằng đó không chỉ là phương tiện mà những người dũng cảm sử dụng nó - nhà báo và phóng viên và các cá nhân công dân - họ là tiếng nói của tự do nhân quyền". Sự kiện này đã lôi cuốn một lượng người đọc trên mạng từ khắp thế giới. Các thành viên tự do Internet, nhiều trong số họ đã có nhiều đọc giả theo dõi, phát trực tiếp trong quá trình diễn ra tranh luận.

Đó là những ví dụ về vai trò ngày càng tăng của truyền thông đối với việc bảo vệ nhân quyền và quyền công dân. Vai trò này xuất phát từ vị trí và chức năng của truyền thông trong đời sống xã hội ở mỗi quốc gia và giờ đây là trên toàn cầu. Truyền thông là tấm gương phản chiếu xã hội, trong đó có các vấn đề về nhân quyền. Nhà báo có nghĩa vụ đạo đức phải khuyến khích nhân quyền ở bất kỳ lúc nào và bất kỳ trong câu chuyện nào mà họ kể. Truyền thông là những người giám sát mà chức năng của nó là cảnh báo người dân về những nguy cơ đối với tự do, an toàn xã hội, sinh mạng cũng như văn hóa của họ. Nhân quyền là thước đo đạo đức cho báo chí. Nhận thức và hiểu biết về nhân quyền sẽ làm cho người ta trở thành một nhà báo tốt và chuyên nghiệp hơn.

Các nhà báo có mối quan tâm cá nhân đặc biệt đến nhân quyền. Ở đâu nhân quyền yếu thì ở đó khó thể nói là có hoạt động báo chí tốt. Vì thế mà họ có trách nhiệm phản ánh những sự lạm dụng và đưa ra vấn đề ý thức nhân quyền. Nhân quyền là cơ sở để đánh giá chất lượng hoạt động báo chí tốt hay không. Báo chí không thể nói là tốt nếu không quan tâm đến nhân quyền.

Các vấn đề về nhân quyền ngày càng trở nên có ý nghĩa hơn so với quá khứ. Trên bình diện toàn cầu, sự kiểm soát của Nhà nước đối với truyền thông càng giảm đi. Ngày càng có nhiều tổ chức bảo vệ khuyến khích nhân quyền và sử dụng truyền thông để phản ánh tin tức về nhân quyền. Có nhiều người giám sát, điều tra các vụ việc lạm dụng, vi phạm nhân quyền và công bố những phát hiện của họ cho công chúng. Cơ chế giám sát của Liên hợp quốc ngày càng dễ nhận biết hơn. Nhiều vấn đề được coi là vấn đề nhân quyền như lạm dụng trẻ em, HIV/AIDS, lạm dụng và phát tán tình dục, nghèo đói, không nơi nương tựa. Nhiều Chính phủ đã nội luật hóa các nhân quyền vào trong chính sách và pháp luật của mình. Các đảng phái chính trị ngày càng có trách nhiệm hơn với nhân quyền. Nhân quyền được tranh luận trong các cuộc bầu cử. Việc sử dụng internet, điện thoại di động, và mạng truyền thông xã hội tăng lên một cách chóng mặt. Twitter và facebook cung cấp thêm nhiều kênh để tiếp nhận thông tin, nhiều nguồn tạo ra nhiều sự cảnh báo về sự vi phạm nhân quyền đó đây trên thế giới. Công nghệ và truyền thông xã hội cũng tạo ra nhiều cách thức để phản ánh những vi phạm nhân quyền. Một số mạng truyền thông xã hội quốc tế như BBC và CNN giờ đây thuê nhân viên ở các nước phát triển làm phóng viên, cộng tác viên. Điều này giúp cho họ có được những câu chuyện, sự kiện tại chỗ để đưa ra với công chúng.

Truyền thông có đạo đức liên quan đến cách thức mà những người hoạt động báo chí (phóng viên, biên tập viên và những người hoạt động báo chí khác) đưa ra các sự kiện và bình luận phản ánh cuộc sống của người dân. Nó khởi nguồn từ các giá trị đạo đức và tiến triển cùng với việc bảo vệ nhân quyền ở Châu Âu từ hơn 150 năm nay. Giờ đây truyền thông và nhân quyền giao cắt ở một thời điểm lịch sử đáng ghi nhận do hệ quả của toàn cầu hóa và sự bùng nổ của truyền thông công nghệ số.

Nhân quyền được bao hàm trong các hiệp ước giữa các nước, cụ thể là Tuyên ngôn nhân quyền năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền chính trị và dân sự (1966) và Công ước châu Âu về nhân quyền (1950), bảo đảm các quyền của mọi con người trong phạm vi thẩm quyền của các nước ký kết. Các quyền này được ghi nhận trong pháp luật và thực tế, chẳng hạn như với truyền thông, thì nó liên quan mật thiết đến xu thế đạo đức nơi mà chúng ta đang sống.

Bản thân những người hoạt động báo chí luôn quan tâm đến việc bảo vệ và khuyến khích những tiêu chí cao về nhân quyền, ví dụ như quyền tự do ngôn luận theo Điều 19 của Tuyên ngôn nhân quyền và Công ước quốc tế về các quyền chính trị và dân sự và Điều 10 của Công ước châu Âu về nhân quyền. Quyền được tự do ngôn luận là một bộ phận của Hiến chương về các quyền cơ bản của Liên minh châu Âu, tại Điều 16.

Pháp luật án lệ liên quan đến tự do ngôn luận được phát triển bởi Tòa án Strassbourg tạo sự hỗ trợ quan trọng trong cuộc đấu tranh vì quyền tự do ngôn luận, cụ thể là liên quan đến những vi phạm Điều 10 của Công ước châu Âu về nhân quyền theo đó quyền tự do ngôn luận chịu một số hạn chế nhất định như: "phải tuân thủ pháp luật" và "cần thiết trong một xã hội dân chủ". Quyền này bao hàm tự do đưa ra ý kiến và nhận và phổ biến thông tin và ý kiến. Tuy nhiên, nó là một quyền có điều kiện và có thể bị giới hạn bởi các quyết định vì lợi ích an ninh quốc gia, phòng chống gây mất ổn định hoặc tội phạm hoặc bảo vệ danh dự cá nhân.

2. Những hạn chế hoạt động truyền thông đối với nhân quyền

Người ta lưu ý rằng mặc dù nhân quyền được phản ánh nhiều hơn bao giờ hết so với quá khứ song chưa phải tất cả đều tốt. Còn nhiều hạn chế như:

- Nhiều vấn đề còn nhầm lẫn vì những người hoạt động báo chí chưa có được nhận thức đầy đủ về nhân quyền: Đó là gì, sao nó có được, nghĩa vụ của chính phủ ra sao và nó phải được khuyến khích và thực thi như thế nào.

- Vì chưa quan tâm đúng mức đến nhân quyền nên nhà báo bỏ qua những câu chuyện hoặc cách thức phản ánh các vấn đề. Điều này thể hiện chất lượng báo chí và quyền được thông tin của công chúng.

- Khi nhà báo đưa tin về các vấn đề nhân quyền, họ có thể hướng câu chuyện mà họ kể theo hướng khác, ví dụ như coi đó là tội phạm hoặc các câu chuyện công chúng hơn là các vấn đề nhân quyền. Họ bác bỏ sự tồn tại các tiêu chí nhân quyền quốc tế đối với bạo lực trong nước, phân biệt chủng tộc, đối xử với người di cư, lạm dụng trẻ em, giáo dục, sức khỏe, tự do văn hóa và nhiều vấn đề khác. Điều này làm giảm vai trò giám sát của truyền thông bởi vì nhà báo không quy kết trách nhiệm của chính phủ và các cơ quan quyền lực của nước họ về các vấn đề đó.

- Nhà báo phản ánh thông tin không có nội dung hoặc quan điểm. Vì thế, vi phạm nhân quyền bị bỏ qua hoặc các sự kiện mới ngay cả khi đó là các sự kiện nóng hổi trong câu chuyện vi phạm như vậy.

- Nhà báo đôi khi phạm sai lầm gây ra lạm dụng nhân quyền thông qua xâm phạm đời tư, gây ra phân biệt đối xử và rập khuôn, không quy kết trách nhiệm chính quyền hoặc làm căng thẳng thêm mâu thuẫn.

Những hạn chế này gây quan ngại cho các nhà báo khi họ hoạt động vì họ phải tuân thủ pháp luật mà pháp luật thì đưa ra những định nghĩa trừu tượng khó có thể chấp nhận được về thế nào là "an ninh" hoặc "gây bất ổn" hoặc "danh dự", vì những khái niệm đó có thể hạn chế tự do ngôn luận, làm tăng sự kiểm duyệt và giảm sự giám sát hợp pháp của công chúng đối với các vấn đề nhạy cảm. Tất nhiên, nhân quyền đôi khi cũng có xung đột. Sự cần thiết phải có sự cân bằng giữa các quyền đang xung đột đòi hỏi phải có những giải pháp cân xứng đối với những nhà làm luật và nhà báo. Điều 10 Công ước châu Âu về nhân quyền, chẳng hạn, cần phải cân bằng với Điều 8 đưa ra định nghĩa quyền riêng tư khi bắt đầu bằng "mỗi người có quyền được tôn trọng cuộc sống gia đình, nơi ở và thư tín riêng tư của họ".

Khi tự do ngôn luận xung đột với các quyền khác, ví như quyền riêng tư cá nhân, thì khó có cách để đánh giá, dù là ở phòng xử tòa án hay ở phòng tin tức, mà không có sự tôn trọng đối với người khác. Trong trường hợp đó, sự tôn trọng lẫn nhau, tuân thủ pháp luật và đạo đức xã hội sẽ làm tiêu chí cho sự đánh giá. Nhằm để đưa ra đánh giá mang tính bảo vệ về đạo đức và hợp pháp, các nhà báo phải có đủ năng lực, được đào tạo tốt, được thông tin đầy đủ, và trên hết, phải có khả năng hoạt động tự do trong các điều kiện có thể khuyến khích họ hành động hợp với đạo lý. Tuy nhiên, không thể dễ dàng đạt được một trong những điều nói trên khi truyền thông hoạt động trong một môi trường bị áp đặt và không kiểm soát được.

3. Tiếp cận thông tin và quyền được biết của nhân dân

Cho đến nay, đó đây trên thế giới vẫn còn nhiều hạn chế pháp luật đối với truyền thông. Một trong những hạn chế đó là quyền tiếp cận thông tin và quyền được biết của nhân dân. Để đấu tranh chống tham nhũng, vi phạm nhân quyền và giám sát những lĩnh vực công cộng, nhà báo cần phải được tiếp cận thông tin hữu ích và đáng tin cậy. Mặc dù có sự nở rộ trên toàn cầu về tự do thông tin trong thập kỷ vừa qua khi hàng chục nước đã ban hành luật bảo đảm cho nhân dân quyền được biết (thông tin) thì cuộc đấu tranh vì một chính quyền cởi mở chỉ đạt được phần nào.

Trong số 70 quốc gia có dân số chiếm quá 1/2 dân số thế giới, có luật về tự do thông tin. Tại châu Âu, truyền thống cởi mở đã có từ lâu, từ những năm 1766 khi Thụy Điển thiết lập quyền của công dân yêu cầu và nhận văn bản từ những người cai trị của họ. Nhưng một số nước châu Âu không ủng hộ truyền thống này.

Một cuộc điều tra năm 2006 của Tổ chức sáng kiến tư pháp về xã hội cởi mở đã cho thấy, một số nền dân chủ mới ở châu Âu tại Armenia, Bulgaria và Rumania. Cuộc điều tra cho thấy cụ thể thiếu luật pháp ở Áo, Tây Ban Nha và Ý ở lĩnh vực này. Năm 2008, Hội đồng châu Âu thông qua hiệp định đầu tiên trên thế giới về quyền tiếp cận thông tin, Công ước châu Âu về tiếp cận văn bản chính thức, nhưng văn bản này chỉ áp dụng trong phạm vi hẹp đối với các cơ quan công quyền và cho những nhà báo mất tinh thần, không áp đặt hạn chế đối với thời gian phải trả lời yêu cầu.

4. Quyền riêng tư và tự do ngôn luận

Có lẽ, một trong số những nhiệm vụ đầy thách thức của nhà báo và luật sư nhân quyền đó là cân bằng các quyền riêng tư đang còn tranh cãi và quyền tự do ngôn luận. Tự do riêng tư và tự do báo chí tạo điều kiện cho việc thực hiện các quyền khác như tự do ngôn luận, quyền được hành động theo lương tâm và tự do lập hội.

Điều 8 của Công ước châu Âu về nhân quyền quy định rằng, mỗi người có quyền được tôn trọng riêng tư và cuộc sống gia đình và hàng ngàn vụ việc tại Tòa đã được xét xử nhằm bảo vệ những người làm công bị sa thải bất công, thông dâm và nạn nhân của sự quấy rối tình dục. Tuy vậy, ở một số nước, nơi mà ít có truyền thống dân chủ thì việc xâm phạm riêng tư thường liên quan với xâm phạm các quyền và tự do cơ bản khác kể cả tự do báo chí.

Một vụ việc vi phạm ở Anh, khi các nhà báo của Tập đoàn truyền thông toàn cầu News Corporation nghe lén điện thoại dẫn đến việc đóng cửa của một trong những tờ báo bán chạy nhất châu Âu, tờ News of the World, cho thấy tác động ghê gớm của báo chí, hoạt động truyền thông thiếu thận trọng và vô trách nhiệm có thể nhanh chóng gây tác hại đến niềm tin của công chúng đến mức như thế nào.

Ở Anh, các biên tập viên và phóng viên nhà báo bắt buộc phải thừa nhận rằng, sự nổi giận của công chúng không thể dễ dàng bị dập tắt bằng việc cam kết hoạt động báo chí có đạo đức đáng tin cậy để cân bằng sự tôn trọng riêng tư với sự cần thiết đối với điều tra hợp pháp, giám sát và phát hiện của truyền thông. Nhà báo cần phải thể hiện nhiều sự gắn kết hơn với các quyền riêng tư. Trong mọi trường hợp khi mà sự riêng tư có nguy cơ bị xâm phạm, nhà báo phải cân nhắc để phản ánh phù hợp với vị trí trong xã hội, danh tiếng và vị trí của người đó trong đời sống công cộng.

Một ví dụ gần đây nhất là trong một cuộc vận động tranh cử, tuyên bố của ứng cử viên Tống thống Mỹ của Đảng Cộng hòa Donald Trump vào ngày 7/12/2015, kêu gọi cấm người Hồi giáo vào Hoa Kỳ sau vụ bắn giết hàng loạt tại San Bernadino, California. Tuyên bố này đã gặp phải nhiều sự chỉ trích của thế giới Hồi giáo và thậm chí chỉ trích từ trong nội bộ nước Mỹ rằng ông gây chia rẽ, hận thù với người di dân và người Hồi giáo, đang phá hoại an ninh quốc gia của Mỹ bằng việc thúc đẩy cho nhóm Nhà nước Hồi giáo (IS). Theo ông Kevin Johnson, Trưởng Khoa Luật của Đại học California ở Davis, kế hoạch của ông Trump là “một đề nghị gây bất bình”, và cũng có thể vi phạm điều khoản về quyền bảo vệ bình đẳng trong Tu chính án thứ 14. Ông nói “Đề nghị này rất kỳ quái vì tính chất vi hiến và thái độ thù nghịch với hiến pháp của nó thật là lớn”.

Vụ việc này cho thấy, truyền thông đã gây ra phản ứng mạnh mẽ trong dư luận thế giới, góp phần lên án những vi phạm nhân quyền. Hơn thế nữa, nó cũng cho thấy có không ít sự khác nhau trong nhận thức về nhân quyền.

Thay cho lời kết

Alexander Solzhenitsyn, nhà văn, nhà viết kịch Nga, rất đúng khi nói rằng: "Công lý là lương tâm, không phải là lương tâm cá nhân mà là lương tâm của toàn bộ loài người". Thế giới mà chúng ta đang sống hiện nay thực sự cần phải có sự khoan dung rộng lượng và hiểu biết nhân hậu. Thế giới chúng ta đang ngày càng nhỏ bé hơn và phụ thuộc nhau hơn bao giờ hết bởi sự gia tăng dân số một cách nhanh chóng và gia tăng tiếp xúc giữa công dân và chính phủ. Trên tinh thần đó, cần phải đánh giá lại các quyền và nghĩa vụ của các cá nhân, công dân và các quốc gia trong mối quan hệ với nhau và với toàn cầu. Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Những sự khác biệt về xã hội chỉ có thể dựa trên ích lợi chung. Sự thật hết sức hiển nhiên là con người được sinh ra một cách bình đẳng và tạo hóa dành cho họ những quyền vốn có đó là cuộc sống, tự do và mưu cầu hạnh phúc.

Phổ quát quyền con người giờ đây là một xu thế tất yếu. Dân chủ, phát triển và tôn trọng quyền con người và tự do căn bản đang lệ thuộc vào nhau và tăng cường lẫn nhau. Dân chủ dựa trên nguyện vọng tự do chính đáng của người dân được tự mình quyết định các thiết chế chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và sự tham gia đầy đủ vào các khía cạnh của cuộc sống của họ. Trên tinh thần đã nêu ở trên, việc tăng cường và bảo vệ quyền con người và các quyền tự do cơ bản ở tầm quốc gia và quốc tế phải mang tính phổ quát và được thực thi trong điều kiện của mỗi đất nước. Cộng đồng quốc tế cần hỗ trợ việc tăng cường và khuyến khích dân chủ, phát triển và sự tôn trọng các quyền cơ bản của con người trên toàn thế giới. Trong cuộc đấu tranh đó, truyền thông ngày càng đóng vai trò quan trọng. Với chức năng là tấm gương phản ánh thông tin về mọi lĩnh vực xã hội, truyền thông cần phát huy vai trò của mình trong lĩnh vực bảo vệ quyền con người và quyền công dân - lĩnh vực đang ngày càng được quan tâm và khuyến khích, bảo vệ trên bình diện quốc gia và quốc tế.

Nhóm nghiên cứu đề tài
(Bài viết là sản phẩm nghiên cứu của Đề tài khoa học cấp Bộ về “Tăng cường vai trò của thiết chế truyền thông trong bảo vệ quyền con người và quyền công dân ở Việt Nam”)



Tài liệu tham khảo:

1. PGS, TS. Nguyễn Thanh Tuấn, TS. Vũ Công Giao, Một số so sánh quyền con người với quyền công dân, Tạp chí Cộng sản online ngày 8/10/2015.

2. Tổng hợp các bài viết, nghiên cứu, tư liệu nước ngoài.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.

Theo dõi chúng tôi trên: