Thứ ba 17/03/2026 05:31
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số điểm cần lưu ý khi công chứng các giao dịch về thừa kế

Thừa kế là một chế định quan trọng trong hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam và quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản của công dân Việt Nam. Quyền thừa kế lần đầu tiên xuất hiện trong Bộ luật Hồng Đức dưới triều đại của Vua Lê Thái Tổ, sau đó tiếp tục được mở rộng và quy định trong các bản Hiến pháp nước ta như Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013.

1. Khái quát về chế định thừa kế

Đặc biệt, chế định thừa kế còn được các nhà làm luật quy định một cách chi tiết trong Bộ luật Dân sự năm 1995, Bộ luật Dân sự năm 2005 và hiện nay là Bộ luật Dân sự năm 2015. Chế định thừa kế là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ về tài sản mà ở đây được gọi là di sản do người chết để lại. Điều 609 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền thừa kế như sau: “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc”. Nói một cách đơn giản, chế định thừa kế xoay quanh vấn đề để lại di sản và hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Bản chất của thừa kế chính là sự dịch chuyển tài sản từ người chết sang người thừa kế. Như vậy, theo quy định trên, cá nhân có bốn quyền cơ bản sau: Một là, lập di chúc để định đoạt tài sản của mình sau khi chết; hai là, để lại tài sản cho người thừa kế theo pháp luật; ba là, hưởng di sản theo di chúc; bốn là, hưởng di sản theo pháp luật. Đối với chủ thể không là cá nhân thì chỉ có duy nhất một quyền đó là hưởng di sản theo di chúc.

Quan hệ về thừa kế xuất hiện thường xuyên trong hoạt động công chứng và tương đối phức tạp. Do vậy, để có thể giải quyết một cách chính xác, thấu đáo, bảo đảm an toàn pháp lý cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan, công chứng viên cần phải có nền tảng kiến thức vững vàng cùng với khả năng phân tích, áp dụng pháp luật một cách chặt chẽ, phù hợp với từng trường hợp khác nhau. Khi giải quyết bất kỳ tình huống thừa kế nào, thì điều đầu tiên là công chứng viên cần phải xác định rõ các yếu tố sau: Thời điểm mở thừa kế, người để lại di sản thừa kế, di sản thừa kế, người thừa kế và hình thức chia thừa kế.

Theo quy định của pháp luật, người để lại di sản ở đây chỉ có thể là cá nhân và chỉ khi một cá nhân có tài sản chết đi thì mới làm phát sinh mối quan hệ về thừa kế. Tài sản của một cá nhân chết đi hay còn gọi là di sản trong quan hệ về thừa kế có thể là tài sản riêng của người chết hoặc phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác. Để có thể xác định được đâu là tài sản chung và đâu là tài sản riêng, chúng ta cần áp dụng thêm các quy định khác về quyền sở hữu tài sản trong Bộ luật Dân sự cũng như chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình.

Về thời điểm mở thừa kế, Điều 611 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này”. Như vậy, thời điểm mở thừa kế chính là thời điểm người để lại di sản chết được ghi rõ trong giấy chứng tử, trích lục khai tử hoặc giấy tờ khác có giá trị thay thế. Đối với trường hợp một người được Tòa án tuyên bố là đã chết thì việc xác định thời điểm mở thừa kế phải căn cứ vào quyết định của Tòa án. Đối với các công chứng viên, việc xác định một cách chính xác thời điểm mở thừa kế giữ vai trò hết sức quan trọng và là yếu tố tiên quyết trong việc xác định di sản thừa kế, người thừa kế cũng như thời hiệu thừa kế.

Kể từ thời điểm mở thừa kế, tức là kể từ thời điểm xảy ra sự kiện người để lại di sản chết, những người thừa kế sẽ có các quyền và nghĩa vụ tài sản do chính người chết để lại. Người thừa kế được đề cập ở đây được hiểu là cá nhân còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết; trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Trường hợp những người có quyền thừa kế di sản của nhau đều chết cùng thời điểm hoặc được coi là chết cùng thời điểm do không thể xác định được người nào chết trước thì họ không được thừa kế di sản của nhau và di sản của mỗi người do người thừa kế của người đó hưởng, trừ trường hợp thừa kế thế vị. Đây là quy định được nêu tại Điều 613, Điều 614, Điều 619 Bộ luật Dân sự năm 2015. Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về thừa kế thế vị như sau: “Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống”. Từ những quy định trên có thể thấy, pháp luật dân sự đã đưa ra những tiêu chí rất rõ ràng về việc xác định người thừa kế, tuy nhiên, các nhà làm luật vẫn dự trù thêm trường hợp ngoại lệ đề cao tính huyết thống nhằm mục đích bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng phát sinh từ chính mối quan hệ huyết thống đó như trường hợp thừa kế thế vị.

Về hình thức chia thừa kế, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định hai hình thức đó là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật. Thừa kế theo di chúc là thừa kế theo ý chí của của chính người để lại di sản; còn thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định.

2. Một số vấn đề cần lưu ý

Bên cạnh việc xác định chính xác các yếu tố quan trọng nêu trên, mỗi công chứng viên khi tiến hành giải quyết các giao dịch dân sự có liên quan đến thừa kế cần đặc biệt lưu ý một số vấn đề sau:

Thứ nhất, về từ chối nhận di sản

Điều 620 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về từ chối nhận di sản như sau: “1. Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác. 2. Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết. 3. Việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản”. Pháp luật Việt Nam cho phép người thừa kế được quyền hưởng di sản thì cũng cho phép người thừa kế từ chối nhận chính di sản đó. Tuy nhiên, việc từ chối nhận di sản buộc phải tuân theo trình tự, thủ tục nhất định. Việc từ chối nhận di sản phải được thực hiện trước thời điểm phân chia di sản thông qua hình thức lập thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, người thừa kế khác cũng như người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết. Ngoài ra, việc từ chối nhận di sản còn phải đáp ứng một điều kiện quan trọng đó là việc từ chối không nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác. Ở đây, khi công chứng văn bản từ chối nhận di sản, công chứng viên cần xác định rõ như thế nào là trốn tránh thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác. Nghĩa vụ tài sản được quy định tại Điều 620 Bộ luật Dân sự năm 2015 phải được hiểu một cách chính xác là nghĩa vụ của chính người thực hiện việc từ chối nhận di sản đó chứ không phải là nghĩa vụ do người chết để lại hay nghĩa vụ của bất kỳ chủ thể nào khác có liên quan. Tuy nhiên, trong thực tiễn hành nghề công chứng, vẫn có trường hợp công chứng viên từ chối công chứng văn bản từ chối nhận di sản của người thừa kế đối với di sản là tài sản hiện đang thế chấp tại ngân hàng. Áp dụng quy định tại Điều 614 Bộ luật Dân sự năm 2015 về thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế: “Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”, công chứng viên cho rằng, kể từ thời điểm mở thừa kế, tất cả các quyền và nghĩa vụ tài sản do người chết để lại sẽ chuyển giao cho người thừa kế, do vậy, nghĩa vụ tài sản đối với ngân hàng do người chết để lại cũng sẽ chuyển giao cho người thừa kế và việc từ chối nhận di sản trong trường hợp này là trốn tránh nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác. Tuy nhiên, việc vận dụng pháp luật như vậy là chưa chính xác. Trước tiên, chúng ta cần xác định pháp luật cho phép người thừa kế được quyền hưởng di sản chứ không bắt buộc người thừa kế phải hưởng di sản do người chết để lại và nội hàm của Điều 614 Bộ luật Dân sự năm 2015 là để xác định thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế. Quyền và nghĩa vụ luôn đi đôi với nhau, khi người thừa kế hưởng di sản do người chết để lại thì đồng nghĩa với việc họ phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại trong phạm vi di sản mà họ được hưởng trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Ngoài ra, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 615 Bộ luật Dân sự năm 2015 về thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại: “Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”, các nhà làm luật sử dụng thuật ngữ “người hưởng thừa kế” thay vì “người thừa kế” và Điều 622 Bộ luật Dân sự năm 2015 về tài sản không có người nhận thừa kế: “Trường hợp không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế thuộc về Nhà nước” đã đưa ra cách xử lý tài sản còn lại sau khi thực hiện xong nghĩa vụ về tài sản trong trường hợp có người thừa kế nhưng đã từ chối nhận di sản. Từ những quy định trên, chúng ta có thể khẳng định rằng, người thừa kế không bắt buộc phải hưởng di sản trong trường hợp có tồn tại nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại và có quyền từ chối nhận di sản nếu đáp ứng được điều kiện không nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ về tài sản của mình đối với người khác.

Thứ hai, thừa kế thế vị

Bộ luật Dân sự đưa ra tiêu chí cụ thể để xác định người thừa kế bao gồm hai trường hợp như sau: Đối với người thừa kế là cá nhân thì phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết; đối với người thừa kế không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Tuy nhiên, đối với người thừa kế là cá nhân, pháp luật quy định thêm một trường hợp ngoại lệ tại Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2015 về thừa kế thế vị như sau: “Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống”.

Ví dụ: Ông A và vợ là bà B có con là C, C có con là D. Năm 2019, ông A, bà B và C cùng bị tại nạn và chết cùng một thời điểm. Ông A và bà B chết để lại số tiền là 500 triệu đồng. Trong trường hợp này, áp dụng theo quy định tại Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì cháu là D sẽ được hưởng di sản thừa kế số tiền 500 triệu đồng từ ông bà là A và B.

Xét theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 về người thừa kế theo pháp luật thì D sẽ thuộc hàng thừa kế thứ hai. Tuy nhiên, ở tình huống này, mặc dù D là cháu của A và B nhưng D vẫn là người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất với vai trò hưởng thay phần di sản mà đáng lẽ ra C (người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất) sẽ được hưởng nếu còn sống. Như vậy, cần lưu ý trường hợp trên để không nhầm lẫn giữa các hàng thừa kế với nhau cũng như hiểu đúng nội hàm của điều luật về thừa kế thế vị.

Bên cạnh đó, quy định về thừa kế thế vị chỉ được áp dụng đối với hình thức thừa kế theo pháp luật chứ không được áp dụng trong trường hợp chia theo di chúc. Điều 624 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về di chúc như sau: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”. Di chúc là sự thể hiện ý chí chủ quan của chính người để lại di sản, người lập di chúc đã chỉ định người được quyền hưởng di sản thừa kế theo mong muốn của mình. Do vậy, nếu con là người được hưởng di sản theo di chúc mà chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì di sản đó sẽ được chia theo di chúc chứ không xảy ra trường hợp thừa kế thế vị như tình huống nêu trên. Đó cũng là lý do vì sao mà các nhà làm luật lại đưa điều luật về thừa kế thế vị vào chương thừa kế theo pháp luật.

Trần Thị Diễm My
Phòng Công chứng số 1 tỉnh Gia Lai

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.

Theo dõi chúng tôi trên: