Thứ ba 03/03/2026 20:45
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số điểm mới trong quy định về quản lý chất thải và kiểm soát các chất ô nhiễm khác theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2020

Một số điểm mới trong quy định về quản lý chất thải và kiểm soát các chất ô nhiễm khác theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2020

Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích, đánh giá làm rõ một số điểm mới của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 trong quy định về quản lý chất thải và kiểm soát các chất ô nhiễm khác.

Abstract: The article focuses on analyzing and evaluating and clarifying some new points of the Law on Environmental Protection of 2020 in regulations on waste management and control of other pollutants.

Quản lý chất thải và kiểm soát các chất ô nhiễm khác là một trong những vấn đề rất quan trọng trong việc bảo vệ môi trường (BVMT) bởi quản lý chất thải và kiểm soát các chất ô nhiễm khác được thực hiện hiệu quả thì hoạt động BVMT mới được bảo đảm. Do đó, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã dành nhiều sự quan tâm trong vấn đề sửa đổi, bổ sung và hoàn chỉnh các vấn đề pháp lý liên quan đến hoạt động quản lý chất thải và kiểm soát các chất ô nhiễm. Có thể thấy rằng, những điểm mới của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã mang lại nhiều ý nghĩa tích cực trong hoạt động quản lý chất thải và kiểm soát chất ô nhiễm. Theo đó, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã có sự điều chỉnh trong quy định về cách đặt tên tiêu đề đối với chương điều chỉnh về quản lý chất thải; bổ sung thêm những quy định theo hướng tạo được sự thống nhất về yêu cầu trách nhiệm quản lý chất thải rắn sinh hoạt, chất thải nguy hại và chất thải rắn công nghiệp thông thường của chủ nguồn thải; đưa ra được những quy định mang tính sửa đổi trên tinh thần phù hợp và thống nhất trong yêu cầu chung về hoạt động quản lý nước thải; bổ sung thêm quy định về quản lý và kiểm soát mùi khó chịu. Có thể thấy rằng, đối với quá trình lập pháp, những điểm mới này đã chứng minh được tư tưởng tiến bộ của nhà lập pháp khi đã kịp thời thay đổi, bổ sung những quy định mới để phù hợp hơn với sự thay đổi của xã hội, thích ứng với tình hình thực tế, đặc biệt là vấn đề BVMT trong hoạt động quản lý chất thải và kiểm soát chất ô nhiễm.

1. Thay đổi tên gọi đối với chương quản lý chất thải theo hướng mở rộng, bổ sung thêm nội dung kiểm soát các chất ô nhiễm khác

So với Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã có sự thay đổi trong quy định về cách đặt tên chương trong phần điều chỉnh về nội dung quản lý chất thải. Cụ thể, tại Chương IX Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 đã quy định sử dụng thuật ngữ của chương là “Quản lý chất thải” nhưng đến Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 thì tên chương thay đổi thành “Quản lý chất thải và kiểm soát các chất gây ô nhiễm khác”. Như vậy, cách thay đổi trong quy định này đã mở rộng phạm vi quản lý của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 so với Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, tức là Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 không chỉ tập trung vào việc quản lý chất thải mà còn bổ sung thêm hoạt động kiểm soát các chất ô nhiễm khác. Việc bổ sung này là cần thiết bởi sẽ tạo điều kiện giúp cho hoạt động quản lý chất thải được thực hiện một cách toàn diện, không bỏ sót nguồn ô nhiễm có nguy cơ gây ảnh hưởng xấu đến môi trường.

2. Yêu cầu thực hiện quản lý chất thải rắn sinh hoạt, chất thải nguy hại và chất thải rắn công nghiệp thông thường được quy định theo hướng linh hoạt về cách thức quản lý

So với Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Luật Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 không đưa ra quy định chung về trách nhiệm của chủ nguồn thải mà chỉ đưa ra trách nhiệm cụ thể của chủ nguồn thải đối với từng loại chất thải. Cụ thể, trách nhiệm của chủ nguồn thải đối với từng loại chất thải được quy định tại Điều 90, Điều 91 đối với chất thải nguy hại; Điều 95, Điều 97 đối với chất thải rắn thông thường; Điều 101 đối với nước thải; Điều 102, Điều 103 đối với bụi, khí thải, tiếng ồn, độ rung, ánh sáng, bức xạ. Còn trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, khác với Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Luật này đã đưa ra yêu cầu chung đối với quản lý chất thải, trong đó quy định rõ trách nhiệm của chủ nguồn thải và các tổ chức, cá nhân liên quan. Cụ thể:

- Đối với chủ nguồn thải: Chủ nguồn thải chất thải nguy hại, chất thải rắn công nghiệp thông thường có trách nhiệm tự mình tái sử dụng, tái chế, xử lý và thu hồi năng lượng từ chất thải hoặc có thể chuyển giao cho cơ sở có chức năng, giấy phép môi trường phù hợp để xử lý[1]. Theo cách quy định này, có thể hiểu, chủ nguồn thải chất thải nguy hại, chủ nguồn thải chất thải rắn công nghiệp thông thường sẽ có hai lựa chọn trọng việc trong việc quản lý chất thải, đó là tự mình quản lý chất thải hoặc chuyển giao cho các chủ thể đáp ứng đủ yêu cầu thay mình quản lý. Tức là, tùy thuộc vào điều kiện của từng chủ nguồn thải mà họ có thể lựa chọn cách tự quản lý trực tiếp hay quản lý gián tiếp thông qua việc chuyển giao. Đây là một dạng quy định mang tính tùy nghi theo hướng tạo sự thuận lợi cho chủ nguồn thải. Quy định này không mang tính chất bắt buộc mà theo hướng chủ nguồn thải có điều kiện phù hợp với trách nhiệm nào thì sẽ áp dụng trách nhiệm đó, tuy nhiên, phải bảo đảm rằng, sự phù hợp này là đúng đắn và không trái quy định pháp luật. Ngoài ra, chủ nguồn thải còn phải có trách nhiệm trong việc phân định chất thải giữa chất thải nguy hại và chất thải rắn công nghiệp thông thường bằng cách thông qua hoạt động lấy, phân tích mẫu do cơ sở có chức năng, đủ năng lực thực hiện theo quy định của pháp luật[2].

- Đối với tổ chức, cá nhân vận chuyển: Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 cũng đã quy định đặt ra trách nhiệm vận chuyển chất thải cho tổ chức, cá nhân vận chuyển theo hướng được lựa chọn. Cụ thể, tổ chức, cá nhân vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt, chất thải nguy hại, chất thải rắn công nghiệp thông thường phải xử lý có trách nhiệm vận chuyển chất thải đến cơ sở có chức năng, giấy phép môi trường phù hợp hoặc chuyển giao cho tổ chức, cá nhân vận chuyển khác để vận chuyển đến cơ sở có chức năng, giấy phép môi trường phù hợp[3]. Như vậy, với cách quy định này, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã cho phép tổ chức, cá nhân vận chuyển có thể lựa chọn một trong hai cách thức, hoặc tự mình vận chuyển chất thải đến cơ sở có chức năng, giấy phép môi trường phù hợp; hoặc chuyển giao cho tổ chức, cá nhân vận chuyển khác để vận chuyển đến cơ sở có chức năng, giấy phép môi trường phù hợp. Cách quy định này là linh hoạt và cần thiết, bởi khi cho phép các tổ chức, cá nhân vận chuyển được quyền lựa chọn trong việc trực tiếp hoặc chuyển giao trách nhiệm thực hiện việc vận chuyển sẽ giúp tạo được điều kiện tốt nhất có thể cho việc vận chuyển được thực hiện dễ dàng.

Như vậy, có thể thấy rằng, nếu như cách quy định trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 chưa tạo ra được sự đồng bộ trong vấn đề quản lý chất thải thì Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã khắc phục được vấn đề này bằng cách quy định bổ sung về các yêu cầu chung của chủ nguồn thải và các chủ thể có liên quan đến quản lý chất thải. Sự bổ sung này sẽ không chỉ khắc phục được sự hạn chế, rời rạc trong cách quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 mà còn giúp tạo được sự thống nhất về quy định trách nhiệm cho cả chủ nguồn thải và các chủ thể có liên quan trong hoạt động quản lý chất thải, từ đó góp phần tạo điều kiện thuận lợi trong việc kiểm soát tối đa vấn đề xử lý chất thải, tăng hiệu quả quản lý môi trường.

3. Yêu cầu chung trong hoạt động quản lý nước thải được quy định bổ sung, cụ thể

Về vấn đề quản lý nước thải, nếu như trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 tại Điều 99 chỉ quy định hai yêu cầu về quản lý nước thải thì đến Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu (Nghị định số 38/2015/NĐ-CP), trong quy định về nguyên tắc quản lý nước thải đã có sự thay đổi theo hướng mở rộng khi đã bổ sung thành bốn nguyên tắc tại Điều 36. Đến khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 được ban hành và thông qua, số lượng yêu cầu trong quản lý nước thải được ghi nhận trong Luật này đã có sự sửa đổi, bổ sung về mặt nội dung và điều này được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 72.

Như vậy, cách quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 chỉ mới dừng lại ở việc chỉ đưa ra hai quy định chung về quản lý nước thải so với Luật Bảo vệ môi trường năm 2020. Quy định trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 khá ngắn gọn cả về nội dung lẫn hình thức, điều này đã gây ra nhiều bất cập và khó khăn khi áp dụng Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 vào hoạt động quản lý nước thải. Chính vì vậy, để khắc phục tình trạng này, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã có sự thay đổi trong cách quy định để phù hợp, rõ ràng và thống nhất hơn theo hướng đưa ra bốn yêu cầu trong hoạt động quản lý nước thải. Cụ thể:

Một là, nước thải phải được thu gom và xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường trước khi xả ra nguồn tiếp nhận: Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã bổ sung thời điểm của việc thu gom, xử lý bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật môi trường của nước thải. Cụ thể là, việc thu gom, xử lý nước thải phải được thực hiện trước khi xả ra môi trường tiếp nhận. Trước đó, cả Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và Nghị định số 38/2015/NĐ-CP cũng chưa quy định cụ thể về thời điểm thu gom và xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường khi xả thải. Sự bổ sung này của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã cho thấy được sự tiến bộ khi quy định theo hướng phù hợp với tình hình thực tiễn. Thực tế, nếu không quy định rõ về thời điểm thu gom và xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường khi xả thải trong Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản hướng dẫn liên quan thì các chủ nguồn thải có thể tự lựa chọn thời điểm và có lý do để phủ nhận hành vi vi phạm của mình. Trong trường hợp, nếu việc xử lý nước thải này xảy ra sau khi các chủ nguồn thải đã xả thải ra ngoài và môi trường tự nhiên đã tiếp nhận thì việc xử lý sẽ không còn ý nghĩa. Do vậy, sự bổ sung này là rất cần thiết bởi điều này sẽ tạo cơ sở pháp lý vững chắc theo hướng đặt ra trách nhiệm và tạo được sự ràng buộc rõ ràng cho chủ nguồn thải trong hoạt động quản lý nước thải.

Hai là, nước thải được khuyến khích tái sử dụng khi đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường và mục đích sử dụng nước: Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 không đề cập đến yêu cầu này nhưng Nghị định số 38/2015/NĐ-CP lại có quy định “khuyến khích các hoạt động nhằm giảm thiểu, tái sử dụng nước thải”[4]. Tuy nhiên, Nghị định này chỉ mới dừng lại ở việc nêu ra chứ chưa quy định cụ thể về điều kiện của việc áp dụng nguyên tắc này. Do đó, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã kịp thời bổ sung theo hướng quy định cụ thể đó là nước thải được khuyến khích tái sử dụng khi đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường và mục đích sử dụng nước. Sự bổ sung này là phù hợp, bởi vì, nếu tái sử dụng nhưng không đáp ứng điều kiện thì điều này sẽ đi ngược lại bản chất của tái sử dụng. Việc khuyến khích tái sử dụng nước thải là nhằm mục đích sử dụng lại nước thải để không lãng phí nguồn tài nguyên nước. Tuy nhiên, nếu việc tái sử dụng không đem lại hiệu quả và không đáp ứng các yêu cầu bảo vệ môi trường cũng như không phù hợp với mục đích sử dụng nước thì nguy cơ ảnh hưởng xấu đến môi trường là rất lớn. Do vậy, khi thực hiện việc tái sử dụng nước thải, người dân cần phải cân nhắc, xem xét nhiều mặt để việc tái sử dụng thực sự đem lại hiệu quả.

Ba là, nước thải có chứa thông số môi trường nguy hại vượt ngưỡng quy định phải được quản lý theo quy định về quản lý chất thải nguy hại: Yêu cầu này khác về mặt nội dung so với quy định chung về quản lý nước thải trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2014: “Nước thải có yếu tố nguy hại vượt ngưỡng quy định phải được quản lý theo quy định về chất thải nguy hại”[5]. Theo đó, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã sử dụng cụm từ “thông số môi trường nguy hại” thay cho cụm từ “yếu tố nguy hại” của Luật Bảo vệ môi trường năm 2014. Như vậy, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã cụ thể yếu tố nguy hại bằng cách dựa vào thông số môi trường nguy hại. Việc quy định theo hướng thay đổi “yếu tố nguy hại” thành “thông số môi trường nguy hại” sẽ giúp tạo được cơ sở căn cứ chính xác trong việc quản lý nước thải. Vì thực tế, có rất nhiều tiêu chuẩn đưa ra để đánh giá về yếu tố nguy hại và tất nhiên, điều này sẽ là lỗ hổng khi chủ thể quản lý nước thải muốn trốn tránh trách nhiệm. Bởi thực tế, sẽ có trường hợp chủ thể quản lý nước thải có thể cố tình lựa chọn một yếu tố có mức độ nhẹ hơn để nước thải do họ phát sinh không bị quản lý theo quy định về quản lý chất thải nguy hại. Vì vậy, chính sự thay đổi trong cách quy định này sẽ giúp việc quản lý nước thải đạt được hiệu quả và giúp cơ quan có thẩm quyền dễ dàng đánh giá nước thải có thuộc nước thải nguy hại hay không.

Bốn là, việc xả nước thải sau xử lý ra môi trường phải được quản lý theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, phù hợp với khả năng chịu tải của môi trường tiếp nhận: Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã bổ sung điều kiện của việc xả nước thải sau xử lý ra môi trường mà Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 đã không quy định. Cụ thể, điều kiện này là phải được quản lý theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, phù hợp với khả năng chịu tải của môi trường tiếp nhận. Như vậy, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã quy định theo hướng việc xả nước thải sẽ phải chịu sự quản lý cụ thể theo pháp luật môi trường và phụ thuộc vào sức chứa của môi trường tiếp nhận. Trường hợp xả nước thải vượt quá sức chịu đựng của môi trường thì cần đưa ra phương án khác phù hợp hơn với tình hình thực tế. Cách quy định này là cần thiết bởi điều này đã tạo ra được căn cứ pháp lý cần thiết để phục vụ cho việc quản lý nước thải hiệu quả trên cơ sở đáp ứng các yêu cầu của quy định pháp luật và bảo vệ môi trường.

4. Nội dung về quản lý và kiểm soát mùi khó chịu được chính thức quy định rõ ràng

Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 chưa có quy định cụ thể về kiểm soát mùi khó chịu, chỉ đến Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 mới có sự bổ sung thêm quy định về kiểm soát mùi khó chịu trong hoạt động quản lý chất thải. Theo đó, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có trách nhiệm giảm thiểu, thu gom, xử lý mùi khó chịu, bảo đảm không để rò rỉ, phát tán và giữ khoảng cách an toàn về môi trường đối với khu dân cư (điểm d khoản 1; điểm d khoản 2 Điều 53); hộ gia đình, cá nhân có trách nhiệm phải bảo đảm vệ sinh, không phát tán mùi khó chịu đối với chuồng trại chăn nuôi (khoản 2 Điều 61); tổ chức cá nhân trong khu dân cư gây ra mùi khó chịu phải thực hiện biện pháp giảm thiểu, không làm tác động xấu đến cộng đồng dân cư. Như vậy, có thể thấy rằng, so với Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã có sự thay đổi đáng kể khi lần đầu tiên bổ sung quy định về kiểm soát mùi khó chịu vào hoạt động quản lý chất thải. Điều này là cần thiết, bởi hiện nay, trên thực tế, vấn đề ô nhiễm môi trường bởi mùi khó chịu gây ra rất phổ biến, điều này không chỉ gây ô nhiễm môi trường mà con đe dọa trực tiếp đến sức khỏe và quyền được sống trong môi trường trong lành của con người. Chính vì vậy, việc Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 bổ sung thêm quy định về quản lý, kiểm soát mùi khó chịu là điều quan trọng, tạo cơ sở pháp lý cần thiết để phục vụ cho việc kiểm soát, quản lý các loại chất thải và chất ô nhiễm một cách hiệu quả. Tuy nhiên, nhìn nhận một cách khách quan, sự bổ sung này chưa đi sâu vào quy định cụ thể, do đó để các quy định này thực sự phát huy được tính hiệu quả thì đòi hỏi pháp luật môi trường cần phải tiếp tục được hoàn thiện theo hướng quy định cụ thể hơn nữa về vấn đề này để bảo đảm tính khả thi trong quá trình áp dụng.

Có thể nói, bên cạnh những đóng góp tạo chuyển biến tích cực trong công tác quản lý và bảo vệ môi trường, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 đã bộc lộ một số bất cập và hạn chế nhất định. Vì vậy, để khắc phục, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã kịp thời sửa đổi, bổ sung và đưa ra một số quy định mới mang lại nhiều ý nghĩa đối với hoạt động quản lý chất thải và bảo vệ môi trường. Điểm mới đáng chú ý của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 chính là quy định một cách cụ thể về yêu cầu quản lý chất thải theo hướng linh hoạt, tùy nghi, bổ sung thêm yêu cầu chung về quản lý nước thải, đặc biệt là ghi nhận quy định hoàn toàn mới về kiểm soát mùi khó chịu, từ đó mang lại nhiều ý nghĩa tích cực trong hoạt động quản lý chất thải và kiểm soát chất ô nhiễm.

ThS. Trần Linh Huân

Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

ThS. Phạm Thị Hồng Tâm

Trường Đại học Phan Thiết

[1]. Điểm b khoản 1 Điều 72 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020.

[2]. Điểm c khoản 1 Điều 72 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020.

[3]. Điểm đ khoản 1 Điều 72 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020.

[4]. Khoản 4 Điều 36 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu.

[5]. Khoản 2 Điều 99 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: