Chủ nhật 16/08/2026 05:34
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thi hành án dân sự tại địa phương

Trong những năm gần đây, điều kiện kinh tế, xã hội phát triển tích cực, nhiều ngành nghề được mở ra, các loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng liên tục gia tăng. Nhu cầu về vốn của các hộ gia đình, doanh nghiệp cũng tăng theo. Giao dịch của người dân với các tổ chức tín dụng, ngân hàng ngày càng nhiều và đa dạng, đã đem lại lợi ích to lớn cho nền kinh tế nói chung, đối với người dân và các tổ chức tín dụng, ngân hàng nói riêng. Tuy nhiên, thực tế cũng phát sinh nhiều hệ lụy đối với xã hội, có những tổ chức ngân hàng vì “chạy” theo doanh thu, lợi nhuận, bất chấp các quy định của pháp luật, không tuân thủ nghiêm ngặt quy định trong quá trình thẩm định hồ sơ cho vay, khi bên vay vốn không có khả năng thanh toán, phát sinh tranh chấp giữa bên cho vay và bên vay, đương sự khởi kiện ra Tòa án. Đến giai đoạn tổ chức thi hành án dân sự, việc xử lý tài sản thế chấp rất phức tạp, kéo dài thời gian thi hành án, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự. Không chỉ

1. Thi hành án liên quan đến quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất

Thứ nhất, nhiều hợp đồng thế chấp giữa bên vay và bên cho vay là tổ chức tín dụng, ngân hàng đều chỉ căn cứ vào các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cơ quan có thẩm quyền cấp mà không tiến hành kiểm tra, thẩm định, đối chiếu với diện tích thực tế, do vậy, khi phát sinh tranh chấp ở giai đoạn thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án tiến hành đo đạc, xác định ranh giới thửa đất thì không ít trường hợp diện tích thực tế khác với diện tích được xác định trên giấy chứng nhận, khác với hợp đồng thế chấp giữa bên vay và bên cho vay. Có trường hợp thì diện tích sử dụng thực tế lớn hơn, có trường hợp nhỏ hơn diện tích ghi trên giấy chứng nhận; có trường hợp tài sản thế chấp là công trình kiến trúc trên thực tế không đúng với hợp đồng thế chấp.

Thứ hai, trường hợp tài sản thế chấp là đất sử dụng lâu dài và đất trồng cây hàng năm khác, gắn liền với công trình kiến trúc: Công trình kiến trúc xây dựng không đúng theo giấy cấp phép xây dựng hoặc ở các vùng nông thôn, các trường hợp xây dựng trước đây không cần xin cấp phép xây dựng, do vậy, nhiều trường hợp công trình xây dựng chồng lấn trên phần đất là đất trồng cây hàng năm khác hoặc không xây dựng trên phần đất được cấp sử dụng lâu dài (đất thổ cư). Tuy nhiên, hợp đồng thế chấp khi vay vốn vẫn xác định tài sản thế chấp nằm trên đất được cấp phép xây dựng, hoặc đúng trên phần đất được xác định là đất sử dụng lâu dài.

Thứ ba, trường hợp do trước đây, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà không có phương tiện máy móc chính xác để xác định ranh giới, vị trí mốc giới giữa các hộ gia đình nên nhiều trường hợp, các hộ gia đình xây dựng công trình kiên cố trên phần đất có sự chồng lấn lẫn nhau và trên thực tế vẫn sinh sống ổn định, không tranh chấp. Khi phát sinh tranh chấp giữa bên vay và bên cho vay, chấp hành viên tổ chức thi hành án, tiến hành kê biên, thẩm định giá, xác định diện tích, ranh giới thửa đất phát hiện tài sản thế chấp không đúng so với sơ đồ, trích lục thửa đất.

Từ những sai xót, vi phạm trong quá trình cấp đất, cấp phép xây dựng và hợp đồng thế chấp tài sản để vay vốn, khi phát sinh tranh chấp, đương sự khởi kiện ra Tòa, nhiều trường hợp, Tòa án cũng chỉ căn cứ vào chứng cứ do các bên đương sự cung cấp để xem xét, phán quyết, không xem xét thực tế hiện trạng tài sản thế chấp nên đến giai đoạn thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án gặp rất nhiều khó khăn khi kê biên, xử lý tài sản. Phần lớn những việc như vậy đều thuộc diện án có điều kiện thi hành nhưng lại rất khó tổ chức thi hành dứt điểm, kéo dài thời gian tổ chức thi hành án, không bảo đảm tiến độ, dẫn tới đương sự phản ánh, kiến nghị, khiếu nại đến nhiều cơ quan, ban, ngành, ảnh hưởng đến chỉ tiêu được giao đối với chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự.

2. Thi hành án liên quan đến việc xử lý một phần hai giá trị tài sản tịch thu sung vào ngân sách nhà nước và trả lại một phần hai giá trị tài sản cho người có quyền lợi liên quan

Trong một số vụ việc, vật chứng vụ án là phương tiện phạm tội. Tòa án tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước một phần hai giá trị tài sản, đồng thời, trả lại một phần hai giá trị tài sản cho người là đồng sở hữu của tài sản đó. Hiện nay, nhiều cơ quan thi hành án dân sự địa phương có những cách xử lý khác nhau và còn tồn tại những bất cập, cần có hướng dẫn để bảo đảm việc thực hiện được thống nhất, đúng quy định pháp luật, cụ thể:

Một là, đối với tài sản Tòa án tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước toàn bộ tài sản là phương tiện phạm tội thì cơ quan thi hành án dân sự chỉ cần bàn giao sang cơ quan tài chính cùng cấp, việc xử lý tài sản đó được coi là xong. Tuy nhiên, đối với tài sản Tòa án tuyên tịch thu sung vào ngân sách một phần hai giá trị, trả lại cho đồng sở hữu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự một phần hai giá trị, có những cơ quan thi hành án dân sự cũng thực hiện bàn giao sang cơ quan tài chính để xử lý. Việc xử lý tài sản này có thể kéo dài cả năm không xử lý xong, tài sản trả cho các đồng sở hữu không thực hiện được, dẫn tới nhiều việc thi hành án tồn đọng, kéo dài, ảnh hưởng đến tiến độ, chỉ tiêu được giao của chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự.

Hai là, cũng là trường hợp xử lý tài sản sung vào ngân sách nhà nước một phần hai giá trị, trả lại một phần hai giá trị cho người có quyền lợi liên quan là đồng sở hữu tài sản nhưng lại có cách xử lý khác. Chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự thực hiện ký hợp đồng với tổ chức thẩm định giá tài sản, sau đó thông báo quyền ưu tiên cho đồng sở hữu được mua tài sản đó, nếu đồng sở hữu không có nhu cầu mua tài sản chung, chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự thực hiện ký hợp đồng đối với tổ chức bán đấu giá để xử lý tài sản. Việc xử lý như vậy thì cơ quan thi hành án sẽ chủ động hơn, đẩy nhanh được tiến độ tổ chức thi hành án, song cũng còn tồn tại một số bất cập:

- Theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Thông tư số 200/2016/BTC ngày 09/11/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định việc lập, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự, kinh phí cưỡng chế thi hành án dân sự: Chi phí cho việc thẩm định giá, thẩm định giá lại tài sản, giám định tài sản, bán đấu giá tài sản… do người phải thi hành án chịu. Trên thực tế, một số tài sản có giá trị không lớn nhưng các khoản chi phí thẩm định giá, bán đấu giá lớn, thậm chí còn lớn hơn giá bán tài sản. Chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự các địa phương còn có cách áp dụng khác nhau: Có trường hợp chấp hành viên thuyết phục đồng sở hữu được trả lại một phần hai giá trị tự nguyện trả các khoản chi phí thẩm định giá, bán đấu giá nhưng không phải trường hợp nào người được nhận lại tài sản sẵn sàng chịu các khoản chi phí đó, họ cho rằng, bản thân họ là người sở hữu hợp pháp tài sản đó, họ không có nghĩa vụ phải chịu các chi phí khi cơ quan thi hành án xử lý tài sản (vì họ không phải là người phải thi hành án), khi đó thì nguồn kinh phí để xử lý tài sản lấy từ nguồn nào cũng gây rất nhiều khó khăn cho chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự.

- Đối với trường hợp như trên, có cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên vẫn tiến hành thuê tổ chức thẩm định giá, bán đấu giá tài sản để xử lý tài sản, sau đó trả lại một phần hai giá trị cho đồng sở hữu, người có quyền lợi liên quan, các chi phí thẩm định giá, bán đấu giá được lấy từ một phần hai giá trị tài sản sung vào ngân sách nhà nước, số tiền còn lại sau khi đã trừ các khoản chi phí được nộp vào ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, không phải trường hợp nào cũng thuận lợi, có những tài sản giá trị thấp, sau khi thẩm định giá, bán đấu giá, trả lại một phần hai giá trị cho người được nhận lại tài sản theo bản án, quyết định thi hành án, số tiền còn lại không đủ để trả các khoản chi phí thẩm định giá, bán đấu giá và đương nhiên cũng không còn khoản tiền để sung vào ngân sách nhà nước. Nguồn kinh phí để thuê tổ chức thẩm định giá, bán đấu giá trong những trường hợp này hiện cũng chưa có quy định cụ thể lấy từ nguồn nào, dẫn tới việc tổ chức thi hành án còn khó khăn, bất cập.

Trên đây là một số khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn của hoạt động thi hành án dân sự tại địa phương, rất mong nhận được hướng dẫn, chỉ đạo của cấp có thẩm quyền để đẩy nhanh tiến độ thi hành án, bảo đảm quyền lợi của Nhà nước, tổ chức, cá nhân, hạn chế đơn thư khiếu nại trong lĩnh vực thi hành án dân sự, góp phần ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đáp ứng yêu cầu mong đợi của xã hội./.

Trần Ngọc Bản

Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định hướng nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý tại Lạng Sơn đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Định hướng nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý tại Lạng Sơn đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Trong bối cảnh đất nước ta đang bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc với những bước chuyển dịch mang tính chiến lược, yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật gắn liền với việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân ngày càng trở nên cấp bách. Trong tiến trình đó, hoạt động trợ giúp pháp lý (TGPL) giữ vai trò nền tảng trong việc hiện thực hóa công bằng xã hội và bảo đảm quyền tiếp cận công lý bình đẳng cho mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là các đối tượng yếu thế. Để cung cấp kịp thời dịch vụ pháp lý chất lượng cho người nghèo, người thuộc diện chính sách trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh Lạng Sơn đã ban các hành kế hoạch và tổ chức triển khai các nội dung của Luật Trợ giúp pháp lý, góp phần thực hiện quyền con người, quyền công dân. Trong 06 tháng đầu năm 2026, công tác TGPL tại Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh Lạng Sơn đã đạt được những kết quả đáng kể.
Công tác phối hợp giữa Tòa án nhân dân và cơ quan thi hành án dân sự trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Công tác phối hợp giữa Tòa án nhân dân và cơ quan thi hành án dân sự trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Kỷ niệm 80 năm Ngày Truyền thống thi hành án dân sự Việt Nam (19/7/1946 - 19/7/2026) là dịp để nhìn lại chặng đường hình thành, xây dựng và phát triển của Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) - bộ phận cấu thành không thể tách rời của nền tư pháp Việt Nam. Trải qua 80 năm, Hệ thống THADS không ngừng được củng cố, hoàn thiện tổ chức bộ máy, cơ chế pháp lý, đóng góp quan trọng vào công cuộc bảo vệ công lý, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong tiến trình đó, mối quan hệ phối hợp giữa Tòa án nhân dân và các cơ quan THADS luôn giữ vai trò trung tâm, là “sợi chỉ đỏ” kết nối hoạt động xét xử với hoạt động thi hành án, bảo đảm mỗi bản án, quyết định của Tòa án không chỉ dừng lại trên văn bản mà thực sự đi vào cuộc sống, phát huy giá trị, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Đặc biệt, trong bối cảnh yêu cầu cải cách tư pháp, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế đang đặt ra ngày càng cấp thiết, việc tổng kết, phân tích công tác phối hợp giữa hai thiết chế này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc.
Đổi mới tư duy, quy trình, nâng cao chất lượng công tác hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ thi hành án dân sự phục vụ hiệu quả cho việc hoàn thành chỉ tiêu, nhiệm vụ trong kỷ nguyên mới

Đổi mới tư duy, quy trình, nâng cao chất lượng công tác hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ thi hành án dân sự phục vụ hiệu quả cho việc hoàn thành chỉ tiêu, nhiệm vụ trong kỷ nguyên mới

Trong giai đoạn hiện nay, yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải cách tư pháp, chuyển đổi số và sắp xếp, tinh, gọn tổ chức bộ máy đặt ra yêu cầu và nhiệm vụ mới đối với Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS). Theo đó, công tác hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ không chỉ giải đáp khó khăn, vướng mắc trong từng vụ việc cụ thể mà còn phải bảo đảm thống nhất nhận thức, áp dụng pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý, chỉ đạo, điều hành trong toàn Hệ thống THADS. Thực tiễn cho thấy, chất lượng công tác hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ có tác động trực tiếp đến chất lượng tổ chức thi hành án và kết quả thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao. Vì vậy, việc đổi mới tư duy, quy trình và nâng cao chất lượng công tác hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ THADS là yêu cầu cấp thiết, góp phần đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Giám định tư pháp đối với dữ liệu điện tử trong tư pháp hình sự Việt Nam

Giám định tư pháp đối với dữ liệu điện tử trong tư pháp hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Pháp luật Việt Nam ghi nhận dữ liệu điện tử là một nguồn chứng cứ trong tố tụng hình sự, đồng thời, thiết lập cơ chế giám định tư pháp nhằm phục vụ hoạt động tố tụng. Tuy nhiên, thực tiễn giám định tư pháp đối với dữ liệu điện tử trong tư pháp hình sự còn bộc lộ nhiều hạn chế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng, nghiên cứu làm rõ những bất cập, hạn chế trong hoạt động giám định tư pháp đối với dữ liệu điện tử trong tư pháp hình sự Việt Nam, từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động này trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.
Hoàn thiện cơ chế bảo đảm nguồn lực trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số từ thực tiễn Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 3 tỉnh Vĩnh Long

Hoàn thiện cơ chế bảo đảm nguồn lực trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số từ thực tiễn Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 3 tỉnh Vĩnh Long

Trong giai đoạn đất nước bước vào kỷ nguyên mới, việc tăng cường nguồn lực thực hiện trợ giúp pháp lý, đặc biệt, cho đồng bào dân tộc thiểu số là nhiệm vụ quan trọng.
Truyền thông trợ giúp pháp lý cho trẻ em qua hình thức phiên tòa giả định từ thực trạng hoạt động của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 3 tỉnh Vĩnh Long

Truyền thông trợ giúp pháp lý cho trẻ em qua hình thức phiên tòa giả định từ thực trạng hoạt động của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 3 tỉnh Vĩnh Long

Phiên tòa giả định được kỳ vọng sẽ trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực cho công tác tuyên truyền pháp luật về trợ giúp pháp lý cho trẻ em nói riêng và chính sách của Đảng, Nhà nước nói chung, góp phần xây dựng đất nước công bằng, xã hội văn minh trong kỷ nguyên mới.
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Bộ Tư pháp vững bước trong kỷ nguyên mới

Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Bộ Tư pháp vững bước trong kỷ nguyên mới

Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh Bộ Tư pháp là tổ chức cơ sở đoàn trực thuộc Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh Chính phủ, nơi hội tụ, tập hợp đội ngũ cán bộ trẻ đầy nhiệt huyết, có trình độ chuyên môn cao, hoạt động trong lĩnh vực pháp luật. Lĩnh vực pháp luật được xác định là một trong những nền tảng vững chắc để khởi tạo xã hội thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị Việt Nam trong sạch, vững mạnh, toàn diện. Qua đó, cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị làm “nòng cốt” để Nhân dân làm chủ được vận hành thông suốt, góp phần hiện thực hóa khát vọng đi lên chủ nghĩa xã hội của Nhân dân.
Vai trò và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp địa phương trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Vai trò và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp địa phương trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Trong suốt tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam, ngành Tư pháp luôn song hành cùng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ những ngày đầu thành lập Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (năm 1945) đến nay, trải qua 80 năm xây dựng và trưởng thành, ngành Tư pháp luôn khẳng định vị thế là cơ quan tham mưu nòng cốt trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, trước yêu cầu đột phá về thể chế để đất nước phát triển bền vững, vai trò của công tác tư pháp tại địa phương càng quan trọng, đặc biệt, trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Chuyển đổi số công tác tư pháp ở Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và kiến nghị

Chuyển đổi số công tác tư pháp ở Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và kiến nghị

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với sự phát triển mạnh mẽ của dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây, công nghệ chuỗi khối (blockchain)… làm thay đổi sâu sắc phương thức quản trị nhà nước và cung cấp dịch vụ công.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Công an xã ở khu vực biên giới

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Công an xã ở khu vực biên giới

Tóm tắt: Phổ biến, giáo dục pháp luật là một trong những nhiệm vụ cơ bản của quản lý nhà nước và là cầu nối giữa pháp luật với người dân. Trong giai đoạn hiện nay, khi yêu cầu về xây dựng Nhà nước pháp quyền và phát huy vai trò quản lý xã hội bằng pháp luật ngày càng cao, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của lực lượng Công an xã càng đóng vai trò quan trọng. Bài viết nghiên cứu thực trạng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của lực lượng Công an xã ở khu vực biên giới, xác định những kết quả đạt được và khó khăn, vướng mắc gặp phải. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của lực lượng Công an xã ở khu vực biên giới trong thời gian tới.
Ngành Tư pháp thành phố Huế và những đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Ngành Tư pháp thành phố Huế và những đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Trải qua 35 năm xây dựng và phát triển, cùng với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Tư pháp, Thành ủy, Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố và tinh thần trách nhiệm, đoàn kết, sáng tạo, nỗ lực, quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, toàn ngành Tư pháp thành phố Huế đã triển khai thực hiện các mục tiêu với tinh thần vào cuộc “từ sớm, từ xa”, tập trung giải quyết, xử lý kịp thời những vấn đề mới phát sinh, thực hiện tốt vai trò, nhiệm vụ “hàng rào kỹ thuật” về các vấn đề pháp lý, nhất là lĩnh vực trực tiếp gắn liền với người dân, doanh nghiệp; góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng, phát triển của thành phố Huế, ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh đóng góp quan trọng trong hành trình phát triển kinh tế - xã hội

Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh đóng góp quan trọng trong hành trình phát triển kinh tế - xã hội

Trong bức tranh tổng thể phát triển của tỉnh Hà Tĩnh, Sở Tư pháp ngày càng thể hiện rõ vai trò nòng cốt trong tham mưu xây dựng thể chế, kiến tạo hành lang pháp lý vững chắc thông qua những hoạt động chuyên môn sâu, rộng và tinh thần đổi mới sáng tạo không ngừng, góp phần quan trọng vào sự phát triển toàn diện, bền vững của địa phương.
Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của người giám định tư pháp và tổ chức giám định tư pháp đáp ứng yêu cầu thực tiễn của hoạt động tố tụng

Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của người giám định tư pháp và tổ chức giám định tư pháp đáp ứng yêu cầu thực tiễn của hoạt động tố tụng

Tóm tắt: Kết luận giám định tư pháp là một trong những nguồn chứng cứ quan trọng, được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án, vụ việc, giúp cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chứng minh tội phạm. Bài viết phân tích quy định của pháp luật và thực trạng tổ chức, hoạt động của đội ngũ giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng của đối tượng này nhằm bảo đảm tính chính xác, khách quan và hiệu quả trong hoạt động tố tụng.
Nguyên tắc áp dụng có đi có lại trong pháp luật tương trợ tư pháp và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam

Nguyên tắc áp dụng có đi có lại trong pháp luật tương trợ tư pháp và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam

Việc tương trợ tư pháp được cơ quan chức năng triển khai và áp dụng theo các điều ước quốc tế (song phương và đa phương) mà Việt Nam là thành viên, trường hợp giữa Việt Nam và nước ngoài chưa có điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp thì thực hiện trên nguyên tắc có đi có lại.
Luật áp dụng trong hoạt động tương trợ tư pháp

Luật áp dụng trong hoạt động tương trợ tư pháp

Trong hoạt động tương trợ tư pháp (TTTP) giữa các quốc gia, cơ quan nhà nước có thẩm quyền (được yêu cầu) ngoài việc áp dụng pháp luật nước mình, có phải áp dụng pháp luật nước ngoài hay không và điều kiện áp dụng ra sao là vấn đề luôn được đặt ra dưới khía cạnh tư pháp quốc tế, cũng như trong hoạt động tố tụng dân sự quốc tế nói chung.

Theo dõi chúng tôi trên: