Chủ nhật 31/05/2026 23:33
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số bất cập trong quy định pháp luật về an toàn thực phẩm và kiến nghị hoàn thiện

Nghiên cứu này tập trung phân tích một số nội dung bất cập, chưa phù hợp như quy định một số khái niệm liên quan đến sản xuất, kinh doanh thực phẩm, các quy định quản lý, điều kiện và nguyên tắc bảo đảm an toàn thực phẩm theo pháp luật an toàn thực phẩm hiện hành, từ đó, đề xuất kiến nghị hoàn thiện.

Từ khóa: thực phẩm bẩn, an toàn thực phẩm, pháp luật về an toàn thực phẩm, hoàn thiện pháp luật về an toàn thực phẩm, Luật An toàn thực phẩm.

Some shortcomings in legal regulations on food safety and recommendations for improvement

Abstract: This study focuses on analyzing some inadequate and inappropriate contents such as regulations on some concepts related to food production and trading, management regulations, conditions and principles of ensuring food safety according to current food safety laws, thereby proposing recommendations for improvement.

Keywords: Dirty food; food safety; food safety law; improving food safety law; Food Safety Law.

Ảnh minh họa

Đặt vấn đề

Thực trạng về an toàn thực phẩm hiện nay cho thấy thực phẩm bẩn, không rõ nguồn gốc, xuất xứ đang tràn lan trên thị trường khiến người tiêu dùng khó có thể lựa chọn được những sản phẩm bảo đảm an toàn[1].

An toàn thực phẩm luôn là vấn đề nóng hổi, được mọi người quan tâm, nhất là trong bối cảnh ở nước ta hiện nay. An toàn thực phẩm hiểu theo nghĩa hẹp là một môn khoa học mô tả việc xử lý, chế biến, bảo quản và lưu trữ thực phẩm bằng những phương pháp phòng ngừa, phòng chống bệnh tật do thực phẩm gây ra[2]. Vệ sinh an toàn thực phẩm cũng bao gồm một số thói quen, thao tác trong khâu chế biến cần được thực hiện để tránh các nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe nghiêm trọng. Hiểu theo nghĩa rộng, vệ sinh an toàn thực phẩm là toàn bộ những vấn đề cần xử lý liên quan đến an toàn vệ sinh thực phẩm nhằm bảo đảm cho sức khỏe của người tiêu dùng.

1. Một số bất cập trong quy định pháp luật về an toàn thực phẩm

1.1. Chưa quy định rõ về một số khái niệm liên quan đến an toàn thực phẩm

Thứ nhất, khoản 8 Điều 2 Luật An toàn thực phẩm năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 28/2018/QH14 ngày 15/6/2018 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 luật có liên quan đến quy hoạch) (Luật An toàn thực phẩm năm 2010) đưa ra khái niệm kinh doanh thực phẩm như sau: kinh doanh thực phẩm là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động giới thiệu, dịch vụ bảo quản, dịch vụ vận chuyển hoặc buôn bán thực phẩm. Đây là quy định pháp luật để thống nhất cách hiểu chung về khái niệm “kinh doanh thực phẩm” từ trung ương đến địa phương. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy khái niệm về “kinh doanh thực phẩm” trên chưa khoa học, chưa đúng với bản chất kinh doanh thực phẩm là một loại hình kinh doanh có điều kiện nghiêm ngặt nhằm bảo đảm điều kiện an toàn sức khỏe, tính mạng của con người trong xã hội hiện đại của nước ta.

Khoản 21 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020 (sửa đổi, bổ sung năm 2022) định nghĩa rất rõ và khoa học khái niệm kinh doanh như sau: kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Khoản 1 Điều 3 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2024 định nghĩa khái niệm kinh doanh bất động sản như sau: kinh doanh bất động sản là hoạt động nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc bỏ vốn để tạo lập nhà ở, công trình xây dựng, quyền sử dụng đất đã có hạ tầng kỹ thuật trong dự án bất động sản để bán, chuyển nhượng; cho thuê, cho thuê lại, cho thuê mua nhà ở, công trình xây dựng; cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất đã có hạ tầng kỹ thuật trong dự án bất động sản; chuyển nhượng dự án bất động sản; kinh doanh dịch vụ bất động sản.

Tính chưa phù hợp của khái niệm “kinh doanh thực phẩm” trong Luật An toàn thực phẩm năm 2010 là mới chỉ phản ánh hoạt động mua, bán thực phẩm thay vì phản ánh toàn diện về kinh doanh thực phẩm. Cụ thể, các hoạt động như giới thiệu, dịch vụ bảo quản, dịch vụ vận chuyển hoặc buôn bán thực phẩm là hoạt động mua bán, cung ứng dịch vụ thương mại mà Luật Thương mại năm 2005 (sửa đổi năm 2019) đang điều chỉnh.

Thứ hai, khoản 14 Điều 2 Luật An toàn thực phẩm năm 2010 quy định về khái niệm “sản xuất thực phẩm” cũng chưa được xác định một cách rõ ràng và thống nhất. Cụ thể, định nghĩa “sản xuất thực phẩm là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, thu hái, đánh bắt, khai thác, sơ chế, chế biến, bao gói, bảo quản để tạo ra thực phẩm” chưa thể hiện được các điều kiện bắt buộc bảo đảm an toàn thực phẩm. Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và xu hướng toàn cầu hóa, việc sản xuất thực phẩm cần tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn nhằm bảo đảm sức khỏe và tính mạng con người. Tại nhiều quốc gia phát triển, chỉ những tổ chức chuyên nghiệp, có thương hiệu và uy tín mới được cấp phép sản xuất thực phẩm nhằm kiểm soát chặt chẽ chất lượng sản phẩm. Bên cạnh đó, cách hiểu hiện tại về “sản xuất thực phẩm” trong Luật An toàn thực phẩm năm 2010 chưa tương thích với các quy định khác, đặc biệt là điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong thực tiễn. Điều này có thể tạo ra nguy cơ khuyến khích sản xuất thực phẩm nhỏ lẻ, tự phát mà không có sự kiểm soát chặt chẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng thực phẩm trên thị trường.

Thứ ba, khoản 20 Điều 2 Luật An toàn thực phẩm năm 2010 định nghĩa về thực phẩm như sau: “Thực phẩm là sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, bảo quản. Thực phẩm không bao gồm mỹ phẩm, thuốc lá và các chất sử dụng như dược phẩm”. Nghiên cứu cho thấy, việc loại trừ mỹ phẩm trong định nghĩa thực phẩm là không cần thiết, bởi bản chất của mỹ phẩm không liên quan đến thực phẩm.

Mỹ phẩm là những chất hoặc sản phẩm được dùng để trang điểm hoặc thay đổi diện mạo hoặc mùi hương cơ thể người. Nhiều mỹ phẩm được thiết kế để sử dụng cho mặt và tóc. Chúng thường là hỗn hợp các hợp chất hóa học; một số xuất phát từ nguồn gốc tự nhiên (như dầu dừa) và một số được tổng hợp. Các loại mỹ phẩm phổ biến gồm có son môi, mascara, phấn mắt, kem nền, phấn má hồng, phấn phủ, sữa rửa mặt và sữa dưỡng thể, dầu gội, sản phẩn tạo kiểu tóc (gel vuốt tóc, gôm xịt tóc...), nước hoa. Mỹ phẩm thường được thoa lên mặt để làm nổi bật diện mạo nên còn được gọi là đồ trang điểm hay đồ hóa trang không phải là một sản phẩm con người sử dụng để ăn, uống[3]. Tương tự, thuốc lá cũng không phải sản phẩm dùng để ăn hoặc uống. Khoản 1 Điều 2 Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá năm 2012 (được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 28/2018/QH14 ngày 15/6/2018 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 luật có liên quan đến quy hoạch) quy định về thuốc lá như sau: “Thuốc lá là sản phẩm được sản xuất từ toàn bộ hoặc một phần nguyên liệu thuốc lá, được chế biến dưới dạng thuốc lá điếu, xì gà, thuốc lá sợi, thuốc lào hoặc các dạng khác”. Mặt khác, khoản 2 Điều 2 Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá năm 2012 định nghĩa cách sử dụng thuốc lá là: “Sử dụng thuốc lá là hành vi hút, nhai, ngửi, hít, ngậm sản phẩm thuốc lá”[4].

1.2. Một số bất cập trong quy định pháp luật hiện hành liên quan đến an toàn thực phẩm trong nền kinh tế thị trường ở nước ta

Thứ nhất, những bất cập đối với quy định về nguyên tắc quản lý an toàn thực phẩm.

Điều 3 Luật An toàn thực phẩm năm 2010 quy định 06 nhóm nguyên tắc quản lý an toàn thực phẩm, như sau: “1. Bảo đảm an toàn thực phẩm là trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm; 2. Sản xuất, kinh doanh thực phẩm là hoạt động có điều kiện; tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải chịu trách nhiệm về an toàn đối với thực phẩm do mình sản xuất, kinh doanh; 3. Quản lý an toàn thực phẩm phải trên cơ sở quy chuẩn kỹ thuật tương ứng, quy định do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành và tiêu chuẩn do tổ chức, cá nhân sản xuất công bố áp dụng; 4. Quản lý an toàn thực phẩm phải được thực hiện trong suốt quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên cơ sở phân tích nguy cơ đối với an toàn thực phẩm; 5. Quản lý an toàn thực phẩm phải bảo đảm phân công, phân cấp rõ ràng và phối hợp liên ngành; 6. Quản lý an toàn thực phẩm phải đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội”.

Xét theo phương diện lập pháp, việc xây dựng 06 nhóm nguyên tắc để điều chỉnh hoạt động quản lý an toàn thực phẩm trong thực tiễn là rất cần thiết và khoa học. Tuy nhiên, xét về nguyên tắc quản lý, đây là những quy phạm pháp luật mang tính bắt buộc thay vì mang tính định nghĩa. Nhưng, khoản 1 và khoản 2 Điều 3 Luật An toàn thực phẩm năm 2010 lại được xây dựng theo hướng định nghĩa trong một quy phạm pháp luật bắt buộc là chưa hợp lý và có thể gây khó khăn trong áp dụng thực tiễn.

Thứ hai, điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm quy định tại Điều 19 Luật An toàn thực phẩm năm 2010 với hai khoản riêng biệt, như sau:

“1. Cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải bảo đảm các điều kiện sau: a) Có địa điểm, diện tích thích hợp, có khoảng cách an toàn đối với nguồn gây độc hại, nguồn gây ô nhiễm và các yếu tố gây hại khác; b) Có đủ nước đạt quy chuẩn kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh doanh thực phẩm; c) Có đủ trang thiết bị phù hợp để xử lý nguyên liệu, chế biến, đóng gói, bảo quản và vận chuyển các loại thực phẩm khác nhau; có đủ trang thiết bị, dụng cụ, phương tiện rửa và khử trùng, nước sát trùng, thiết bị phòng, chống côn trùng và động vật gây hại; d) Có hệ thống xử lý chất thải và được vận hành thường xuyên theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; đ) Duy trì các điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm và lưu giữ hồ sơ về nguồn gốc, xuất xứ nguyên liệu thực phẩm và các tài liệu khác về toàn bộ quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm; e) Tuân thủ quy định về sức khỏe, kiến thức và thực hành của người trực tiếp sản xuất, kinh doanh thực phẩm.

2. Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ trưởng Bộ Công thương ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và quy định cụ thể về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý”.

Nghiên cứu cho thấy, Điều 19 Luật An toàn thực phẩm năm 2010 quy định về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm còn nhiều điểm chưa phù hợp với thực tiễn như mang tính định tính, chưa đủ chi tiết để áp dụng một cách thống nhất. Điều này gây khó khăn cho các tổ chức, cá nhân trong quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm cũng như ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm.

Chẳng hạn, quy định về địa điểm, diện tích thích hợp và nhất là “khoảng cách an toàn với nguồn gây ô nhiễm” không thể áp dụng chung cho mọi loại hình sản xuất, kinh doanh thực phẩm, việc áp dụng chung có thể dẫn đến sự bất hợp lý trong thực tế áp dụng pháp luật. Bên cạnh đó, sự thiếu rõ ràng trong phân biệt điều kiện sản xuất và điều kiện kinh doanh thực phẩm cũng gây nhầm lẫn trong việc áp dụng các quy định pháp luật.

2. Một số kiến nghị

2.1. Hoàn thiện quy định về giải thích từ ngữ liên quan đến các khái niệm về an toàn thực phẩm

Thứ nhất, khắc phục những bất cập ảnh hưởng đến cách hiểu về kinh doanh thực phẩm cũng như phân biệt rõ hoạt động kinh doanh mang tính đặc thù trong nền kinh tế thị trường. Pháp luật về an toàn thực phẩm cần quy định cụ thể, rõ ràng tránh nhầm lẫn các bước, các khâu trong hoạt động kinh doanh thực phẩm. Vì vậy, khoản 8 Điều 2 Luật An toàn thực phẩm năm 2010 cần sửa đổi để thống nhất cách hiểu về kinh doanh thực phẩm theo hướng: “kinh doanh thực phẩm là hoạt động kinh doanh có điều kiện của tổ chức, cá nhân thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm thực phẩm hoặc cung ứng dịch vụ thực phẩm trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận”.

Thứ hai, cần làm rõ khái niệm “sản xuất thực phẩm” tại khoản 14 Điều 2 Luật An toàn thực phẩm năm 2010, để thống nhất cách hiểu và khoa học, dễ áp dụng hơn trong thực tiễn theo hướng: “Sản xuất thực phẩm là hoạt động đầu tư của tổ chức, cá nhân thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, thu hái, đánh bắt, khai thác, sơ chế, chế biến, bao gói, bảo quản để tạo ra thực phẩm”.

Thứ ba, khắc phục những bất cập về khái niệm “thực phẩm” tại khoản 20 Điều 2 Luật An toàn thực phẩm năm 2010. Nghiên cứu đề xuất sửa đổi nội dung định nghĩa về “thực phẩm” theo hướng: (i) bãi bỏ cụm từ “Thực phẩm không bao gồm mỹ phẩm, thuốc lá và các chất sử dụng như dược phẩm” trong khoản 20 Điều 2 để bảo đảm tính khoa học, dễ áp dụng hơn trong thực tiễn; (ii) bổ sung cụm từ “có thể” trong khái niệm về “thực phẩm” tại khoản 20 Điều 2 để thể hiện tính linh hoạt trong cách hiểu khi xác định sản phẩm tự nhiên hay sản phẩm đã có sự tác động của con người bằng hình thức sơ chế, bảo quản, chế biến như sau: “Thực phẩm là sản phẩm mà con người có thể ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, bảo quản”.

2.2. Hoàn thiện pháp luật về an toàn thực phẩm

Thứ nhất, quy định về những nguyên tắc quản lý an toàn thực phẩm khoa học nhằm điều chỉnh có hiệu quả hơn. Điều 3 Luật An toàn thực phẩm năm 2010 cần sửa đổi theo hướng: (i) khoản 1 sửa đổi thành quy phạm bắt buộc chứ không phải là quy phạm định nghĩa: “1. Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm bắt buộc phải bảo đảm an toàn thực phẩm;…”; (ii) bãi bỏ cụm từ “Sản xuất, kinh doanh thực phẩm là hoạt động có điều kiện” tại khoản 2 để đồng bộ với khái niệm về “kinh doanh thực phẩm” trong khoản 8 Điều 2 và khái niệm về “sản xuất thực phẩm” trong khoản 12 Điều 2. Trong khoản 2 Điều 3 cần xác định cụ thể: “tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải chịu trách nhiệm về an toàn đối với thực phẩm do mình sản xuất, kinh doanh”.

Thứ hai, quy định điều kiện sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải an toàn tuyệt đối để phục vụ tốt nhất đời sống xã hội, bảo đảm an toàn sức khỏe và tính mạng của con người. Do đó, phải quy định cụ thể, tách bạch điều kiện hoạt động sản xuất thực phẩm với điều kiện kinh doanh thực phẩm. Các quy định này áp dụng thống nhất trong phạm vi toàn quốc đối với cơ quan quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm, tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh thực phẩm. Nghiên cứu đề xuất cần phải sửa đổi, bổ sung một cách khoa học, cụ thể hơn về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm, quy định tại khoản 1 Điều 19 Luật An toàn thực phẩm năm 2010 theo hướng: (i) tách bạch điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất; (ii) tách bạch điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sở kinh doanh thực phẩm; (iii) chuyển nội dung quy định tại khoản 2 Điều 19 Luật An toàn thực phẩm năm 2010 thành khoản 3 để khoa học hơn và phù hợp với kỹ thuật lập pháp. Xây dựng Điều 19 Luật An toàn thực phẩm năm 2010 thành ba khoản riêng biệt là quy phạm bắt buộc điều chỉnh mọi chủ thể phải thực hiện.

3. Kết luận

Theo số liệu thống kê của Cục Quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm, Bộ Y Tế, số lượng các vụ ngộ độc thực phẩm hay số người bị nhiễm độc thực phẩm còn khá cao[5]. Đặc biệt là những trường hợp mắc bệnh nhiễm trùng, các vụ ngộ độc đang diễn biến phức tạp khiến nhiều người tử vong vì ăn phải các loại thực phẩm không bảo đảm an toàn… Do đó, việc xây dựng một hệ thống theo dõi và giám sát an toàn thực phẩm toàn diện của quốc gia nhằm đáp ứng yêu cầu cung cấp bằng chứng tốt hơn về các nguy cơ, tác động và chi phí của bệnh lây qua đường thực phẩm, hiệu quả là hết sức cần thiết. Đặc biệt, phải xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về an toàn thực phẩm, góp phần điều chỉnh hiệu quả, bảo đảm an toàn thực phẩm, sức khỏe cho người dân Việt Nam là hết sức cần thiết./.

PGS.TS. Hồ Xuân Thắng

GVCC Khoa Luật, Trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh

Ảnh: internet

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Từ điển Bách khoa toàn thư mở (Wikipedia).

2. Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá năm 2012 (được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 28/2018/QH14 ngày 15/6/2018 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 luật có liên quan đến quy hoạch).

3. Luật Doanh nghiệp năm 2020 (sửa đổi, bổ sung năm 2022).

4. Trạm y tế Phường 5, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, An toàn thực phẩm hiện nay: thực trạng và giải pháp, https://tytphuong5qtb.medinet.gov.vn/an-toan-thuc-pham/an-toan-thuc-pham-hien-nay-thuc-trang-va-giai-phap-c9991-41045.aspx, truy cập ngày 17/01/2025.

5. Bộ Y tế, Số vụ ngộ độc thực phẩm trên cả nước gia tăng, https://moh.gov.vn/tin-lien-quan/-/asset_publisher/vjYyM7O9aWnX/content/so-vu-ngo-oc-thuc-pham-tren-ca-nuoc-gia-tang, truy cập ngày 17/01/2025.


[1] Trạm y tế Phường 5, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, An toàn thực phẩm hiện nay: thực trạng và giải pháp, https://tytphuong5qtb.medinet.gov.vn/an-toan-thuc-pham/an-toan-thuc-pham-hien-nay-thuc-trang-va-giai-phap-c9991-41045.aspx, truy cập ngày 17/01/2025.

[2] Tlđd.

[3] Từ điển Bách khoa toàn thư mở (Wikipedia).

[4] Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá năm 2012 (được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 28/2018/QH14 ngày 15/6/2018 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 luật có liên quan đến quy hoạch).

[5] Bộ Y tế, Số vụ ngộ độc thực phẩm trên cả nước gia tăng, https://moh.gov.vn/tin-lien-quan/-/asset_publisher/vjYyM7O9aWnX/content/so-vu-ngo-oc-thuc-pham-tren-ca-nuoc-gia-tang, truy cập ngày 17/01/2025.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: