Thứ năm 11/12/2025 01:30
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số điểm cần lưu ý khi công chứng các giao dịch về thừa kế

Thừa kế là một chế định quan trọng trong hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam và quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản của công dân Việt Nam. Quyền thừa kế lần đầu tiên xuất hiện trong Bộ luật Hồng Đức dưới triều đại của Vua Lê Thái Tổ, sau đó tiếp tục được mở rộng và quy định trong các bản Hiến pháp nước ta như Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013.

1. Khái quát về chế định thừa kế

Đặc biệt, chế định thừa kế còn được các nhà làm luật quy định một cách chi tiết trong Bộ luật Dân sự năm 1995, Bộ luật Dân sự năm 2005 và hiện nay là Bộ luật Dân sự năm 2015. Chế định thừa kế là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ về tài sản mà ở đây được gọi là di sản do người chết để lại. Điều 609 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền thừa kế như sau: “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc”. Nói một cách đơn giản, chế định thừa kế xoay quanh vấn đề để lại di sản và hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Bản chất của thừa kế chính là sự dịch chuyển tài sản từ người chết sang người thừa kế. Như vậy, theo quy định trên, cá nhân có bốn quyền cơ bản sau: Một là, lập di chúc để định đoạt tài sản của mình sau khi chết; hai là, để lại tài sản cho người thừa kế theo pháp luật; ba là, hưởng di sản theo di chúc; bốn là, hưởng di sản theo pháp luật. Đối với chủ thể không là cá nhân thì chỉ có duy nhất một quyền đó là hưởng di sản theo di chúc.

Quan hệ về thừa kế xuất hiện thường xuyên trong hoạt động công chứng và tương đối phức tạp. Do vậy, để có thể giải quyết một cách chính xác, thấu đáo, bảo đảm an toàn pháp lý cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan, công chứng viên cần phải có nền tảng kiến thức vững vàng cùng với khả năng phân tích, áp dụng pháp luật một cách chặt chẽ, phù hợp với từng trường hợp khác nhau. Khi giải quyết bất kỳ tình huống thừa kế nào, thì điều đầu tiên là công chứng viên cần phải xác định rõ các yếu tố sau: Thời điểm mở thừa kế, người để lại di sản thừa kế, di sản thừa kế, người thừa kế và hình thức chia thừa kế.

Theo quy định của pháp luật, người để lại di sản ở đây chỉ có thể là cá nhân và chỉ khi một cá nhân có tài sản chết đi thì mới làm phát sinh mối quan hệ về thừa kế. Tài sản của một cá nhân chết đi hay còn gọi là di sản trong quan hệ về thừa kế có thể là tài sản riêng của người chết hoặc phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác. Để có thể xác định được đâu là tài sản chung và đâu là tài sản riêng, chúng ta cần áp dụng thêm các quy định khác về quyền sở hữu tài sản trong Bộ luật Dân sự cũng như chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình.

Về thời điểm mở thừa kế, Điều 611 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này”. Như vậy, thời điểm mở thừa kế chính là thời điểm người để lại di sản chết được ghi rõ trong giấy chứng tử, trích lục khai tử hoặc giấy tờ khác có giá trị thay thế. Đối với trường hợp một người được Tòa án tuyên bố là đã chết thì việc xác định thời điểm mở thừa kế phải căn cứ vào quyết định của Tòa án. Đối với các công chứng viên, việc xác định một cách chính xác thời điểm mở thừa kế giữ vai trò hết sức quan trọng và là yếu tố tiên quyết trong việc xác định di sản thừa kế, người thừa kế cũng như thời hiệu thừa kế.

Kể từ thời điểm mở thừa kế, tức là kể từ thời điểm xảy ra sự kiện người để lại di sản chết, những người thừa kế sẽ có các quyền và nghĩa vụ tài sản do chính người chết để lại. Người thừa kế được đề cập ở đây được hiểu là cá nhân còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết; trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Trường hợp những người có quyền thừa kế di sản của nhau đều chết cùng thời điểm hoặc được coi là chết cùng thời điểm do không thể xác định được người nào chết trước thì họ không được thừa kế di sản của nhau và di sản của mỗi người do người thừa kế của người đó hưởng, trừ trường hợp thừa kế thế vị. Đây là quy định được nêu tại Điều 613, Điều 614, Điều 619 Bộ luật Dân sự năm 2015. Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về thừa kế thế vị như sau: “Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống”. Từ những quy định trên có thể thấy, pháp luật dân sự đã đưa ra những tiêu chí rất rõ ràng về việc xác định người thừa kế, tuy nhiên, các nhà làm luật vẫn dự trù thêm trường hợp ngoại lệ đề cao tính huyết thống nhằm mục đích bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng phát sinh từ chính mối quan hệ huyết thống đó như trường hợp thừa kế thế vị.

Về hình thức chia thừa kế, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định hai hình thức đó là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật. Thừa kế theo di chúc là thừa kế theo ý chí của của chính người để lại di sản; còn thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định.

2. Một số vấn đề cần lưu ý

Bên cạnh việc xác định chính xác các yếu tố quan trọng nêu trên, mỗi công chứng viên khi tiến hành giải quyết các giao dịch dân sự có liên quan đến thừa kế cần đặc biệt lưu ý một số vấn đề sau:

Thứ nhất, về từ chối nhận di sản

Điều 620 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về từ chối nhận di sản như sau: “1. Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác. 2. Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết. 3. Việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản”. Pháp luật Việt Nam cho phép người thừa kế được quyền hưởng di sản thì cũng cho phép người thừa kế từ chối nhận chính di sản đó. Tuy nhiên, việc từ chối nhận di sản buộc phải tuân theo trình tự, thủ tục nhất định. Việc từ chối nhận di sản phải được thực hiện trước thời điểm phân chia di sản thông qua hình thức lập thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, người thừa kế khác cũng như người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết. Ngoài ra, việc từ chối nhận di sản còn phải đáp ứng một điều kiện quan trọng đó là việc từ chối không nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác. Ở đây, khi công chứng văn bản từ chối nhận di sản, công chứng viên cần xác định rõ như thế nào là trốn tránh thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác. Nghĩa vụ tài sản được quy định tại Điều 620 Bộ luật Dân sự năm 2015 phải được hiểu một cách chính xác là nghĩa vụ của chính người thực hiện việc từ chối nhận di sản đó chứ không phải là nghĩa vụ do người chết để lại hay nghĩa vụ của bất kỳ chủ thể nào khác có liên quan. Tuy nhiên, trong thực tiễn hành nghề công chứng, vẫn có trường hợp công chứng viên từ chối công chứng văn bản từ chối nhận di sản của người thừa kế đối với di sản là tài sản hiện đang thế chấp tại ngân hàng. Áp dụng quy định tại Điều 614 Bộ luật Dân sự năm 2015 về thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế: “Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”, công chứng viên cho rằng, kể từ thời điểm mở thừa kế, tất cả các quyền và nghĩa vụ tài sản do người chết để lại sẽ chuyển giao cho người thừa kế, do vậy, nghĩa vụ tài sản đối với ngân hàng do người chết để lại cũng sẽ chuyển giao cho người thừa kế và việc từ chối nhận di sản trong trường hợp này là trốn tránh nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác. Tuy nhiên, việc vận dụng pháp luật như vậy là chưa chính xác. Trước tiên, chúng ta cần xác định pháp luật cho phép người thừa kế được quyền hưởng di sản chứ không bắt buộc người thừa kế phải hưởng di sản do người chết để lại và nội hàm của Điều 614 Bộ luật Dân sự năm 2015 là để xác định thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế. Quyền và nghĩa vụ luôn đi đôi với nhau, khi người thừa kế hưởng di sản do người chết để lại thì đồng nghĩa với việc họ phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại trong phạm vi di sản mà họ được hưởng trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Ngoài ra, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 615 Bộ luật Dân sự năm 2015 về thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại: “Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”, các nhà làm luật sử dụng thuật ngữ “người hưởng thừa kế” thay vì “người thừa kế” và Điều 622 Bộ luật Dân sự năm 2015 về tài sản không có người nhận thừa kế: “Trường hợp không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế thuộc về Nhà nước” đã đưa ra cách xử lý tài sản còn lại sau khi thực hiện xong nghĩa vụ về tài sản trong trường hợp có người thừa kế nhưng đã từ chối nhận di sản. Từ những quy định trên, chúng ta có thể khẳng định rằng, người thừa kế không bắt buộc phải hưởng di sản trong trường hợp có tồn tại nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại và có quyền từ chối nhận di sản nếu đáp ứng được điều kiện không nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ về tài sản của mình đối với người khác.

Thứ hai, thừa kế thế vị

Bộ luật Dân sự đưa ra tiêu chí cụ thể để xác định người thừa kế bao gồm hai trường hợp như sau: Đối với người thừa kế là cá nhân thì phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết; đối với người thừa kế không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Tuy nhiên, đối với người thừa kế là cá nhân, pháp luật quy định thêm một trường hợp ngoại lệ tại Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2015 về thừa kế thế vị như sau: “Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống”.

Ví dụ: Ông A và vợ là bà B có con là C, C có con là D. Năm 2019, ông A, bà B và C cùng bị tại nạn và chết cùng một thời điểm. Ông A và bà B chết để lại số tiền là 500 triệu đồng. Trong trường hợp này, áp dụng theo quy định tại Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì cháu là D sẽ được hưởng di sản thừa kế số tiền 500 triệu đồng từ ông bà là A và B.

Xét theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 về người thừa kế theo pháp luật thì D sẽ thuộc hàng thừa kế thứ hai. Tuy nhiên, ở tình huống này, mặc dù D là cháu của A và B nhưng D vẫn là người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất với vai trò hưởng thay phần di sản mà đáng lẽ ra C (người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất) sẽ được hưởng nếu còn sống. Như vậy, cần lưu ý trường hợp trên để không nhầm lẫn giữa các hàng thừa kế với nhau cũng như hiểu đúng nội hàm của điều luật về thừa kế thế vị.

Bên cạnh đó, quy định về thừa kế thế vị chỉ được áp dụng đối với hình thức thừa kế theo pháp luật chứ không được áp dụng trong trường hợp chia theo di chúc. Điều 624 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về di chúc như sau: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”. Di chúc là sự thể hiện ý chí chủ quan của chính người để lại di sản, người lập di chúc đã chỉ định người được quyền hưởng di sản thừa kế theo mong muốn của mình. Do vậy, nếu con là người được hưởng di sản theo di chúc mà chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì di sản đó sẽ được chia theo di chúc chứ không xảy ra trường hợp thừa kế thế vị như tình huống nêu trên. Đó cũng là lý do vì sao mà các nhà làm luật lại đưa điều luật về thừa kế thế vị vào chương thừa kế theo pháp luật.

Trần Thị Diễm My
Phòng Công chứng số 1 tỉnh Gia Lai

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.
Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Bộ Tư pháp đã trang bị, bổ sung, ứng dụng các công nghệ mới như máy chủ ảo hóa, lưu trữ SAN; máy chủ ứng dụng, máy chủ cơ sở dữ liệu cho Trung tâm dữ liệu điện tử để đáp ứng yêu cầu quản lý, vận hành và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp.
Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Bài viết về những thành tựu nổi bật và định hướng phát triển công tác hành chính tư pháp trong thời gian tới.
Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, có chức năng thông tin về khoa học pháp lý, thông tin lý luận, nghiệp vụ và thực tiễn trong xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp của Bộ, ngành Tư pháp; tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo quy định pháp luật; đồng thời, là diễn đàn trao đổi học thuật, thực tiễn và chính sách trong lĩnh vực pháp luật[1].
Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, thực hiện chức năng thông tin về các hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội trong nước và quốc tế; truyền thông, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp phục vụ yêu cầu quản lý của Bộ Tư pháp, đáp ứng nhu cầu của xã hội về thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tham gia định hướng tư tưởng, phản biện xã hội, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và tự lực, tự cường của Nhân dân, đồng hành với an sinh xã hội.
Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026-2031 được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật và thống nhất trên phạm vi cả nước, Hội đồng bầu cử quốc gia (HĐBCQG) được thành lập, giữ vai trò tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH); chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND). Việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của HĐBCQG có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và cử tri thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời giúp cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ trong công tác bầu cử.
Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Bài viết phân tích một số thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới của Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp.
Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Trong những năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của Bộ Tư pháp đã khẳng định được vai trò cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, giúp Lãnh đạo Bộ tham mưu với các cấp có thẩm quyền xây dựng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác pháp luật, tư pháp, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Theo dõi chúng tôi trên: