Thứ sáu 23/10/2026 20:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số giải pháp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả tuân thủ pháp luật của người dân trên địa bàn vùng Tây Nam Bộ

Trong bài viết này, tác giả đề cập tới một số giải pháp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả tuân thủ pháp luật của người dân trên địa bàn vùng Tây Nam Bộ.


Để thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân, Kết luận số 80-KL/TW ngày 20/6/2020 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật và các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp và đặc biệt là thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng liên quan đến công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL), trong đó có công tác PBGDPL đến người dân, từ những kết quả, hạn chế, khó khăn vướng mắc trong thời gian qua, những vấn đề đặt ra hiện nay và yêu cầu, nhiệm vụ mới về công tác PBGDPL, thời gian qua, các địa phương trên địa bàn vùng Tây Nam Bộ đã và đang triển khai thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau đây:

1. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách, tổ chức, bộ máy về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đến người dân

Thứ nhất, các tỉnh, thành phố, trên địa bàn vùng Tây Nam Bộ hiện nay, nhất là Cần Thơ, Bạc Liêu, Đồng Tháp, An Giang,... đang tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách về công tác PBGDPL và các văn bản, kế hoạch triển khai, hướng dẫn công tác PBGDPL; các quy định, chương trình khung bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng đối với báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật đến người dân trên địa bàn.

Thứ hai, hầu hết các tỉnh, thành phố trên địa bàn vùng Tây Nam Bộ hiện nay đang kiện toàn các tổ chức, bộ máy về công tác PBGDPL đến người dân. Theo đó:

(i) Các địa phương trên địa bàn vùng Tây Nam Bộ hiện nay đều đã và đang củng cố, kiện toàn Hội đồng Phối hợp PBGDPL các cấp với thành phần từ các cơ quan như lãnh đạo Ủy ban nhân dân (UBND) và Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch UBND làm Chủ tịch Hội đồng, người đứng đầu các Phòng Tư pháp cấp huyện, Sở Tư pháp cấp tỉnh làm Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng, đại diện lãnh đạo Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, các sở, ban, ngành, đoàn thể, Hội luật gia, Đoàn luật sư và Hiệp hội doanh nghiệp cùng cấp trên địa bàn tham gia. Hội đồng Phối hợp PBGDPL các cấp thực hiện chức năng tham mưu, tư vấn, chỉ đạo trong công tác PBGDPL thuộc phạm vi quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực và địa bàn dân cư; qua đó, góp phần tích cực vào việc nâng cao ý thức, chấp hành pháp luật của người dân, đưa chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn sản xuất và đời sống.

(ii) Các cơ quan tư pháp với tư cách là cơ quan thường trực Hội đồng Phối hợp PBGDPL ở các địa phương trên địa bàn vùng Tậy Nam Bộ hiện nay như: Bạc Liêu, Cần Thơ, Hậu Giang, Cà Mau... đang thực hiện đúng vai trò và trách nhiệm của mình trong việc ban hành các văn bản chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác PBGDPL, tạo sự thống nhất, đồng bộ trong triển khai thực hiện công tác PBGDPL đến người dân, tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn triển khai hoạt động theo các chương trình tuyên truyền, PBGDPL của Hội đồng Phối hợp PBGDPL các cấp, tạo sức mạnh tổng hợp cho công tác PBGDPL đến người dân trên địa bàn được triển khai ngày càng đồng bộ, kịp thời.

(iii) Nhiều ban, ngành đoàn thể, nhất là công an, quân sự, biên phòng (ở những tỉnh, thành có biên giới, hải đảo) như: Bạc Liêu, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp... đã thành lập và củng cố Hội đồng Phối hợp PBGDPL tại các cơ quan, đơn vị mình, tạo điều kiện cho hoạt động phối hợp tuyên truyền, PBGDPL trực tiếp đến cán bộ, công chức, viên chức và người dân trên địa bàn, trong đó có người dân đang sinh sống, lao động, sản xuất và công tác ở biên giới, hải đảo.

2. Xây dựng và củng cố đội ngũ báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật và người tham gia công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đến người dân

Nhiều địa phương trên địa bàn đã thực hiện rà soát, củng cố, kiện toàn đội ngũ báo cáo viên pháp luật các cấp; đồng thời, tham mưu Chủ tịch UBND các cấp có thẩm quyền ban hành quyết định công nhận, miễn nhiệm và có chế độ thích hợp đối với báo cáo viên chuyên và không chuyên pháp luật các cấp và công bố công khai, kịp thời, nhất là trên cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử của địa phương, cơ quan, đơn vị các danh mục thủ tục hành chính về lĩnh vực tuyên truyền, PBGDPL đến người dân. Theo đó:

Thứ nhất, rà soát, củng cố, kiện toàn đội ngũ báo cáo viên pháp luật các cấp là trưởng, phó các sở, ban, ngành các cấp, những người có trình độ, am hiểu pháp luật, có khả năng - kỹ năng và tâm huyết truyền đạt; động viên, giúp đỡ họ được học tập, học hỏi và thường xuyên tự học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ trong công tác tuyên truyền PBGDPL đến người dân. Đây là lực lượng nòng cốt đóng góp quan trọng trong việc nâng cao hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật đến người dân.

Thứ hai, củng cố, kiện toàn đội ngũ các cán bộ, công chức, viên chức, trợ giúp viên pháp lý và cộng tác viên trợ giúp pháp lý; các luật sư, luật gia, thẩm phán, kiểm sát viên, các chuyên gia, tập hợp những người có hiểu biết pháp luật trong hoạt động thực tiễn vào hoạt động tuyên truyền, PBGDPL đến người dân.

Thứ ba, mở rộng và thu hút đội ngũ giảng viên dạy pháp luật ở các trường đại học, cao đẳng (trong đó có Khoa Luật - Đại học Cần Thơ, Trường Cao đẳng Luật Miền Nam, Đại học Trà Vinh, Đại học Đồng Tháp và các trường chính trị ở Cần Thơ, An Giang, Đồng Tháp), đội ngũ giáo viên dạy môn giáo dục công dân của các trường trung học phổ thông; phóng viên, biên tập viên tại các báo, đài; các chức sắc tôn giáo (thông qua nêu gương, các buổi sinh hoạt tôn giáo); người có uy tín trong cộng đồng dân cư, cộng đồng dân tộc tham gia tuyên truyền, PBGDPL cho người dân.

3. Đẩy mạnh hoạt động tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, xây dựng và phát triển mô hình tiến tiến, chia sẻ kinh nghiệm, kỹ năng cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên về tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đến người dân

Nhiều địa phương vùng Tây Nam Bộ đang đẩy mạnh công tác tổ chức tập huấn nhằm thực hiện có hiệu quả Quyết định số 3147/QĐ-BTP ngày 28/12/2018 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Chương trình khung bồi dưỡng nghiệp vụ đối với báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật. Theo đó:

Thứ nhất, cơ quan tư pháp và Hội đồng Phối hợp PBGDPL các cấp như ở Bạc Liêu, An Giang, Đồng Tháp... thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức pháp luật mới cho các báo cáo viên pháp luật.

Thứ hai, các cơ quan tư pháp và Hội đồng Phối hợp PBGDPL các cấp đang đẩy mạnh các hoạt động tập huấn trang bị kỹ năng, kỹ xảo cần thiết cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên về tuyên truyền PBGDPL đến người dân, nhất là ở Bạc Liêu hiện nay.

Thứ ba, các cơ quan tư pháp và Hội đồng Phối hợp PBGDPL các cấp, như ở Bạc Liêu, Đồng Tháp... đang đẩy mạnh hoạt động tham quan, học tập các điển hình tiên tiến, chia sẻ kinh nghiệm thực tế cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên về PBGDPL đến người dân.

Thứ tư, tham khảo, học tập và nhân rộng các mô hình “Địa chỉ tin cậy”, “Tiếng loa thanh niên”, “Tổ tư vấn pháp luật”, “Câu lạc bộ gia đình hạnh phúc”, “Gia đình không bạo lực gia đình”, “Phụ nữ với an toàn giao thông”, “Phụ nữ nông thôn với pháp luật”... như ở Bạc Liêu; các mô hình “Cà phê doanh nhân”, “Phiên tòa giả định”, “Niềm tin trợ giúp”, Câu lạc bộ “3 giúp nữ công nhân nhà trọ”, “1+5” (gặp gỡ, tuyên truyền, giáo dục và cảm hóa người vi phạm pháp luật)... như ở Long An.

4. Nâng cao chất lượng công tác tham mưu, xác định nội dung pháp luật trọng tâm cần phổ biến, giáo dục pháp luật đến người dân

Thứ nhất, các cơ quan tư pháp và Hội đồng Phối hợp PBGDPL các cấp ở các địa phương vùng Tây Nam Bộ, nhất là ở Bạc Liêu đang tích cực đổi mới và nâng cao chất lượng tư vấn, định hướng về chủ đề, nội dung, hình thức PBGDPL luật gắn với công tác xây dựng, thi hành và bảo vệ pháp luật, với cải cách hành chính, cải cách tư pháp cho phù hợp với từng địa phương, đơn vị và từng giai đoạn giải quyết các nhiệm vụ chính trị của mỗi địa phương, đơn vị.

Thứ hai, nhiều địa phương đang xác định rõ trọng tâm của hoạt động PBGDPL đến người dân là các chủ trương, quan điểm, chính sách, quy định mới về cải cách hành chính, cải thiện môi trường sản xuất, đầu tư kinh doanh các chính sách, quy định pháp luật mà người dân quan tâm.

5. Tăng cường công tác tư vấn, hướng dẫn thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật cho các đối tượng đặc thù, các đề án phổ biến, giáo dục pháp luật đến người dân

Thứ nhất, nhiều địa phương trên địa bàn quan tâm lựa chọn nội dung và hình thức PBGDPL phù hợp cho các đối tượng đặc thù như: Trẻ em, người lao động trong các doanh nghiệp, người dân ven biển, ngư dân, người dân ở vùng dân tộc thiểu số; người đang chấp hành hình phạt tù, người đang bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; PBGDPL tại một số địa bàn trọng điểm về vi phạm pháp luật; một số công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị và pháp luật có liên quan trực tiếp đến người dân.

Thứ hai, một số địa phương như: Bến Tre, Bạc Liêu... đang tăng cường sự phối hợp, chủ động giữa các cơ quan, tổ chức cũng như xác định nội dung, hình thức trọng tâm trong việc thực hiện công tác PBGDPL cho đối tượng đặc thù, các đề án PBGDPL đến người dân. Các cơ quan tư pháp, Hội đồng Phối hợp PBGDPL các cấp đã tham mưu giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp mình ban hành các kế hoạch để thực hiện công tác PBGDPL đến người dân và nhất là các đề án PBGDPL đến người dân trên địa bàn.

Thứ ba, các địa phương vùng Tây Nam Bộ đều tổ chức Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam một cách thiết thực và hiệu quả với những hoạt động hưởng ứng Ngày Pháp luật, những sinh hoạt chính trị - pháp lý trong các cộng đồng dân cư (như Bạc Liêu đang xúc tiến hoạt động tư vấn, hướng dẫn về nội dung, hình thức tổ chức Ngày Pháp luật hàng tháng).

6. Tăng cường công tác kiểm tra của của các cơ quan tư pháp và Hội đồng phối hợp, tổng kết công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đến người dân

Thứ nhất, các cơ quan tư pháp và Hội đồng Phối hợp PBGDPL các cấp ở nhiều địa phương ngày càng chủ động xây dựng và thực hiện thường xuyên, nghiêm túc kế hoạch kiểm tra công tác PBGDPL trên địa bàn.

Thứ hai, các cơ quan tư pháp và Hội đồng Phối hợp PBGDPL các cấp ngày càng chủ động tổng hợp báo cáo về UBND cấp mình và Hội đồng Phối hợp PBGDPL Trung ương về công tác PBGDPL đến người dân trên địa bàn

7. Bảo đảm các nguồn kinh phí cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đến người dân

Thứ nhất, các địa phương trên địa bàn đang cố gắng cân đối bảo đảm đủ và sử dụng đúng quy định nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước cho công tác PBGDPL đến người dân.

Thứ hai, nhiều địa phương đang đẩy mạnh thực hiện xã hội hóa công tác PBGDPL đến người dân thông qua các hoạt động như: Triển khai chính sách xã hội hóa công tác PBGDPL đến người dân, từng bước thu hút các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, nghề nghiệp, doanh nghiệp... tham gia công tác PBGDPL đến người dân; huy động, khai thác các nguồn kinh phí, hỗ trợ về vật chất, tinh thần, địa điểm từ các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, nghề nghiệp, doanh nghiệp để phục vụ cho hoạt động PBGDPL đến người dân.

8. Đa dạng hóa các hình thức và nội dung hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật đến người dân

Thứ nhất, các địa phương trên địa bàn thường xuyên tổ chức các hội nghị PBGDPL đến người dân; lồng ghép nội dung PBGDPL với các hội nghị có liên quan. Thực hiện PBGDPL đến người dân thông qua các phương tiện thông tin đại chúng một cách chủ động, thường xuyên và liên tục, bảo đảm đáp ứng nhu cầu về thông tin, phổ biến các quy định pháp luật cho người dân; các hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục văn bản pháp luật (tin tức, phóng sự, câu chuyên pháp luật...) trên hệ thống phát thanh, truyền thanh, báo, đài, các trang thông tin điện tử của các cơ quan, đơn vị trên địa bàn; thông tin về những tấm gương điển hình tiên tiến, các mô hình hay trên các lĩnh vực của kinh tế, đời sống, văn hóa, xã hội, kịp thời phản ánh những mặt tiêu cực, biểu dương những gương điển hình tiên tiến trong chấp hành pháp luật để người dân học tập, làm theo và chấp hành tốt Hiến pháp, pháp luật; tổ chức tuyên truyền, phổ biến những văn bản pháp luật mới ban hành có liên quan đến quyền và lợi ích của cán bộ, Đảng viên, người dân trên các Cổng thông tin điện tử, các mạng xã hội như: Facebook, Zalo (ở những nơi có điều kiện). Đặc biệt, có địa phương còn xây dựng chương trình trả lời thư pháp luật, câu chuyện pháp luật bằng tiếng Khmer trên đài phát thanh, truyền thanh, truyền hình (như ở Trà Vinh).

Thứ hai, các địa phương đều PBGDPL thông qua tài liệu tuyên truyền pháp luật dưới dạng sách, bản tin, pano, biển áp phích, tờ rơi nội dung tuyên truyền các văn bản pháp luật có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người dân. Tăng cường PBGDPL thông qua công tác xét xử, xét xử lưu động, phiên tòa rút kinh nghiệm về hình sự, dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, hành chính nhằm nâng cao hiểu biết và kỹ năng thực hiện pháp luật cho người dân. Mở rộng các hình thức PBGDPL thông qua tổ chức hội thi tìm hiểu pháp luật cho người dân với các hình thức khác nhau.

Thứ ba, nhiều địa phương đang đẩy mạnh PBGDPL thông qua công tác hòa giải ở cơ sở. Thực hiện phổ biến thông qua công tác trợ giúp pháp lý và hoạt động của các câu lạc bộ ở những nơi có điều kiện. Đẩy mạnh Hội đồng Phối hợp PBGDPL trong các nhà trường, cơ sở đào tạo, bồi dưỡng, dạy nghề, với các hình thức và nội dung đa dạng, phong phú. Chú trọng PBGDPL về các vấn đề được dư luận xã hội quan tâm, có liên quan trực tiếp và cấp bách đến sản xuất và đời sống của người dân. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác PBGDPL đến người dân.

9. Tăng cường vai trò lãnh đạo, quản lý của các cấp ủy Đảng, chính quyền và sự tham gia của Mặt trận và các các tổ chức chính trị - xã hội trong công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đến người dân

Các địa phương trên địa bàn Tây Nam Bộ đều quan tâm, tăng cường vai trò lãnh đạo, quản lý của các cấp ủy Đảng, chính quyền và sự tham gia của Mặt trận và các các tổ chức chính trị - xã hội; vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, Đảng viên trước nhân dân; chăm lo cải thiện đời sống, nâng cao dân trí, tăng cơ hội tiếp cận pháp luật, tăng cường dân vận về pháp luật. Tăng cường kiểm tra, theo dõi tình hình tuân thủ pháp luật của người dân, xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi phạm pháp luật. Bảo đảm tuyên truyền pháp luật phù hợp đến từng nhóm đối tượng, ngắn gọn, dễ nhớ, dễ vận dụng. Tuyên truyền gương người tốt, việc tốt về pháp luật. Xây dựng tủ sách pháp luật; lồng ghép tuyên truyền, PBGDPL trong các buổi sinh hoạt cộng đồng; thực hiện phương châm “mỗi người dân là một tuyên truyền viên pháp luật” trong cộng đồng; nâng cao chất lượng dạy học pháp luật trong trường học. Thực hiện thi đua, khen thưởng, tạo điều kiện cho người dân thực hiện pháp luật. Đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng chính quyền điện tử, tạo điều kiện để người dân tiếp cận việc thực hiện và tuân thủ pháp luật thuận lợi.

Có thể nói, các giải pháp trên đây về tuyên truyền, PBGDPL cho người dân đang được đẩy mạnh thực hiện ở các địa phương vùng Tây Nam Bộ hiện nay là biểu hiện của sự quyết tâm của các cấp ủy, chính quyền, hệ thống chính trị và nhân dân trên địa bàn trong triển khai thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nhằm “Đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ,... xây dựng con người Việt Nam thời đại mới, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại”[1], góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

TS. Nguyễn Thị Tuyết Mai
Học viện Chính trị Khu vực IV

[1]. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2021, Tập 1, tr. 143.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.

Theo dõi chúng tôi trên: