Thứ hai 20/07/2026 17:23
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số điểm mới trong quy định về quản lý chất thải và kiểm soát các chất ô nhiễm khác theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2020

Một số điểm mới trong quy định về quản lý chất thải và kiểm soát các chất ô nhiễm khác theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2020

Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích, đánh giá làm rõ một số điểm mới của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 trong quy định về quản lý chất thải và kiểm soát các chất ô nhiễm khác.

Abstract: The article focuses on analyzing and evaluating and clarifying some new points of the Law on Environmental Protection of 2020 in regulations on waste management and control of other pollutants.

Quản lý chất thải và kiểm soát các chất ô nhiễm khác là một trong những vấn đề rất quan trọng trong việc bảo vệ môi trường (BVMT) bởi quản lý chất thải và kiểm soát các chất ô nhiễm khác được thực hiện hiệu quả thì hoạt động BVMT mới được bảo đảm. Do đó, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã dành nhiều sự quan tâm trong vấn đề sửa đổi, bổ sung và hoàn chỉnh các vấn đề pháp lý liên quan đến hoạt động quản lý chất thải và kiểm soát các chất ô nhiễm. Có thể thấy rằng, những điểm mới của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã mang lại nhiều ý nghĩa tích cực trong hoạt động quản lý chất thải và kiểm soát chất ô nhiễm. Theo đó, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã có sự điều chỉnh trong quy định về cách đặt tên tiêu đề đối với chương điều chỉnh về quản lý chất thải; bổ sung thêm những quy định theo hướng tạo được sự thống nhất về yêu cầu trách nhiệm quản lý chất thải rắn sinh hoạt, chất thải nguy hại và chất thải rắn công nghiệp thông thường của chủ nguồn thải; đưa ra được những quy định mang tính sửa đổi trên tinh thần phù hợp và thống nhất trong yêu cầu chung về hoạt động quản lý nước thải; bổ sung thêm quy định về quản lý và kiểm soát mùi khó chịu. Có thể thấy rằng, đối với quá trình lập pháp, những điểm mới này đã chứng minh được tư tưởng tiến bộ của nhà lập pháp khi đã kịp thời thay đổi, bổ sung những quy định mới để phù hợp hơn với sự thay đổi của xã hội, thích ứng với tình hình thực tế, đặc biệt là vấn đề BVMT trong hoạt động quản lý chất thải và kiểm soát chất ô nhiễm.

1. Thay đổi tên gọi đối với chương quản lý chất thải theo hướng mở rộng, bổ sung thêm nội dung kiểm soát các chất ô nhiễm khác

So với Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã có sự thay đổi trong quy định về cách đặt tên chương trong phần điều chỉnh về nội dung quản lý chất thải. Cụ thể, tại Chương IX Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 đã quy định sử dụng thuật ngữ của chương là “Quản lý chất thải” nhưng đến Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 thì tên chương thay đổi thành “Quản lý chất thải và kiểm soát các chất gây ô nhiễm khác”. Như vậy, cách thay đổi trong quy định này đã mở rộng phạm vi quản lý của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 so với Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, tức là Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 không chỉ tập trung vào việc quản lý chất thải mà còn bổ sung thêm hoạt động kiểm soát các chất ô nhiễm khác. Việc bổ sung này là cần thiết bởi sẽ tạo điều kiện giúp cho hoạt động quản lý chất thải được thực hiện một cách toàn diện, không bỏ sót nguồn ô nhiễm có nguy cơ gây ảnh hưởng xấu đến môi trường.

2. Yêu cầu thực hiện quản lý chất thải rắn sinh hoạt, chất thải nguy hại và chất thải rắn công nghiệp thông thường được quy định theo hướng linh hoạt về cách thức quản lý

So với Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Luật Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 không đưa ra quy định chung về trách nhiệm của chủ nguồn thải mà chỉ đưa ra trách nhiệm cụ thể của chủ nguồn thải đối với từng loại chất thải. Cụ thể, trách nhiệm của chủ nguồn thải đối với từng loại chất thải được quy định tại Điều 90, Điều 91 đối với chất thải nguy hại; Điều 95, Điều 97 đối với chất thải rắn thông thường; Điều 101 đối với nước thải; Điều 102, Điều 103 đối với bụi, khí thải, tiếng ồn, độ rung, ánh sáng, bức xạ. Còn trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, khác với Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Luật này đã đưa ra yêu cầu chung đối với quản lý chất thải, trong đó quy định rõ trách nhiệm của chủ nguồn thải và các tổ chức, cá nhân liên quan. Cụ thể:

- Đối với chủ nguồn thải: Chủ nguồn thải chất thải nguy hại, chất thải rắn công nghiệp thông thường có trách nhiệm tự mình tái sử dụng, tái chế, xử lý và thu hồi năng lượng từ chất thải hoặc có thể chuyển giao cho cơ sở có chức năng, giấy phép môi trường phù hợp để xử lý[1]. Theo cách quy định này, có thể hiểu, chủ nguồn thải chất thải nguy hại, chủ nguồn thải chất thải rắn công nghiệp thông thường sẽ có hai lựa chọn trọng việc trong việc quản lý chất thải, đó là tự mình quản lý chất thải hoặc chuyển giao cho các chủ thể đáp ứng đủ yêu cầu thay mình quản lý. Tức là, tùy thuộc vào điều kiện của từng chủ nguồn thải mà họ có thể lựa chọn cách tự quản lý trực tiếp hay quản lý gián tiếp thông qua việc chuyển giao. Đây là một dạng quy định mang tính tùy nghi theo hướng tạo sự thuận lợi cho chủ nguồn thải. Quy định này không mang tính chất bắt buộc mà theo hướng chủ nguồn thải có điều kiện phù hợp với trách nhiệm nào thì sẽ áp dụng trách nhiệm đó, tuy nhiên, phải bảo đảm rằng, sự phù hợp này là đúng đắn và không trái quy định pháp luật. Ngoài ra, chủ nguồn thải còn phải có trách nhiệm trong việc phân định chất thải giữa chất thải nguy hại và chất thải rắn công nghiệp thông thường bằng cách thông qua hoạt động lấy, phân tích mẫu do cơ sở có chức năng, đủ năng lực thực hiện theo quy định của pháp luật[2].

- Đối với tổ chức, cá nhân vận chuyển: Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 cũng đã quy định đặt ra trách nhiệm vận chuyển chất thải cho tổ chức, cá nhân vận chuyển theo hướng được lựa chọn. Cụ thể, tổ chức, cá nhân vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt, chất thải nguy hại, chất thải rắn công nghiệp thông thường phải xử lý có trách nhiệm vận chuyển chất thải đến cơ sở có chức năng, giấy phép môi trường phù hợp hoặc chuyển giao cho tổ chức, cá nhân vận chuyển khác để vận chuyển đến cơ sở có chức năng, giấy phép môi trường phù hợp[3]. Như vậy, với cách quy định này, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã cho phép tổ chức, cá nhân vận chuyển có thể lựa chọn một trong hai cách thức, hoặc tự mình vận chuyển chất thải đến cơ sở có chức năng, giấy phép môi trường phù hợp; hoặc chuyển giao cho tổ chức, cá nhân vận chuyển khác để vận chuyển đến cơ sở có chức năng, giấy phép môi trường phù hợp. Cách quy định này là linh hoạt và cần thiết, bởi khi cho phép các tổ chức, cá nhân vận chuyển được quyền lựa chọn trong việc trực tiếp hoặc chuyển giao trách nhiệm thực hiện việc vận chuyển sẽ giúp tạo được điều kiện tốt nhất có thể cho việc vận chuyển được thực hiện dễ dàng.

Như vậy, có thể thấy rằng, nếu như cách quy định trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 chưa tạo ra được sự đồng bộ trong vấn đề quản lý chất thải thì Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã khắc phục được vấn đề này bằng cách quy định bổ sung về các yêu cầu chung của chủ nguồn thải và các chủ thể có liên quan đến quản lý chất thải. Sự bổ sung này sẽ không chỉ khắc phục được sự hạn chế, rời rạc trong cách quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 mà còn giúp tạo được sự thống nhất về quy định trách nhiệm cho cả chủ nguồn thải và các chủ thể có liên quan trong hoạt động quản lý chất thải, từ đó góp phần tạo điều kiện thuận lợi trong việc kiểm soát tối đa vấn đề xử lý chất thải, tăng hiệu quả quản lý môi trường.

3. Yêu cầu chung trong hoạt động quản lý nước thải được quy định bổ sung, cụ thể

Về vấn đề quản lý nước thải, nếu như trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 tại Điều 99 chỉ quy định hai yêu cầu về quản lý nước thải thì đến Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu (Nghị định số 38/2015/NĐ-CP), trong quy định về nguyên tắc quản lý nước thải đã có sự thay đổi theo hướng mở rộng khi đã bổ sung thành bốn nguyên tắc tại Điều 36. Đến khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 được ban hành và thông qua, số lượng yêu cầu trong quản lý nước thải được ghi nhận trong Luật này đã có sự sửa đổi, bổ sung về mặt nội dung và điều này được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 72.

Như vậy, cách quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 chỉ mới dừng lại ở việc chỉ đưa ra hai quy định chung về quản lý nước thải so với Luật Bảo vệ môi trường năm 2020. Quy định trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 khá ngắn gọn cả về nội dung lẫn hình thức, điều này đã gây ra nhiều bất cập và khó khăn khi áp dụng Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 vào hoạt động quản lý nước thải. Chính vì vậy, để khắc phục tình trạng này, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã có sự thay đổi trong cách quy định để phù hợp, rõ ràng và thống nhất hơn theo hướng đưa ra bốn yêu cầu trong hoạt động quản lý nước thải. Cụ thể:

Một là, nước thải phải được thu gom và xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường trước khi xả ra nguồn tiếp nhận: Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã bổ sung thời điểm của việc thu gom, xử lý bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật môi trường của nước thải. Cụ thể là, việc thu gom, xử lý nước thải phải được thực hiện trước khi xả ra môi trường tiếp nhận. Trước đó, cả Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và Nghị định số 38/2015/NĐ-CP cũng chưa quy định cụ thể về thời điểm thu gom và xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường khi xả thải. Sự bổ sung này của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã cho thấy được sự tiến bộ khi quy định theo hướng phù hợp với tình hình thực tiễn. Thực tế, nếu không quy định rõ về thời điểm thu gom và xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường khi xả thải trong Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản hướng dẫn liên quan thì các chủ nguồn thải có thể tự lựa chọn thời điểm và có lý do để phủ nhận hành vi vi phạm của mình. Trong trường hợp, nếu việc xử lý nước thải này xảy ra sau khi các chủ nguồn thải đã xả thải ra ngoài và môi trường tự nhiên đã tiếp nhận thì việc xử lý sẽ không còn ý nghĩa. Do vậy, sự bổ sung này là rất cần thiết bởi điều này sẽ tạo cơ sở pháp lý vững chắc theo hướng đặt ra trách nhiệm và tạo được sự ràng buộc rõ ràng cho chủ nguồn thải trong hoạt động quản lý nước thải.

Hai là, nước thải được khuyến khích tái sử dụng khi đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường và mục đích sử dụng nước: Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 không đề cập đến yêu cầu này nhưng Nghị định số 38/2015/NĐ-CP lại có quy định “khuyến khích các hoạt động nhằm giảm thiểu, tái sử dụng nước thải”[4]. Tuy nhiên, Nghị định này chỉ mới dừng lại ở việc nêu ra chứ chưa quy định cụ thể về điều kiện của việc áp dụng nguyên tắc này. Do đó, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã kịp thời bổ sung theo hướng quy định cụ thể đó là nước thải được khuyến khích tái sử dụng khi đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường và mục đích sử dụng nước. Sự bổ sung này là phù hợp, bởi vì, nếu tái sử dụng nhưng không đáp ứng điều kiện thì điều này sẽ đi ngược lại bản chất của tái sử dụng. Việc khuyến khích tái sử dụng nước thải là nhằm mục đích sử dụng lại nước thải để không lãng phí nguồn tài nguyên nước. Tuy nhiên, nếu việc tái sử dụng không đem lại hiệu quả và không đáp ứng các yêu cầu bảo vệ môi trường cũng như không phù hợp với mục đích sử dụng nước thì nguy cơ ảnh hưởng xấu đến môi trường là rất lớn. Do vậy, khi thực hiện việc tái sử dụng nước thải, người dân cần phải cân nhắc, xem xét nhiều mặt để việc tái sử dụng thực sự đem lại hiệu quả.

Ba là, nước thải có chứa thông số môi trường nguy hại vượt ngưỡng quy định phải được quản lý theo quy định về quản lý chất thải nguy hại: Yêu cầu này khác về mặt nội dung so với quy định chung về quản lý nước thải trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2014: “Nước thải có yếu tố nguy hại vượt ngưỡng quy định phải được quản lý theo quy định về chất thải nguy hại”[5]. Theo đó, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã sử dụng cụm từ “thông số môi trường nguy hại” thay cho cụm từ “yếu tố nguy hại” của Luật Bảo vệ môi trường năm 2014. Như vậy, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã cụ thể yếu tố nguy hại bằng cách dựa vào thông số môi trường nguy hại. Việc quy định theo hướng thay đổi “yếu tố nguy hại” thành “thông số môi trường nguy hại” sẽ giúp tạo được cơ sở căn cứ chính xác trong việc quản lý nước thải. Vì thực tế, có rất nhiều tiêu chuẩn đưa ra để đánh giá về yếu tố nguy hại và tất nhiên, điều này sẽ là lỗ hổng khi chủ thể quản lý nước thải muốn trốn tránh trách nhiệm. Bởi thực tế, sẽ có trường hợp chủ thể quản lý nước thải có thể cố tình lựa chọn một yếu tố có mức độ nhẹ hơn để nước thải do họ phát sinh không bị quản lý theo quy định về quản lý chất thải nguy hại. Vì vậy, chính sự thay đổi trong cách quy định này sẽ giúp việc quản lý nước thải đạt được hiệu quả và giúp cơ quan có thẩm quyền dễ dàng đánh giá nước thải có thuộc nước thải nguy hại hay không.

Bốn là, việc xả nước thải sau xử lý ra môi trường phải được quản lý theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, phù hợp với khả năng chịu tải của môi trường tiếp nhận: Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã bổ sung điều kiện của việc xả nước thải sau xử lý ra môi trường mà Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 đã không quy định. Cụ thể, điều kiện này là phải được quản lý theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, phù hợp với khả năng chịu tải của môi trường tiếp nhận. Như vậy, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã quy định theo hướng việc xả nước thải sẽ phải chịu sự quản lý cụ thể theo pháp luật môi trường và phụ thuộc vào sức chứa của môi trường tiếp nhận. Trường hợp xả nước thải vượt quá sức chịu đựng của môi trường thì cần đưa ra phương án khác phù hợp hơn với tình hình thực tế. Cách quy định này là cần thiết bởi điều này đã tạo ra được căn cứ pháp lý cần thiết để phục vụ cho việc quản lý nước thải hiệu quả trên cơ sở đáp ứng các yêu cầu của quy định pháp luật và bảo vệ môi trường.

4. Nội dung về quản lý và kiểm soát mùi khó chịu được chính thức quy định rõ ràng

Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 chưa có quy định cụ thể về kiểm soát mùi khó chịu, chỉ đến Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 mới có sự bổ sung thêm quy định về kiểm soát mùi khó chịu trong hoạt động quản lý chất thải. Theo đó, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có trách nhiệm giảm thiểu, thu gom, xử lý mùi khó chịu, bảo đảm không để rò rỉ, phát tán và giữ khoảng cách an toàn về môi trường đối với khu dân cư (điểm d khoản 1; điểm d khoản 2 Điều 53); hộ gia đình, cá nhân có trách nhiệm phải bảo đảm vệ sinh, không phát tán mùi khó chịu đối với chuồng trại chăn nuôi (khoản 2 Điều 61); tổ chức cá nhân trong khu dân cư gây ra mùi khó chịu phải thực hiện biện pháp giảm thiểu, không làm tác động xấu đến cộng đồng dân cư. Như vậy, có thể thấy rằng, so với Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã có sự thay đổi đáng kể khi lần đầu tiên bổ sung quy định về kiểm soát mùi khó chịu vào hoạt động quản lý chất thải. Điều này là cần thiết, bởi hiện nay, trên thực tế, vấn đề ô nhiễm môi trường bởi mùi khó chịu gây ra rất phổ biến, điều này không chỉ gây ô nhiễm môi trường mà con đe dọa trực tiếp đến sức khỏe và quyền được sống trong môi trường trong lành của con người. Chính vì vậy, việc Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 bổ sung thêm quy định về quản lý, kiểm soát mùi khó chịu là điều quan trọng, tạo cơ sở pháp lý cần thiết để phục vụ cho việc kiểm soát, quản lý các loại chất thải và chất ô nhiễm một cách hiệu quả. Tuy nhiên, nhìn nhận một cách khách quan, sự bổ sung này chưa đi sâu vào quy định cụ thể, do đó để các quy định này thực sự phát huy được tính hiệu quả thì đòi hỏi pháp luật môi trường cần phải tiếp tục được hoàn thiện theo hướng quy định cụ thể hơn nữa về vấn đề này để bảo đảm tính khả thi trong quá trình áp dụng.

Có thể nói, bên cạnh những đóng góp tạo chuyển biến tích cực trong công tác quản lý và bảo vệ môi trường, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 đã bộc lộ một số bất cập và hạn chế nhất định. Vì vậy, để khắc phục, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã kịp thời sửa đổi, bổ sung và đưa ra một số quy định mới mang lại nhiều ý nghĩa đối với hoạt động quản lý chất thải và bảo vệ môi trường. Điểm mới đáng chú ý của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 chính là quy định một cách cụ thể về yêu cầu quản lý chất thải theo hướng linh hoạt, tùy nghi, bổ sung thêm yêu cầu chung về quản lý nước thải, đặc biệt là ghi nhận quy định hoàn toàn mới về kiểm soát mùi khó chịu, từ đó mang lại nhiều ý nghĩa tích cực trong hoạt động quản lý chất thải và kiểm soát chất ô nhiễm.

ThS. Trần Linh Huân

Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

ThS. Phạm Thị Hồng Tâm

Trường Đại học Phan Thiết

[1]. Điểm b khoản 1 Điều 72 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020.

[2]. Điểm c khoản 1 Điều 72 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020.

[3]. Điểm đ khoản 1 Điều 72 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020.

[4]. Khoản 4 Điều 36 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu.

[5]. Khoản 2 Điều 99 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế theo hướng hỗ trợ người lao động (NLĐ) và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nhằm tăng thu nhập thực nhận mà còn thể hiện sự kết nối giữa pháp luật thuế với pháp luật lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và quan hệ lao động, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).

Theo dõi chúng tôi trên: