Thứ bảy 17/10/2026 12:32
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Mô hình tổ chức thi hành án dân sự công ở một số nước trên thế giới

Hiện nay trên thế giới, tuỳ theo đặc điểm truyền thống, môi trường pháp lý, điều kiện kinh tế - xã hội ở từng nước mà tổ chức thi hành án dân sự có thể được thể hiện dưới hình thức là một tổ chức công hoặc do tư nhân đảm nhiệm. Các nước có tổ chức thi hành án dân sự công tiêu biểu là Thụy Điển, Trung Quốc, Nga, Thái Lan, Singapore, Indonesia, Mỹ và phần lớn các nước trong cộng đồng chung châu Âu (Đức, Thuỵ Điển...)(1)... Đặc điểm chung nổi bật nhất của mô hình thi hành án công là tổ chức thi hành án bao gồm hệ thống các cơ quan thuộc bộ máy nhà nước, các chấp hành viên là công chức, viên chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Trong tổ chức thi hành án công có thể phân làm hai loại: Cơ quan thi hành án nằm trong cơ cấu tổ chức của Toà án và các cơ quan thi hành án thuộc cơ quan hành pháp.

1. Mô hình thi hành án dân sự công một số nước

1.1. Cơ quan thi hành án dân sự nằm trong Toà án

Điển hình là Singapore, Indonesia, Đức,… Tổ chức thi hành án ở các nước này là một bộ phận nằm trong cơ cấu tổ chức của Toà án - chấp hành viên là công chức đặt tại Toà án do Chánh án hoặc Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm. Toàn bộ hoạt động thi hành án đặt dưới sự giám sát, chỉ đạo của chánh án Toà án địa phương hoặc thẩm phán thi hành án. Mặc dù vậy, hoạt động thi hành án được tiến hành theo một thủ tục chặt chẽ và chỉ do chấp hành viên tiến hành theo quy định của pháp luật.

1.1.1. Indonesia

Luật Indonesia không quy định bất kỳ cơ quan thi hành án cụ thể hoặc riêng biệt nào. Việc thi hành các quyết định của Tòa án thuộc trách nhiệm của Tòa án trong các vụ án dân sự. Indonesia có hai Bộ luật Tố tụng dân sự - Herziene Indonesisch Reglement (HIR, áp dụng ở Java và Madura) và Reglement Buitengewesten (RBg, có hiệu lực trong phần còn lại của Indonesia).

Theo luật pháp Indonesia, sau khi ra bản án/quyết định, Tòa án sẽ thực hiện quá trình thi hành án. Trong các vụ án dân sự, chánh án Tòa án quận đã xét xử vụ án theo thủ tục sơ thẩm có trách nhiệm thi hành bản án. Do đó, một Tòa án quận cụ thể sẽ có trách nhiệm thi hành bất kỳ bản án phúc thẩm hay phá án của Tòa án tối cao (đối với phán quyết của mình). Bên thắng kiện trong một vụ án có thể đến Tòa án quận và đề nghị Tòa ra lệnh thi hành án. Thư ký Tòa án (panitera) hoặc chấp hành viên (juru sita) phải bảo đảm việc tuân thủ đúng lệnh thi hành án của chánh án. Ở mỗi Tòa án cấp huyện đều có chấp hành viên là người chịu trách nhiệm tổ chức thi hành các bản án/quyết định của Tòa. Khi cần thiết thì chấp hành viên có thể tổ chức cưỡng chế (với sự hỗ trợ của cảnh sát).

Thi hành án dân sự từ trước đến nay ở Indonesia vẫn do Tòa án đảm nhiệm, tuy nhiên, trước đây Tòa án trực thuộc Bộ Tư pháp quản lý. Cải cách satu atap đã tước bỏ một chức năng có lẽ được xem là chức năng chủ yếu của Bộ Tư pháp Indonesia, đó là quản lý các Tòa án. Trước khi có cải cách satu atap, người ta biết đến Bộ này với cái tên Departmen Kehakiman, theo nghĩa đen là Bộ về các vấn đề thuộc Tòa án, mặc dù tên này thường được dịch là Bộ Tư pháp. Hiện nay, Bộ đã được đổi tên thành Bộ Pháp luật và Nhân quyền (Kementerian Hukum dan Hak Asasi Manusia).

Lưu ý rằng, không có quy trình chính thức nào đối với việc xã hội hóa việc thi hành các bản án. Mặc dù từ năm 2001, xã hội hóa hoạt động thi hành án dân sự với xu hướng thành lập tổ chức thi hành án tư nhân đã được giới thiệu ở Indonesia - kinh nghiệm của Phần Lan và Hungary, tuy nhiên, đề xuất này chưa được chấp nhận.

1.1.2. Singapore

Việc tổ chức thi hành án dân sự ở Singapore do Tòa án đảm nhiệm. Hệ thống tổ chức Tòa án ở Singapore gồm Tòa án tối cao và Tòa cấp dưới. Ở Tòa án tối cao và Tòa cấp dưới có bộ phận thi hành án.

Nhân viên thi hành án vừa có nhiệm vụ thi hành án, vừa có nhiệm vụ tống đạt giấy tờ, thực hiện các lệnh bắt giữ. Nhân viên thi hành án của Tòa án nào thì thi hành bản án của Tòa án đó. Nhân viên thi hành án của Toà cấp dưới không có quyền bắt giữ tàu biển và thi hành các bản án mà giá trị lên đến 250.000 đô la Singapore; những bản án loại này do nhân viên thi hành án Toà tối cao thi hành. Nhân viên thi hành án phải thi hành đúng luật, công khai, không được tham nhũng. Trường hợp có hành vi tiêu cực sẽ bị xử lý theo pháp luật, bị chuyển làm việc khác.

Ngân sách nhà nước chỉ hỗ trợ một phần cho hoạt động thi hành án, chủ yếu là việc trả lương cho chấp hành viên, thẩm phán thi hành án nếu đó là thiết chế thuộc bộ máy nhà nước. Các chi phí cưỡng chế thi hành án thì người phải thi hành án phải chịu, trường hợp tài sản của người phải thi hành án không đủ thì có thể do người được thi hành án chịu.

Về thủ tục thi hành án dân sự: Khi có bản án, người được thi hành đến gặp người phải thi hành để xem xét khả năng thi hành của họ và yêu cầu họ phải thi hành. Nếu người phải thi hành án không thi hành, người được thi hành án muốn được thi hành phải có đơn yêu cầu thi hành án (theo mẫu in sẵn) gửi Toà án. Bên cạnh đó, người được thi hành án hoặc luật sư đại diện phải trực tiếp chỉ cho nhân viên thi hành án những tài sản mà người phải thi hành án phải trả cho người được thi hành án, hoặc trong trường hợp thi hành các bản án về trả tiền thì chỉ cho nhân viên thi hành án những tài sản của người phải thi hành án để nhân viên thi hành án kiểm kê, dán niêm phong hoặc chuyển giao tài sản cho người khác giữ.

1.2. Cơ quan thi hành án dân sự thuộc cơ quan hành pháp

Điển hình là Nga, Hoa Kỳ, Thụy Điển, Thái Lan, Philippines,… Các cơ quan thi hành án thuộc loại này được phân thành hai dạng mô hình sau đây:

- Mô hình tổ chức thi hành án dân sự công, độc lập, tạo thành một hệ thống từ trung ương đến địa phương thuộc thẩm quyền quản lý của các cơ quan quản lý hành chính tư pháp như Trung Quốc… Việt Nam cũng là nước theo mô hình này.

- Mô hình tổ chức thi hành án dân sự công, độc lập, tạo thành một hệ thống từ trung ương đến khu vực đặt dưới quản lý của Hội đồng thuế quốc gia (Thụy Điển); hoặc Cục Thi hành án thuộc Bộ Tư pháp Liên bang (Nga - quản lý cả thi hành án dân sự và thi hành án hình sự);...

1.2.1. Nga(2)

Cục Thi hành án Liên bang được tổ chức theo Luật Liên bang về chấp hành viên Tòa án ngày 21/7/1997 và Quy chế Cục Thi hành án Liên bang được phê chuẩn theo Sắc lệnh của Tổng thống Liên bang Nga ngày 13/10/2004 (đã được sửa đổi, bổ sung). Ở địa phương có 83 cơ quan thi hành án địa phương.

Cục Thi hành án Liên bang do chấp hành viên trưởng Liên bang Nga đứng đầu, là người được Tổng thống Liên bang Nga bổ nhiệm và miễn nhiệm. Chấp hành viên trưởng cũng quy định trình tự, thủ tục bổ nhiệm và miễn nhiệm các chấp hành viên khác.

Cục Thi hành án Liên bang được giao nhiệm vụ bảo đảm trật tự tại Tòa án, thi hành văn bản thi hành án, áp dụng các biện pháp cưỡng chế khác theo quy định của pháp luật và quyết định thi hành án; tổ chức việc kê biên và bán tài sản kê biên; truy tìm con nợ và tài sản của họ; tham gia vào việc bảo vệ lợi ích của Liên bang Nga với tư cách chủ nợ trong các vụ việc và vụ kiện phá sản; tham gia thực hiện quyết định của các ủy ban giải quyết tranh chấp lao động; hướng dẫn và giám sát hoạt động của các cơ quan thi hành án địa phương thuộc Cục Thi hành án Liên bang; lập và duy trì ngân hàng dữ liệu về công tác thi hành án và các nhiệm vụ tương tự khác.

Đội ngũ chấp hành viên được tổ chức thành hai bộ phận: Bộ phận thứ nhất thực hiện chức năng bảo đảm an ninh trật tự tại Tòa án và bộ phận thứ hai chịu trách nhiệm thi hành bản án và quyết định khác của Tòa án (Luật Liên bang về chấp hành viên).

Để thực thi các quyền hạn được giao, Cục Thi hành án Liên bang có quyền yêu cầu các cơ quan quyền lực nhà nước Liên bang, các cơ quan quyền lực nhà nước của các chủ thể thuộc Liên bang Nga, các cơ quan tự quản địa phương và các tổ chức bất kể có hình thức tổ chức về pháp lý như thế nào cung cấp (cũng như nhận lại) chứng từ, tài liệu, hồ sơ khác cần thiết để giúp quyết định các vấn đề thuộc lĩnh vực hoạt động của mình. Cục Thi hành án Liên bang thực hiện việc phối hợp hoạt động liên ngành với các cơ quan và tổ chức thi hành các yêu cầu của bản án và quyết định các cơ quan và công chức khác trong các trường hợp do luật pháp Nga quy định. Khi thực hiện chức năng bảo vệ tại trụ sở Tòa án, Cục Thi hành án Liên bang có thể yêu cầu sự hỗ trợ của cán bộ các cơ quan nội vụ, cơ quan quản lý di trú, các cơ quan của Cục An ninh Liên bang, cơ quan ứng phó tình trạng khẩn cấp và các cơ quan khác.

Bộ Tư pháp Liên bang Nga chịu trách nhiệm về việc phối hợp và giám sát hoạt động của Cục Thi hành án Liên bang và thực hiện các chức năng liên quan đến việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động của Cục Thi hành án Liên bang. Đối với lực lượng chấp hành viên làm nhiệm vụ bảo vệ thì cơ quan giám sát là Tòa án mà các chấp hành viên đó trực thuộc. Khiếu nại về hành vi của chấp hành viên do Tòa án giải quyết trong các trường hợp do pháp luật quy định.

1.2.2. Hoa Kỳ

Hoạt động thi hành án ở Hoa Kỳ không được coi là một giai đoạn của tố tụng. Trong quy định về tố tụng ở cả cấp Liên bang(3) lẫn quy định về tố tụng ở cấp bang đều không có quy định về công tác thi hành án. Việc thi hành án cũng được tách biệt giữa cấp Liên bang và cấp bang.

1.2.2.1. Cấp Liên bang

Cơ quan chịu trách nhiệm về thi hành pháp luật ở cấp Liên bang là Tổng cục Thi hành pháp luật Liên bang (US Marshal Service)(4), một đơn vị trực thuộc Bộ Tư pháp Hoa Kỳ. Gắn với mỗi Toà án khu vực Liên bang (tổng cộng có 94 Toà án khu vực Liên bang với thẩm quyền xét xử sơ thẩm; cấp trên của các Toà án này là các Toà phúc thẩm Liên bang và đỉnh của hệ thống là Toà án tối cao Hoa Kỳ) đều có 1 Cục Thi hành pháp luật Liên bang đứng đầu là Cục trưởng do Tổng thống – người đứng đầu bộ máy hành pháp Hoa Kỳ - bổ nhiệm. Kinh phí hoạt động của Tổng cục Thi hành pháp luật Liên bang đến từ nguồn ngân sách và từ các khoản thu do bắt giữ và đấu giá tài sản.

Cục Thi hành pháp luật Liên bang là cơ quan chịu trách nhiệm thi hành pháp luật tại các khu vực thẩm quyền của các Tòa án Liên bang. Các chức năng nhiệm vụ chính của Cục bao gồm(5)a:

- Chức năng điều tra, bắt giữ các đối tượng bị tình nghi phạm tội;

- Chức năng bắt giữ, đấu giá tài sản. Đây là chức năng quan trọng thứ hai trong số các chức năng của cơ quan thi hành pháp luật Liên bang. Các tài sản bị bắt giữ bao gồm cả tài sản liên quan tới tội phạm hình sự, cả tài sản liên quan tới thi hành án dân sự;

- Chức năng quản lý và vận hành các nhà tù;

- Chức năng áp giải tội phạm trong phạm vi lãnh thổ Hoa Kỳ và dẫn độ tội phạm qua biên giới;

- Chức năng bảo vệ các Tòa án Liên bang, giữ an ninh trật tự cho các phiên tòa tại các Tòa án này, bảo vệ nhân chứng và gia đình họ, bảo vệ các nhân vật quan trọng trong chính quyền.

Như vậy có thể thấy, cơ quan thi hành pháp luật Liên bang của Hoa Kỳ có chức năng vừa giống cơ quan điều tra, vừa giống cơ quan cảnh sát tư pháp, vừa giống cơ quan quản lý trại giam, vừa giống cơ quan thi hành án hình sự và dân sự ở Việt Nam(6).

1.2.2.2. Cấp bang

Đối với hoạt động thi hành pháp luật, chức danh quan trọng nhất là cảnh sát trưởng (sheriff)(7). Ngoài cảnh sát trưởng và đơn vị trực thuộc và Văn phòng cảnh sát trưởng, nhiều địa phương ở Hoa Kỳ còn có cả Sở cảnh sát cũng tham gia vào thực hiện chức năng thi hành pháp luật.

Tại hầu hết các bang ở Hoa Kỳ, cảnh sát trưởng chính là nhân viên thi hành pháp luật cao nhất. Cảnh sát trưởng tại mỗi quận được người dân trong quận bầu ra và đồng thời giữ cương vị ủy viên Hội đồng địa phương. Giúp việc cho cảnh sát trưởng có đội ngũ nhân viên hoạt động chuyên môn, được gọi là các nhân viên Văn phòng cảnh sát trưởng (sheriff’s officer) hoặc nhân viên thi hành pháp luật (sheriff’s deputy). Tại một số khu vực của Hoa Kỳ, cảnh sát trưởng còn có thể chịu trách nhiệm thu thuế và do đó có thể có một số tên gọi khác như nhân viên thu thuế hoặc nhân viên kho bạc của quận.

Trên thực tế, mặc dù là một cơ quan nhà nước, có kinh phí hoạt động phần lớn là do ngân sách cấp hàng năm trên cơ sở dự toán, Văn phòng cảnh sát trưởng vẫn được coi là một đơn vị cung cấp dịch vụ trật tự công cộng và an ninh xã hội. Kinh phí hoạt động hàng năm của Văn phòng cảnh sát trưởng được cấp từ ngân sách địa phương. Các khoản thu có được từ dịch vụ cưỡng chế thi hành án nhìn chung không nhiều – cũng chứng tỏ sự tham gia của Văn phòng cảnh sát trưởng vào các hoạt động thi hành án dân sự tương đối hạn chế.

2. Một số kinh nghiệm gợi mở cho Việt Nam

Qua nghiên cứu, phân tích mô hình tổ chức thi hành án của các nước và xét trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, chúng ta có thể áp dụng hình thức thi hành án bán công, vì các lý do sau đây:

Một là, có thể tiếp tục sử dụng trên cơ sở sắp xếp lại một cách hợp lý tổ chức thi hành án công và chế độ công chức thi hành án đang được thực hiện tại Việt Nam, đồng thời có thể triển khai thực hiện chủ trương xã hội hoá một số loại hình dịch vụ thi hành án dân sự thông thường như tống đạt giấy tờ, biên bản xác minh tài sản, địa chỉ của người phải thi hành án… và được thu phí dịch vụ đối với người được thi hành án.

Hai là, mô hình thi hành án bán công sẽ giúp giảm nhẹ một cách đáng kể các chi phí bao cấp của Nhà nước đối với hoạt động thi hành án dân sự.

Ba là, tạo ra cơ chế hợp tác cùng có lợi giữa các đương sự và cơ quan thi hành án trong hoạt động thi hành án mở rộng quyền tự định đoạt của các đương sự, nhất là trong việc lựa chọn các phương thức thi hành án.

Bốn là, góp phần hạn chế, khắc phục tình trạng tồn đọng án kéo dài do tình trạng quá tải vì thiếu nhân lực, kinh phí, phương tiện hoạt động ở các cơ quan thi hành án công.

Tuy nhiên, để triển khai việc này phải có kế hoạch từng bước tách riêng chế độ công chức thi hành án đối với khoản thi hành án về tịch thu tài sản, phạt tiền, thu nợ cho Nhà nước, các quyết định khẩn cấp tạm thời… đồng thời áp dụng chế độ thi hành án theo yêu cầu của người được thi hành án và người phải thi hành án. Trong trường hợp này, họ phải trang trải các chi phí mà chấp hành viên đã bỏ ra một cách hợp lý. Điều cần lưu ý là phải kết hợp bộ máy thi hành công với bán công để vừa công chức hoá cán bộ ở mức cần thiết cho việc thực hiện chính sách chung của Đảng và Nhà nước (bảo vệ lợi ích công, các đối tượng chính sách), vừa từng bước xã hội hoá thi hành án dân sự (mở rộng mô hình thừa phát lại) phù hợp với thực tiễn cuộc sống(8)

Tài liệu tham khảo:

1. Có 26 nước mô hình thi hành án là công, bao gồm: Albania, Andorra, Austria, Azerbaijan, Bosnia-Herzegovina, Bulgaria, Croatia, Cyprus, Denmark, Finland, Georgia, Germany, Iceland, Italy, Liechtenstein, Malta, Moldova, Norway, Russian Federation, San Marino, SM-Montenegro, SM-Serbia, Sweden, Turkey, UK-Northern, Ireland, Ukraine.

2. Theo tài liệu Nghiên cứu tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp của 5 quốc gia, sách chuyên khảo của Dự án Tăng cường tiếp cận công lý và bảo vệ quyền tại Việt Nam, xuất bản năm 2011.

3. Federal Rules of Civil Procedure.

4. Trong tài liệu này, tác giả chọn sử dụng thuật ngữ tiếng Việt là Cục Thi hành pháp luật Liên bang để chỉ cơ quan này với lý do như đề cập ở cuối phần 1.2.2.1.

5. http://www.usmarshals.gov/duties/factsheets/ general-2013.pdf.

6. Đây cũng là lý do tác giả chọn dịch tên gọi của cơ quan này - US Marshal Service - là Tổng cục Thi hành pháp luật Liên bang.

7. Trong số 50 bang của Hoa Kỳ, có 48 bang có chức vụ cảnh sát trưởng.

8. Bộ Tư pháp, Đề tài cấp Nhà nước năm 2000: Luận cứ khoa học và thực tiễn của việc đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mới, MS 2000-58-98, Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Đình Lộc.

Chu Thị Hoa

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.

Theo dõi chúng tôi trên: