Chủ nhật 26/07/2026 09:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số giải pháp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả tuân thủ pháp luật của người dân trên địa bàn vùng Tây Nam Bộ

Trong bài viết này, tác giả đề cập tới một số giải pháp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả tuân thủ pháp luật của người dân trên địa bàn vùng Tây Nam Bộ.


Để thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân, Kết luận số 80-KL/TW ngày 20/6/2020 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật và các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp và đặc biệt là thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng liên quan đến công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL), trong đó có công tác PBGDPL đến người dân, từ những kết quả, hạn chế, khó khăn vướng mắc trong thời gian qua, những vấn đề đặt ra hiện nay và yêu cầu, nhiệm vụ mới về công tác PBGDPL, thời gian qua, các địa phương trên địa bàn vùng Tây Nam Bộ đã và đang triển khai thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau đây:

1. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách, tổ chức, bộ máy về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đến người dân

Thứ nhất, các tỉnh, thành phố, trên địa bàn vùng Tây Nam Bộ hiện nay, nhất là Cần Thơ, Bạc Liêu, Đồng Tháp, An Giang,... đang tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách về công tác PBGDPL và các văn bản, kế hoạch triển khai, hướng dẫn công tác PBGDPL; các quy định, chương trình khung bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng đối với báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật đến người dân trên địa bàn.

Thứ hai, hầu hết các tỉnh, thành phố trên địa bàn vùng Tây Nam Bộ hiện nay đang kiện toàn các tổ chức, bộ máy về công tác PBGDPL đến người dân. Theo đó:

(i) Các địa phương trên địa bàn vùng Tây Nam Bộ hiện nay đều đã và đang củng cố, kiện toàn Hội đồng Phối hợp PBGDPL các cấp với thành phần từ các cơ quan như lãnh đạo Ủy ban nhân dân (UBND) và Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch UBND làm Chủ tịch Hội đồng, người đứng đầu các Phòng Tư pháp cấp huyện, Sở Tư pháp cấp tỉnh làm Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng, đại diện lãnh đạo Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, các sở, ban, ngành, đoàn thể, Hội luật gia, Đoàn luật sư và Hiệp hội doanh nghiệp cùng cấp trên địa bàn tham gia. Hội đồng Phối hợp PBGDPL các cấp thực hiện chức năng tham mưu, tư vấn, chỉ đạo trong công tác PBGDPL thuộc phạm vi quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực và địa bàn dân cư; qua đó, góp phần tích cực vào việc nâng cao ý thức, chấp hành pháp luật của người dân, đưa chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn sản xuất và đời sống.

(ii) Các cơ quan tư pháp với tư cách là cơ quan thường trực Hội đồng Phối hợp PBGDPL ở các địa phương trên địa bàn vùng Tậy Nam Bộ hiện nay như: Bạc Liêu, Cần Thơ, Hậu Giang, Cà Mau... đang thực hiện đúng vai trò và trách nhiệm của mình trong việc ban hành các văn bản chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác PBGDPL, tạo sự thống nhất, đồng bộ trong triển khai thực hiện công tác PBGDPL đến người dân, tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn triển khai hoạt động theo các chương trình tuyên truyền, PBGDPL của Hội đồng Phối hợp PBGDPL các cấp, tạo sức mạnh tổng hợp cho công tác PBGDPL đến người dân trên địa bàn được triển khai ngày càng đồng bộ, kịp thời.

(iii) Nhiều ban, ngành đoàn thể, nhất là công an, quân sự, biên phòng (ở những tỉnh, thành có biên giới, hải đảo) như: Bạc Liêu, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp... đã thành lập và củng cố Hội đồng Phối hợp PBGDPL tại các cơ quan, đơn vị mình, tạo điều kiện cho hoạt động phối hợp tuyên truyền, PBGDPL trực tiếp đến cán bộ, công chức, viên chức và người dân trên địa bàn, trong đó có người dân đang sinh sống, lao động, sản xuất và công tác ở biên giới, hải đảo.

2. Xây dựng và củng cố đội ngũ báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật và người tham gia công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đến người dân

Nhiều địa phương trên địa bàn đã thực hiện rà soát, củng cố, kiện toàn đội ngũ báo cáo viên pháp luật các cấp; đồng thời, tham mưu Chủ tịch UBND các cấp có thẩm quyền ban hành quyết định công nhận, miễn nhiệm và có chế độ thích hợp đối với báo cáo viên chuyên và không chuyên pháp luật các cấp và công bố công khai, kịp thời, nhất là trên cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử của địa phương, cơ quan, đơn vị các danh mục thủ tục hành chính về lĩnh vực tuyên truyền, PBGDPL đến người dân. Theo đó:

Thứ nhất, rà soát, củng cố, kiện toàn đội ngũ báo cáo viên pháp luật các cấp là trưởng, phó các sở, ban, ngành các cấp, những người có trình độ, am hiểu pháp luật, có khả năng - kỹ năng và tâm huyết truyền đạt; động viên, giúp đỡ họ được học tập, học hỏi và thường xuyên tự học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ trong công tác tuyên truyền PBGDPL đến người dân. Đây là lực lượng nòng cốt đóng góp quan trọng trong việc nâng cao hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật đến người dân.

Thứ hai, củng cố, kiện toàn đội ngũ các cán bộ, công chức, viên chức, trợ giúp viên pháp lý và cộng tác viên trợ giúp pháp lý; các luật sư, luật gia, thẩm phán, kiểm sát viên, các chuyên gia, tập hợp những người có hiểu biết pháp luật trong hoạt động thực tiễn vào hoạt động tuyên truyền, PBGDPL đến người dân.

Thứ ba, mở rộng và thu hút đội ngũ giảng viên dạy pháp luật ở các trường đại học, cao đẳng (trong đó có Khoa Luật - Đại học Cần Thơ, Trường Cao đẳng Luật Miền Nam, Đại học Trà Vinh, Đại học Đồng Tháp và các trường chính trị ở Cần Thơ, An Giang, Đồng Tháp), đội ngũ giáo viên dạy môn giáo dục công dân của các trường trung học phổ thông; phóng viên, biên tập viên tại các báo, đài; các chức sắc tôn giáo (thông qua nêu gương, các buổi sinh hoạt tôn giáo); người có uy tín trong cộng đồng dân cư, cộng đồng dân tộc tham gia tuyên truyền, PBGDPL cho người dân.

3. Đẩy mạnh hoạt động tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, xây dựng và phát triển mô hình tiến tiến, chia sẻ kinh nghiệm, kỹ năng cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên về tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đến người dân

Nhiều địa phương vùng Tây Nam Bộ đang đẩy mạnh công tác tổ chức tập huấn nhằm thực hiện có hiệu quả Quyết định số 3147/QĐ-BTP ngày 28/12/2018 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Chương trình khung bồi dưỡng nghiệp vụ đối với báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật. Theo đó:

Thứ nhất, cơ quan tư pháp và Hội đồng Phối hợp PBGDPL các cấp như ở Bạc Liêu, An Giang, Đồng Tháp... thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức pháp luật mới cho các báo cáo viên pháp luật.

Thứ hai, các cơ quan tư pháp và Hội đồng Phối hợp PBGDPL các cấp đang đẩy mạnh các hoạt động tập huấn trang bị kỹ năng, kỹ xảo cần thiết cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên về tuyên truyền PBGDPL đến người dân, nhất là ở Bạc Liêu hiện nay.

Thứ ba, các cơ quan tư pháp và Hội đồng Phối hợp PBGDPL các cấp, như ở Bạc Liêu, Đồng Tháp... đang đẩy mạnh hoạt động tham quan, học tập các điển hình tiên tiến, chia sẻ kinh nghiệm thực tế cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên về PBGDPL đến người dân.

Thứ tư, tham khảo, học tập và nhân rộng các mô hình “Địa chỉ tin cậy”, “Tiếng loa thanh niên”, “Tổ tư vấn pháp luật”, “Câu lạc bộ gia đình hạnh phúc”, “Gia đình không bạo lực gia đình”, “Phụ nữ với an toàn giao thông”, “Phụ nữ nông thôn với pháp luật”... như ở Bạc Liêu; các mô hình “Cà phê doanh nhân”, “Phiên tòa giả định”, “Niềm tin trợ giúp”, Câu lạc bộ “3 giúp nữ công nhân nhà trọ”, “1+5” (gặp gỡ, tuyên truyền, giáo dục và cảm hóa người vi phạm pháp luật)... như ở Long An.

4. Nâng cao chất lượng công tác tham mưu, xác định nội dung pháp luật trọng tâm cần phổ biến, giáo dục pháp luật đến người dân

Thứ nhất, các cơ quan tư pháp và Hội đồng Phối hợp PBGDPL các cấp ở các địa phương vùng Tây Nam Bộ, nhất là ở Bạc Liêu đang tích cực đổi mới và nâng cao chất lượng tư vấn, định hướng về chủ đề, nội dung, hình thức PBGDPL luật gắn với công tác xây dựng, thi hành và bảo vệ pháp luật, với cải cách hành chính, cải cách tư pháp cho phù hợp với từng địa phương, đơn vị và từng giai đoạn giải quyết các nhiệm vụ chính trị của mỗi địa phương, đơn vị.

Thứ hai, nhiều địa phương đang xác định rõ trọng tâm của hoạt động PBGDPL đến người dân là các chủ trương, quan điểm, chính sách, quy định mới về cải cách hành chính, cải thiện môi trường sản xuất, đầu tư kinh doanh các chính sách, quy định pháp luật mà người dân quan tâm.

5. Tăng cường công tác tư vấn, hướng dẫn thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật cho các đối tượng đặc thù, các đề án phổ biến, giáo dục pháp luật đến người dân

Thứ nhất, nhiều địa phương trên địa bàn quan tâm lựa chọn nội dung và hình thức PBGDPL phù hợp cho các đối tượng đặc thù như: Trẻ em, người lao động trong các doanh nghiệp, người dân ven biển, ngư dân, người dân ở vùng dân tộc thiểu số; người đang chấp hành hình phạt tù, người đang bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; PBGDPL tại một số địa bàn trọng điểm về vi phạm pháp luật; một số công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị và pháp luật có liên quan trực tiếp đến người dân.

Thứ hai, một số địa phương như: Bến Tre, Bạc Liêu... đang tăng cường sự phối hợp, chủ động giữa các cơ quan, tổ chức cũng như xác định nội dung, hình thức trọng tâm trong việc thực hiện công tác PBGDPL cho đối tượng đặc thù, các đề án PBGDPL đến người dân. Các cơ quan tư pháp, Hội đồng Phối hợp PBGDPL các cấp đã tham mưu giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp mình ban hành các kế hoạch để thực hiện công tác PBGDPL đến người dân và nhất là các đề án PBGDPL đến người dân trên địa bàn.

Thứ ba, các địa phương vùng Tây Nam Bộ đều tổ chức Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam một cách thiết thực và hiệu quả với những hoạt động hưởng ứng Ngày Pháp luật, những sinh hoạt chính trị - pháp lý trong các cộng đồng dân cư (như Bạc Liêu đang xúc tiến hoạt động tư vấn, hướng dẫn về nội dung, hình thức tổ chức Ngày Pháp luật hàng tháng).

6. Tăng cường công tác kiểm tra của của các cơ quan tư pháp và Hội đồng phối hợp, tổng kết công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đến người dân

Thứ nhất, các cơ quan tư pháp và Hội đồng Phối hợp PBGDPL các cấp ở nhiều địa phương ngày càng chủ động xây dựng và thực hiện thường xuyên, nghiêm túc kế hoạch kiểm tra công tác PBGDPL trên địa bàn.

Thứ hai, các cơ quan tư pháp và Hội đồng Phối hợp PBGDPL các cấp ngày càng chủ động tổng hợp báo cáo về UBND cấp mình và Hội đồng Phối hợp PBGDPL Trung ương về công tác PBGDPL đến người dân trên địa bàn

7. Bảo đảm các nguồn kinh phí cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đến người dân

Thứ nhất, các địa phương trên địa bàn đang cố gắng cân đối bảo đảm đủ và sử dụng đúng quy định nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước cho công tác PBGDPL đến người dân.

Thứ hai, nhiều địa phương đang đẩy mạnh thực hiện xã hội hóa công tác PBGDPL đến người dân thông qua các hoạt động như: Triển khai chính sách xã hội hóa công tác PBGDPL đến người dân, từng bước thu hút các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, nghề nghiệp, doanh nghiệp... tham gia công tác PBGDPL đến người dân; huy động, khai thác các nguồn kinh phí, hỗ trợ về vật chất, tinh thần, địa điểm từ các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, nghề nghiệp, doanh nghiệp để phục vụ cho hoạt động PBGDPL đến người dân.

8. Đa dạng hóa các hình thức và nội dung hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật đến người dân

Thứ nhất, các địa phương trên địa bàn thường xuyên tổ chức các hội nghị PBGDPL đến người dân; lồng ghép nội dung PBGDPL với các hội nghị có liên quan. Thực hiện PBGDPL đến người dân thông qua các phương tiện thông tin đại chúng một cách chủ động, thường xuyên và liên tục, bảo đảm đáp ứng nhu cầu về thông tin, phổ biến các quy định pháp luật cho người dân; các hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục văn bản pháp luật (tin tức, phóng sự, câu chuyên pháp luật...) trên hệ thống phát thanh, truyền thanh, báo, đài, các trang thông tin điện tử của các cơ quan, đơn vị trên địa bàn; thông tin về những tấm gương điển hình tiên tiến, các mô hình hay trên các lĩnh vực của kinh tế, đời sống, văn hóa, xã hội, kịp thời phản ánh những mặt tiêu cực, biểu dương những gương điển hình tiên tiến trong chấp hành pháp luật để người dân học tập, làm theo và chấp hành tốt Hiến pháp, pháp luật; tổ chức tuyên truyền, phổ biến những văn bản pháp luật mới ban hành có liên quan đến quyền và lợi ích của cán bộ, Đảng viên, người dân trên các Cổng thông tin điện tử, các mạng xã hội như: Facebook, Zalo (ở những nơi có điều kiện). Đặc biệt, có địa phương còn xây dựng chương trình trả lời thư pháp luật, câu chuyện pháp luật bằng tiếng Khmer trên đài phát thanh, truyền thanh, truyền hình (như ở Trà Vinh).

Thứ hai, các địa phương đều PBGDPL thông qua tài liệu tuyên truyền pháp luật dưới dạng sách, bản tin, pano, biển áp phích, tờ rơi nội dung tuyên truyền các văn bản pháp luật có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người dân. Tăng cường PBGDPL thông qua công tác xét xử, xét xử lưu động, phiên tòa rút kinh nghiệm về hình sự, dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, hành chính nhằm nâng cao hiểu biết và kỹ năng thực hiện pháp luật cho người dân. Mở rộng các hình thức PBGDPL thông qua tổ chức hội thi tìm hiểu pháp luật cho người dân với các hình thức khác nhau.

Thứ ba, nhiều địa phương đang đẩy mạnh PBGDPL thông qua công tác hòa giải ở cơ sở. Thực hiện phổ biến thông qua công tác trợ giúp pháp lý và hoạt động của các câu lạc bộ ở những nơi có điều kiện. Đẩy mạnh Hội đồng Phối hợp PBGDPL trong các nhà trường, cơ sở đào tạo, bồi dưỡng, dạy nghề, với các hình thức và nội dung đa dạng, phong phú. Chú trọng PBGDPL về các vấn đề được dư luận xã hội quan tâm, có liên quan trực tiếp và cấp bách đến sản xuất và đời sống của người dân. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác PBGDPL đến người dân.

9. Tăng cường vai trò lãnh đạo, quản lý của các cấp ủy Đảng, chính quyền và sự tham gia của Mặt trận và các các tổ chức chính trị - xã hội trong công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đến người dân

Các địa phương trên địa bàn Tây Nam Bộ đều quan tâm, tăng cường vai trò lãnh đạo, quản lý của các cấp ủy Đảng, chính quyền và sự tham gia của Mặt trận và các các tổ chức chính trị - xã hội; vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, Đảng viên trước nhân dân; chăm lo cải thiện đời sống, nâng cao dân trí, tăng cơ hội tiếp cận pháp luật, tăng cường dân vận về pháp luật. Tăng cường kiểm tra, theo dõi tình hình tuân thủ pháp luật của người dân, xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi phạm pháp luật. Bảo đảm tuyên truyền pháp luật phù hợp đến từng nhóm đối tượng, ngắn gọn, dễ nhớ, dễ vận dụng. Tuyên truyền gương người tốt, việc tốt về pháp luật. Xây dựng tủ sách pháp luật; lồng ghép tuyên truyền, PBGDPL trong các buổi sinh hoạt cộng đồng; thực hiện phương châm “mỗi người dân là một tuyên truyền viên pháp luật” trong cộng đồng; nâng cao chất lượng dạy học pháp luật trong trường học. Thực hiện thi đua, khen thưởng, tạo điều kiện cho người dân thực hiện pháp luật. Đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng chính quyền điện tử, tạo điều kiện để người dân tiếp cận việc thực hiện và tuân thủ pháp luật thuận lợi.

Có thể nói, các giải pháp trên đây về tuyên truyền, PBGDPL cho người dân đang được đẩy mạnh thực hiện ở các địa phương vùng Tây Nam Bộ hiện nay là biểu hiện của sự quyết tâm của các cấp ủy, chính quyền, hệ thống chính trị và nhân dân trên địa bàn trong triển khai thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nhằm “Đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ,... xây dựng con người Việt Nam thời đại mới, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại”[1], góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

TS. Nguyễn Thị Tuyết Mai
Học viện Chính trị Khu vực IV

[1]. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2021, Tập 1, tr. 143.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: