Thứ tư 21/01/2026 01:17
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số bất cập trong quy định pháp luật về an toàn thực phẩm và kiến nghị hoàn thiện

Nghiên cứu này tập trung phân tích một số nội dung bất cập, chưa phù hợp như quy định một số khái niệm liên quan đến sản xuất, kinh doanh thực phẩm, các quy định quản lý, điều kiện và nguyên tắc bảo đảm an toàn thực phẩm theo pháp luật an toàn thực phẩm hiện hành, từ đó, đề xuất kiến nghị hoàn thiện.

Từ khóa: thực phẩm bẩn, an toàn thực phẩm, pháp luật về an toàn thực phẩm, hoàn thiện pháp luật về an toàn thực phẩm, Luật An toàn thực phẩm.

Some shortcomings in legal regulations on food safety and recommendations for improvement

Abstract: This study focuses on analyzing some inadequate and inappropriate contents such as regulations on some concepts related to food production and trading, management regulations, conditions and principles of ensuring food safety according to current food safety laws, thereby proposing recommendations for improvement.

Keywords: Dirty food; food safety; food safety law; improving food safety law; Food Safety Law.

Ảnh minh họa

Đặt vấn đề

Thực trạng về an toàn thực phẩm hiện nay cho thấy thực phẩm bẩn, không rõ nguồn gốc, xuất xứ đang tràn lan trên thị trường khiến người tiêu dùng khó có thể lựa chọn được những sản phẩm bảo đảm an toàn[1].

An toàn thực phẩm luôn là vấn đề nóng hổi, được mọi người quan tâm, nhất là trong bối cảnh ở nước ta hiện nay. An toàn thực phẩm hiểu theo nghĩa hẹp là một môn khoa học mô tả việc xử lý, chế biến, bảo quản và lưu trữ thực phẩm bằng những phương pháp phòng ngừa, phòng chống bệnh tật do thực phẩm gây ra[2]. Vệ sinh an toàn thực phẩm cũng bao gồm một số thói quen, thao tác trong khâu chế biến cần được thực hiện để tránh các nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe nghiêm trọng. Hiểu theo nghĩa rộng, vệ sinh an toàn thực phẩm là toàn bộ những vấn đề cần xử lý liên quan đến an toàn vệ sinh thực phẩm nhằm bảo đảm cho sức khỏe của người tiêu dùng.

1. Một số bất cập trong quy định pháp luật về an toàn thực phẩm

1.1. Chưa quy định rõ về một số khái niệm liên quan đến an toàn thực phẩm

Thứ nhất, khoản 8 Điều 2 Luật An toàn thực phẩm năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 28/2018/QH14 ngày 15/6/2018 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 luật có liên quan đến quy hoạch) (Luật An toàn thực phẩm năm 2010) đưa ra khái niệm kinh doanh thực phẩm như sau: kinh doanh thực phẩm là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động giới thiệu, dịch vụ bảo quản, dịch vụ vận chuyển hoặc buôn bán thực phẩm. Đây là quy định pháp luật để thống nhất cách hiểu chung về khái niệm “kinh doanh thực phẩm” từ trung ương đến địa phương. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy khái niệm về “kinh doanh thực phẩm” trên chưa khoa học, chưa đúng với bản chất kinh doanh thực phẩm là một loại hình kinh doanh có điều kiện nghiêm ngặt nhằm bảo đảm điều kiện an toàn sức khỏe, tính mạng của con người trong xã hội hiện đại của nước ta.

Khoản 21 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020 (sửa đổi, bổ sung năm 2022) định nghĩa rất rõ và khoa học khái niệm kinh doanh như sau: kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Khoản 1 Điều 3 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2024 định nghĩa khái niệm kinh doanh bất động sản như sau: kinh doanh bất động sản là hoạt động nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc bỏ vốn để tạo lập nhà ở, công trình xây dựng, quyền sử dụng đất đã có hạ tầng kỹ thuật trong dự án bất động sản để bán, chuyển nhượng; cho thuê, cho thuê lại, cho thuê mua nhà ở, công trình xây dựng; cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất đã có hạ tầng kỹ thuật trong dự án bất động sản; chuyển nhượng dự án bất động sản; kinh doanh dịch vụ bất động sản.

Tính chưa phù hợp của khái niệm “kinh doanh thực phẩm” trong Luật An toàn thực phẩm năm 2010 là mới chỉ phản ánh hoạt động mua, bán thực phẩm thay vì phản ánh toàn diện về kinh doanh thực phẩm. Cụ thể, các hoạt động như giới thiệu, dịch vụ bảo quản, dịch vụ vận chuyển hoặc buôn bán thực phẩm là hoạt động mua bán, cung ứng dịch vụ thương mại mà Luật Thương mại năm 2005 (sửa đổi năm 2019) đang điều chỉnh.

Thứ hai, khoản 14 Điều 2 Luật An toàn thực phẩm năm 2010 quy định về khái niệm “sản xuất thực phẩm” cũng chưa được xác định một cách rõ ràng và thống nhất. Cụ thể, định nghĩa “sản xuất thực phẩm là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, thu hái, đánh bắt, khai thác, sơ chế, chế biến, bao gói, bảo quản để tạo ra thực phẩm” chưa thể hiện được các điều kiện bắt buộc bảo đảm an toàn thực phẩm. Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và xu hướng toàn cầu hóa, việc sản xuất thực phẩm cần tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn nhằm bảo đảm sức khỏe và tính mạng con người. Tại nhiều quốc gia phát triển, chỉ những tổ chức chuyên nghiệp, có thương hiệu và uy tín mới được cấp phép sản xuất thực phẩm nhằm kiểm soát chặt chẽ chất lượng sản phẩm. Bên cạnh đó, cách hiểu hiện tại về “sản xuất thực phẩm” trong Luật An toàn thực phẩm năm 2010 chưa tương thích với các quy định khác, đặc biệt là điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong thực tiễn. Điều này có thể tạo ra nguy cơ khuyến khích sản xuất thực phẩm nhỏ lẻ, tự phát mà không có sự kiểm soát chặt chẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng thực phẩm trên thị trường.

Thứ ba, khoản 20 Điều 2 Luật An toàn thực phẩm năm 2010 định nghĩa về thực phẩm như sau: “Thực phẩm là sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, bảo quản. Thực phẩm không bao gồm mỹ phẩm, thuốc lá và các chất sử dụng như dược phẩm”. Nghiên cứu cho thấy, việc loại trừ mỹ phẩm trong định nghĩa thực phẩm là không cần thiết, bởi bản chất của mỹ phẩm không liên quan đến thực phẩm.

Mỹ phẩm là những chất hoặc sản phẩm được dùng để trang điểm hoặc thay đổi diện mạo hoặc mùi hương cơ thể người. Nhiều mỹ phẩm được thiết kế để sử dụng cho mặt và tóc. Chúng thường là hỗn hợp các hợp chất hóa học; một số xuất phát từ nguồn gốc tự nhiên (như dầu dừa) và một số được tổng hợp. Các loại mỹ phẩm phổ biến gồm có son môi, mascara, phấn mắt, kem nền, phấn má hồng, phấn phủ, sữa rửa mặt và sữa dưỡng thể, dầu gội, sản phẩn tạo kiểu tóc (gel vuốt tóc, gôm xịt tóc...), nước hoa. Mỹ phẩm thường được thoa lên mặt để làm nổi bật diện mạo nên còn được gọi là đồ trang điểm hay đồ hóa trang không phải là một sản phẩm con người sử dụng để ăn, uống[3]. Tương tự, thuốc lá cũng không phải sản phẩm dùng để ăn hoặc uống. Khoản 1 Điều 2 Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá năm 2012 (được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 28/2018/QH14 ngày 15/6/2018 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 luật có liên quan đến quy hoạch) quy định về thuốc lá như sau: “Thuốc lá là sản phẩm được sản xuất từ toàn bộ hoặc một phần nguyên liệu thuốc lá, được chế biến dưới dạng thuốc lá điếu, xì gà, thuốc lá sợi, thuốc lào hoặc các dạng khác”. Mặt khác, khoản 2 Điều 2 Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá năm 2012 định nghĩa cách sử dụng thuốc lá là: “Sử dụng thuốc lá là hành vi hút, nhai, ngửi, hít, ngậm sản phẩm thuốc lá”[4].

1.2. Một số bất cập trong quy định pháp luật hiện hành liên quan đến an toàn thực phẩm trong nền kinh tế thị trường ở nước ta

Thứ nhất, những bất cập đối với quy định về nguyên tắc quản lý an toàn thực phẩm.

Điều 3 Luật An toàn thực phẩm năm 2010 quy định 06 nhóm nguyên tắc quản lý an toàn thực phẩm, như sau: “1. Bảo đảm an toàn thực phẩm là trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm; 2. Sản xuất, kinh doanh thực phẩm là hoạt động có điều kiện; tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải chịu trách nhiệm về an toàn đối với thực phẩm do mình sản xuất, kinh doanh; 3. Quản lý an toàn thực phẩm phải trên cơ sở quy chuẩn kỹ thuật tương ứng, quy định do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành và tiêu chuẩn do tổ chức, cá nhân sản xuất công bố áp dụng; 4. Quản lý an toàn thực phẩm phải được thực hiện trong suốt quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên cơ sở phân tích nguy cơ đối với an toàn thực phẩm; 5. Quản lý an toàn thực phẩm phải bảo đảm phân công, phân cấp rõ ràng và phối hợp liên ngành; 6. Quản lý an toàn thực phẩm phải đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội”.

Xét theo phương diện lập pháp, việc xây dựng 06 nhóm nguyên tắc để điều chỉnh hoạt động quản lý an toàn thực phẩm trong thực tiễn là rất cần thiết và khoa học. Tuy nhiên, xét về nguyên tắc quản lý, đây là những quy phạm pháp luật mang tính bắt buộc thay vì mang tính định nghĩa. Nhưng, khoản 1 và khoản 2 Điều 3 Luật An toàn thực phẩm năm 2010 lại được xây dựng theo hướng định nghĩa trong một quy phạm pháp luật bắt buộc là chưa hợp lý và có thể gây khó khăn trong áp dụng thực tiễn.

Thứ hai, điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm quy định tại Điều 19 Luật An toàn thực phẩm năm 2010 với hai khoản riêng biệt, như sau:

“1. Cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải bảo đảm các điều kiện sau: a) Có địa điểm, diện tích thích hợp, có khoảng cách an toàn đối với nguồn gây độc hại, nguồn gây ô nhiễm và các yếu tố gây hại khác; b) Có đủ nước đạt quy chuẩn kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh doanh thực phẩm; c) Có đủ trang thiết bị phù hợp để xử lý nguyên liệu, chế biến, đóng gói, bảo quản và vận chuyển các loại thực phẩm khác nhau; có đủ trang thiết bị, dụng cụ, phương tiện rửa và khử trùng, nước sát trùng, thiết bị phòng, chống côn trùng và động vật gây hại; d) Có hệ thống xử lý chất thải và được vận hành thường xuyên theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; đ) Duy trì các điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm và lưu giữ hồ sơ về nguồn gốc, xuất xứ nguyên liệu thực phẩm và các tài liệu khác về toàn bộ quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm; e) Tuân thủ quy định về sức khỏe, kiến thức và thực hành của người trực tiếp sản xuất, kinh doanh thực phẩm.

2. Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ trưởng Bộ Công thương ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và quy định cụ thể về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý”.

Nghiên cứu cho thấy, Điều 19 Luật An toàn thực phẩm năm 2010 quy định về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm còn nhiều điểm chưa phù hợp với thực tiễn như mang tính định tính, chưa đủ chi tiết để áp dụng một cách thống nhất. Điều này gây khó khăn cho các tổ chức, cá nhân trong quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm cũng như ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm.

Chẳng hạn, quy định về địa điểm, diện tích thích hợp và nhất là “khoảng cách an toàn với nguồn gây ô nhiễm” không thể áp dụng chung cho mọi loại hình sản xuất, kinh doanh thực phẩm, việc áp dụng chung có thể dẫn đến sự bất hợp lý trong thực tế áp dụng pháp luật. Bên cạnh đó, sự thiếu rõ ràng trong phân biệt điều kiện sản xuất và điều kiện kinh doanh thực phẩm cũng gây nhầm lẫn trong việc áp dụng các quy định pháp luật.

2. Một số kiến nghị

2.1. Hoàn thiện quy định về giải thích từ ngữ liên quan đến các khái niệm về an toàn thực phẩm

Thứ nhất, khắc phục những bất cập ảnh hưởng đến cách hiểu về kinh doanh thực phẩm cũng như phân biệt rõ hoạt động kinh doanh mang tính đặc thù trong nền kinh tế thị trường. Pháp luật về an toàn thực phẩm cần quy định cụ thể, rõ ràng tránh nhầm lẫn các bước, các khâu trong hoạt động kinh doanh thực phẩm. Vì vậy, khoản 8 Điều 2 Luật An toàn thực phẩm năm 2010 cần sửa đổi để thống nhất cách hiểu về kinh doanh thực phẩm theo hướng: “kinh doanh thực phẩm là hoạt động kinh doanh có điều kiện của tổ chức, cá nhân thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm thực phẩm hoặc cung ứng dịch vụ thực phẩm trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận”.

Thứ hai, cần làm rõ khái niệm “sản xuất thực phẩm” tại khoản 14 Điều 2 Luật An toàn thực phẩm năm 2010, để thống nhất cách hiểu và khoa học, dễ áp dụng hơn trong thực tiễn theo hướng: “Sản xuất thực phẩm là hoạt động đầu tư của tổ chức, cá nhân thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, thu hái, đánh bắt, khai thác, sơ chế, chế biến, bao gói, bảo quản để tạo ra thực phẩm”.

Thứ ba, khắc phục những bất cập về khái niệm “thực phẩm” tại khoản 20 Điều 2 Luật An toàn thực phẩm năm 2010. Nghiên cứu đề xuất sửa đổi nội dung định nghĩa về “thực phẩm” theo hướng: (i) bãi bỏ cụm từ “Thực phẩm không bao gồm mỹ phẩm, thuốc lá và các chất sử dụng như dược phẩm” trong khoản 20 Điều 2 để bảo đảm tính khoa học, dễ áp dụng hơn trong thực tiễn; (ii) bổ sung cụm từ “có thể” trong khái niệm về “thực phẩm” tại khoản 20 Điều 2 để thể hiện tính linh hoạt trong cách hiểu khi xác định sản phẩm tự nhiên hay sản phẩm đã có sự tác động của con người bằng hình thức sơ chế, bảo quản, chế biến như sau: “Thực phẩm là sản phẩm mà con người có thể ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, bảo quản”.

2.2. Hoàn thiện pháp luật về an toàn thực phẩm

Thứ nhất, quy định về những nguyên tắc quản lý an toàn thực phẩm khoa học nhằm điều chỉnh có hiệu quả hơn. Điều 3 Luật An toàn thực phẩm năm 2010 cần sửa đổi theo hướng: (i) khoản 1 sửa đổi thành quy phạm bắt buộc chứ không phải là quy phạm định nghĩa: “1. Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm bắt buộc phải bảo đảm an toàn thực phẩm;…”; (ii) bãi bỏ cụm từ “Sản xuất, kinh doanh thực phẩm là hoạt động có điều kiện” tại khoản 2 để đồng bộ với khái niệm về “kinh doanh thực phẩm” trong khoản 8 Điều 2 và khái niệm về “sản xuất thực phẩm” trong khoản 12 Điều 2. Trong khoản 2 Điều 3 cần xác định cụ thể: “tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải chịu trách nhiệm về an toàn đối với thực phẩm do mình sản xuất, kinh doanh”.

Thứ hai, quy định điều kiện sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải an toàn tuyệt đối để phục vụ tốt nhất đời sống xã hội, bảo đảm an toàn sức khỏe và tính mạng của con người. Do đó, phải quy định cụ thể, tách bạch điều kiện hoạt động sản xuất thực phẩm với điều kiện kinh doanh thực phẩm. Các quy định này áp dụng thống nhất trong phạm vi toàn quốc đối với cơ quan quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm, tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh thực phẩm. Nghiên cứu đề xuất cần phải sửa đổi, bổ sung một cách khoa học, cụ thể hơn về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm, quy định tại khoản 1 Điều 19 Luật An toàn thực phẩm năm 2010 theo hướng: (i) tách bạch điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất; (ii) tách bạch điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sở kinh doanh thực phẩm; (iii) chuyển nội dung quy định tại khoản 2 Điều 19 Luật An toàn thực phẩm năm 2010 thành khoản 3 để khoa học hơn và phù hợp với kỹ thuật lập pháp. Xây dựng Điều 19 Luật An toàn thực phẩm năm 2010 thành ba khoản riêng biệt là quy phạm bắt buộc điều chỉnh mọi chủ thể phải thực hiện.

3. Kết luận

Theo số liệu thống kê của Cục Quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm, Bộ Y Tế, số lượng các vụ ngộ độc thực phẩm hay số người bị nhiễm độc thực phẩm còn khá cao[5]. Đặc biệt là những trường hợp mắc bệnh nhiễm trùng, các vụ ngộ độc đang diễn biến phức tạp khiến nhiều người tử vong vì ăn phải các loại thực phẩm không bảo đảm an toàn… Do đó, việc xây dựng một hệ thống theo dõi và giám sát an toàn thực phẩm toàn diện của quốc gia nhằm đáp ứng yêu cầu cung cấp bằng chứng tốt hơn về các nguy cơ, tác động và chi phí của bệnh lây qua đường thực phẩm, hiệu quả là hết sức cần thiết. Đặc biệt, phải xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về an toàn thực phẩm, góp phần điều chỉnh hiệu quả, bảo đảm an toàn thực phẩm, sức khỏe cho người dân Việt Nam là hết sức cần thiết./.

PGS.TS. Hồ Xuân Thắng

GVCC Khoa Luật, Trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh

Ảnh: internet

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Từ điển Bách khoa toàn thư mở (Wikipedia).

2. Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá năm 2012 (được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 28/2018/QH14 ngày 15/6/2018 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 luật có liên quan đến quy hoạch).

3. Luật Doanh nghiệp năm 2020 (sửa đổi, bổ sung năm 2022).

4. Trạm y tế Phường 5, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, An toàn thực phẩm hiện nay: thực trạng và giải pháp, https://tytphuong5qtb.medinet.gov.vn/an-toan-thuc-pham/an-toan-thuc-pham-hien-nay-thuc-trang-va-giai-phap-c9991-41045.aspx, truy cập ngày 17/01/2025.

5. Bộ Y tế, Số vụ ngộ độc thực phẩm trên cả nước gia tăng, https://moh.gov.vn/tin-lien-quan/-/asset_publisher/vjYyM7O9aWnX/content/so-vu-ngo-oc-thuc-pham-tren-ca-nuoc-gia-tang, truy cập ngày 17/01/2025.


[1] Trạm y tế Phường 5, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, An toàn thực phẩm hiện nay: thực trạng và giải pháp, https://tytphuong5qtb.medinet.gov.vn/an-toan-thuc-pham/an-toan-thuc-pham-hien-nay-thuc-trang-va-giai-phap-c9991-41045.aspx, truy cập ngày 17/01/2025.

[2] Tlđd.

[3] Từ điển Bách khoa toàn thư mở (Wikipedia).

[4] Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá năm 2012 (được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 28/2018/QH14 ngày 15/6/2018 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 luật có liên quan đến quy hoạch).

[5] Bộ Y tế, Số vụ ngộ độc thực phẩm trên cả nước gia tăng, https://moh.gov.vn/tin-lien-quan/-/asset_publisher/vjYyM7O9aWnX/content/so-vu-ngo-oc-thuc-pham-tren-ca-nuoc-gia-tang, truy cập ngày 17/01/2025.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.

Theo dõi chúng tôi trên: