Thứ ba 17/02/2026 03:34
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số kiến nghị sửa đổi, bổ sung Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008

Trong bài viết này, tác giả phân tích một số hạn chế của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 và đưa ra những kiến nghị sửa đổi, bổ sung.


Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 (sau đây gọi là Luật Quốc tịch) là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến quốc tịch, góp phần bảo đảm quyền con người, thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế, bảo đảm thực hiện chính sách nhân đạo và chính sách đại đoàn kết dân tộc, tăng cường sự gắn bó của cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài với quê hương, đất nước. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Luật Quốc tịch đã bộc lộ một số hạn chế nhất định, đòi hỏi phải được sửa đổi, bổ sung.

1. Những hạn chế của Luật Quốc tịch

1.1. Chưa có quy định trực tiếp bảo vệ quyền có quốc tịch của những người chưa thành niên có độ tuổi từ 16 đến dưới 18 tuổi

Luật Quốc tịch có nhiều quy định bảo vệ quyền có quốc tịch cho trẻ em (người dưới 16 tuổi)[1], nhưng hầu như không có quy định nào trực tiếp bảo vệ quyền có quốc tịch của người chưa thành niên từ 16 đến 18 tuổi. Chính vì vậy, quyền có quốc tịch của người chưa thành niên có độ tuổi từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi chưa được bảo đảm, dưới góc độ pháp lý và trên thực tế.

Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 19 Luật Quốc tịch, người không quốc tịch có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật Việt Nam (người đủ 18 tuổi trở lên) mới có thể được nhập quốc tịch Việt Nam. Như vậy, những người không quốc tịch có độ tuổi từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi không thể được nhập quốc tịch Việt Nam dù họ đủ những điều kiện khác để được nhập quốc tịch Việt Nam. Chính điều này đã dẫn đến một thực tế, có nhiều người ở độ tuổi từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi sinh sống ở Việt Nam đang ở tình trạng không quốc tịch.

1.2. Việc xác định quốc tịch Việt Nam của trẻ em sinh ra tại Việt Nam có cha, mẹ là người không quốc tịch còn gặp nhiều khó khăn

Điều 7 Công ước về quyền trẻ em năm 1989 quy định quyền có quốc tịch của trẻ em như sau:

“1. Trẻ em phải được đăng ký ngay lập tức sau khi được sinh ra và có quyền có họ tên, có quốc tịch ngay từ khi chào đời...

2. Các quốc gia thành viên phải bảo đảm việc thực hiện những quyền đó phù hợp với pháp luật quốc gia, với những nghĩa vụ của họ theo các văn kiện quốc tế có liên quan đến lĩnh vực này, đặc biệt trong trường hợp mà nếu không làm như thế thì đứa trẻ sẽ không có quốc tịch”.

Việt Nam là một trong những nước đầu tiên trên thế giới phê chuẩn Công ước về quyền trẻ em và đã thực hiện nhiều hành động thiết thực nhằm bảo vệ quyền trẻ em, trong đó có quyền có quốc tịch của trẻ em. Luật Quốc tịch có nhiều quy định bảo vệ quyền có quốc tịch cho trẻ em, trong đó có quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tạo điều kiện cho trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam đều có quốc tịch” (Điều 8).

Tuy nhiên, việc thực hiện những quy định này còn gặp nhiều khó khăn, do bị ràng buộc bởi những quy định khác của Luật Quốc tịch, đặc biệt là quy định về việc xác định quốc tịch Việt Nam của trẻ em sinh ra tại Việt Nam có cha, mẹ là người không quốc tịch. Khó khăn đó được thể hiện trong 02 trường hợp sau đây:

(i) Trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có cha mẹ đều là người không quốc tịch, nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam (khoản 1 Điều 17 Luật Quốc tịch).

(ii) Trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có mẹ là người không quốc tịch, nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam, còn cha không rõ là ai thì có quốc tịch Việt Nam (khoản 2 Điều 17 Luật Quốc tịch)

Với những quy định nêu trên, quyền có quốc tịch của trẻ em không thể đảm bảo nếu như cha và mẹ (trong trường hợp thứ nhất) hoặc mẹ (trong trường hợp thứ hai) không có nơi thường trú tại Việt Nam. Trong đó, thủ tục công nhận người không quốc tịch có nơi thường trú tại Việt Nam là rất phức tạp và kéo dài nhiều năm.

Những khó khăn nêu trên đã gián tiếp tước bỏ quyền có quốc tịch của trẻ em được quy định tại Điều 8 Luật Quốc tịch Việt Nam và Điều 7 Công ước về quyền trẻ em năm 1989.

1.3. Về sự thay đổi quốc tịch của người chưa thành niên

Khoản 1 và khoản 2 Điều 35 Luật Quốc tịch quy định:

“1. Khi có sự thay đổi về quốc tịch do nhập, trở lại hoặc thôi quốc tịch Việt Nam của cha mẹ thì quốc tịch của con chưa thành niên sinh sống cùng với cha mẹ cũng được thay đổi theo quốc tịch của họ.

2. Khi chỉ cha hoặc mẹ được nhập, trở lại hoặc thôi quốc tịch Việt Nam thì con chưa thành niên sinh sống cùng với người đó cũng có quốc tịch Việt Nam hoặc mất quốc tịch Việt Nam, nếu có sự thỏa thuận bằng văn bản của cha mẹ”.

Theo các quy định nêu trên, quốc tịch của con chưa thành niên sống cùng cha mẹ sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào sự thay đổi quốc tịch của cha mẹ. Các quy định này quá cứng nhắc và chưa tôn trọng quyền quyết định của cha mẹ cũng như quyền tự quyết của cá nhân người con chưa thành niên về quốc tịch của mình. Trong nhiều trường hợp, mặc dù cha mẹ xin thôi quốc tịch Việt Nam, nhưng họ vẫn mong muốn con chưa thành niên của họ được giữ quốc tịch Việt Nam và bản thân những người con chưa thành niên cũng mong muốn được giữ quốc tịch Việt Nam.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 35 Luật Quốc tịch người con chưa thành niên sinh sống cùng cha mẹ vẫn phải thôi quốc tịch Việt Nam nếu cha mẹ thôi quốc tịch. Bên cạnh đó, việc áp dụng khoản 1 Điều 35 Luật Quốc tịch có thể dẫn đến tình trạng những người con chưa thành niên trở thành người không quốc tịch, nếu cha mẹ họ đã thôi quốc tịch Việt Nam nhưng chưa được hoặc không được nhập được quốc tịch nước ngoài.

Đối với trường hợp chỉ có cha hoặc mẹ được nhập, trở lại hoặc thôi quốc tịch Việt Nam theo như quy định tại khoản 2 Điều 35 Luật Quốc tịch, thì quốc tịch của con chưa thành niên sẽ thay đổi theo “nếu có sự thỏa thuận bằng văn bản của cha mẹ”. Tuy nhiên, quy định này chỉ có thể thực hiện được khi cha mẹ đang trong thời kỳ hôn nhân và cùng chung sống. Bởi vì, trong trường hợp cha mẹ đã ly hôn, ly thân, thậm chí cắt đứt liên lạc, không liên hệ với nhau, không biết nơi ở của nhau... thì việc yêu cầu lấy ý kiến của cả cha và mẹ của trẻ em là rất khó thực hiện[2].

1.4. Về thời gian sống thực tế ở Việt Nam để được công nhận có quốc tịch Việt Nam

Để giải quyết vấn đề quốc tịch cho những người không quốc tịch đã cư trú ổn định, lâu dài trên lãnh thổ Việt Nam, Điều 22 Luật Quốc tịch quy định: “Người không quốc tịch mà không có đầy đủ các giấy tờ về nhân thân nhưng đã cư trú ổn định trên lãnh thổ Việt Nam từ 20 năm trở lên tính đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành và tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Việt Nam thì được nhập quốc tịch Việt Nam theo trình tự, thủ tục và hồ sơ do Chính phủ quy định”.

Đây là một quy định tiến bộ, thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với những người không quốc tịch mà không có đầy đủ các giấy tờ về nhân thân, nhưng đã cư trú ổn định trên lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên, quy định này còn có những hạn chế nhất định như sau:

Thứ nhất, thời gian 20 năm sống thực tế ở Việt Nam để được công nhận có quốc tịch Việt Nam theo quy định Luật Quốc tịch là quá dài. Tình trạng người không quốc tịch đang sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam tương đối nhiều. Hầu hết những người không quốc tịch là những người lao động phổ thông, trình độ văn hóa thấp, không còn giấy tờ tùy thân nào nên việc nhập quốc tịch theo thủ tục thông thường không thể thực hiện được. Trải qua nhiều năm cư trú, làm ăn, sinh sống ổn định trên lãnh thổ nước ta, đến nay những người này đã thực sự hòa nhập vào cộng đồng người Việt về mọi mặt đời sống. Tuy nhiên, họ phải có 20 năm sống thực tế ở Việt Nam tính đến ngày Luật Quốc tịch có hiệu lực thi hành mới có thể được công nhận có quốc tịch Việt Nam là quá dài, không chỉ gây khó khăn cho cuộc sống của họ, mà còn dẫn đến tình trạng không quốc tịch cho các con, cháu của họ.

Thứ hai, phạm vi áp dụng của quy định này rất hẹp. Quy định tại Điều 22 Luật Quốc tịch chỉ áp dụng đối với đối tượng có 20 năm sống thực tế ở Việt Nam tính đến ngày Luật Quốc tịch có hiệu lực thi hành, chứ không thể áp dụng đối với các đối tượng có 20 năm sống thực tế ở Việt Nam sau ngày Luật Quốc tịch năm 2008 có hiệu lực thi hành. Hạn chế của quy định này là làm cho tất cả các đối tượng có 20 năm trở lên sống thực tế ở Việt Nam sau ngày Luật Quốc tịch có hiệu lực thi hành không thể nhập quốc tịch Việt Nam mặc dù có thời gian rất dài sinh sống ở Việt Nam.

1.5. Một số quy định của Luật Quốc tịch chưa cụ thể, rõ ràng, khó áp dụng trên thực tế

Luật Quốc tịch năm 2008 có nhiều quy định chưa cụ thể, rõ ràng, khó áp dụng trên thực tế. Hạn chế này được thể hiện trong một số trường hợp cụ thể sau đây:

Thứ nhất, chưa có quy định cụ thể về những “trường hợp đặc biệt” để trình Chủ tịch nước cho nhập, cho trở lại quốc tịch Việt Nam mà được giữ quốc tịch nước ngoài

Theo quy định tại khoản 3 Điều 19 Luật Quốc tịch “người nhập quốc tịch Việt Nam thì phải thôi quốc tịch nước ngoài, trừ những người quy định tại khoản 2 Điều này, trong trường hợp đặc biệt, nếu được Chủ tịch nước cho phép” và theo khoản 5 Điều 23 Luật Quốc tịch “người được trở lại quốc tịch Việt Nam thì phải thôi quốc tịch nước ngoài, trừ những người sau đây, trong trường hợp đặc biệt, nếu được Chủ tịch nước cho phép”.

Tuy nhiên, Luật Quốc tịch và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Quốc tịch tại Việt Nam chưa quy định cụ thể những trường hợp nào được coi là những “trường hợp đặc biệt” để Chủ tịch nước có thể cho phép người được nhập, trở lại quốc tịch Việt Nam mà vẫn được giữ quốc tịch nước ngoài.

Đây là một trong những vướng mắc, bất cập lớn nhất khi xem xét giải quyết hồ sơ xin nhập, xin trở lại quốc tịch Việt Nam thời gian qua. Xét trên nguyên tắc một quốc tịch Việt Nam, với tư cách là cơ quan thẩm định hồ sơ xin nhập, trở lại quốc tịch Việt Nam, Bộ Tư pháp thường yêu cầu người xin nhập, xin trở lại quốc tịch Việt Nam phải thôi quốc tịch nước ngoài, trước khi trình Chủ tịch nước xem xét quyết định. Trên thực tế đã xuất hiện một số người khiếu nại Bộ Tư pháp vì cho rằng việc yêu cầu họ phải thôi quốc tịch nước ngoài là “trái quy định của Luật Quốc tịch Việt Nam”[3].

Thứ hai, chưa quy định cụ thể thủ tục công nhận quốc tịch Việt Nam của trẻ em nước ngoài sau khi được công dân Việt Nam nhận làm con nuôi

Khoản 2 Điều 37 Luật Quốc tịch quy định: “Trẻ em là người nước ngoài được công dân Việt Nam nhận làm con nuôi thì có quốc tịch Việt Nam, kể từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam công nhận việc nuôi con nuôi”.

Tuy nhiên, Luật Quốc tịch và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Quốc tịch không có quy định trình tự, thủ tục công nhận quốc tịch Việt Nam của trẻ em là người nước ngoài được công dân Việt Nam nhận làm con nuôi.

2. Một số kiến nghị sửa đổi, bổ sung Luật Quốc tịch

Từ thực trạng những hạn chế của Luật Quốc tịch nêu trên, chúng tôi đề xuất một số kiến nghị sửa đổi, bổ sung Luật như sau:

2.1. Cần có quy định trực tiếp bảo vệ quyền có quốc tịch của những người chưa thành niên có độ tuổi từ 16 đến dưới 18 tuổi

Theo quy định của Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016 thì “trẻ em là người dưới 16 tuổi”, trong đó Điều 1 Công ước về quyền trẻ em (United Nations Convention on the rights of the child - CRC) năm 1989 có quy định như sau: “Trong phạm vi của Công ước này, trẻ em có nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”[4].

Việc Luật Trẻ em năm 2016 quy định trẻ em là người dưới 16 tuổi và Luật Quốc tịch chỉ có các quy định trực tiếp bảo vệ quyền có quốc tịch của trẻ em (người dưới 16 tuổi), chứ không có các quy định trực tiếp bảo vệ quyền có quốc tịch của những người chưa thành niên có độ tuổi từ 16 đến dưới 18 tuổi, đã hạn chế quyền có quốc tịch của những người chưa thành niên có độ tuổi từ 16 đến dưới 18 tuổi. Điều này có nghĩa là đã hạn chế quyền có quốc tịch của trẻ em theo chuẩn mực quốc tế.

Để giải quyết tận gốc rễ vấn đề này, Luật Trẻ em năm 2016 cần được sửa đổi, theo đó quy định “trẻ em là người dưới 18 tuổi”. Tuy nhiên, trong lúc Luật Trẻ em năm 2016 chưa được sửa đổi, độ tuổi trẻ em chưa được nâng lên đến dưới 18 tuổi, để bảo vệ quyền có quốc tịch của tất cả những người dưới 18 tuổi, Luật Quốc tịch cần có những quy định trực tiếp bảo vệ quyền có quốc tịch của những người có độ tuổi từ 16 đến dưới 18 tuổi. Để làm được điều đó, theo ý kiến của tác giả, toàn bộ thuật ngữ “trẻ em” trong Luật Quốc tịch và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Quốc tịch cần được thay thế bằng thuật ngữ “người chưa thành niên”.

2.2. Cần tạo điều kiện dễ dàng trong việc xác định quốc tịch Việt Nam của trẻ em sinh ra tại Việt Nam có cha, mẹ là người không quốc tịch

Để tạo điều kiện dễ dàng hơn trong việc xác định quốc tịch Việt Nam của trẻ em sinh ra tại Việt Nam có cha, mẹ là người không quốc tịch, cần thay thuật ngữ “có nơi thường trú tại Việt Nam” trong Điều 17 Luật Quốc tịch bằng thuật ngữ “đã cư trú ổn định trên lãnh thổ Việt Nam”. Theo đó, Điều 17 Luật Quốc tịch cần được sửa đổi như sau:

“Điều 17. Quốc tịch của trẻ em khi sinh ra có cha mẹ là người không quốc tịch

1. Trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có cha mẹ đều là người không quốc tịch, nhưng đã cư trú ổn định trên lãnh thổ Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam.

2. Trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có mẹ là người không quốc tịch, nhưng đã cư trú ổn định trên lãnh thổ Việt Nam, còn cha không rõ là ai thì có quốc tịch Việt Nam”.

2.3. Về sự thay đổi quốc tịch của người chưa thành niên

Để bảo đảm quyền tự quyết của cha mẹ và con chưa thành niên về quốc tịch của con chưa thành niên khi có cha và mẹ thay đổi quốc tịch, cũng như tạo điều kiện dễ dàng cho việc thay đổi quốc tịch của người chưa thành niên khi có cha hoặc mẹ thay đổi quốc tịch, cần sửa đổi, bổ sung các quy định sau đây:

(i) Quy định về sự đồng ý của con chưa thành niên và sự đồng ý của cha mẹ về quốc tịch của con chưa thành niên khi cha và mẹ đều thay đổi quốc tịch.

(ii) Quy định về sự đồng ý của con chưa thành niên và cha (hoặc mẹ) đang sinh sống với con chưa thành niên về quốc tịch của con chưa thành niên khi chỉ có cha (hoặc mẹ) thay đổi quốc tịch.

Với những lập luận nêu trên, tác giả kiến nghị sửa đổi Điều 35 Luật Quốc tịch như sau:

“1. Khi có sự thay đổi về quốc tịch do nhập, trở lại hoặc thôi quốc tịch Việt Nam của cha mẹ thì quốc tịch của con chưa thành niên sinh sống cùng với cha mẹ cũng được thay đổi theo quốc tịch của cha mẹ, nếu có sự đồng ý của họ và con chưa thành niên.

2. Khi chỉ cha hoặc mẹ được nhập, trở lại hoặc thôi quốc tịch Việt Nam thì con chưa thành niên sinh sống cùng với cha hoặc mẹ cũng có quốc tịch Việt Nam hoặc mất quốc tịch Việt Nam, nếu có sự đồng ý của người đó và con chưa thành niên”.

2.4. Về thời gian sống thực tế ở Việt Nam để được công nhận có quốc tịch Việt Nam

Để tạo điều kiện cho những người không quốc tịch đã cư trú ổn định, lâu dài trên lãnh thổ Việt Nam được nhập quốc tịch Việt Nam, cần sửa đổi các quy định sau đây:

Thứ nhất, rút ngắn thời gian sống thực tế ở Việt Nam để được công nhận có quốc tịch Việt Nam. Theo tác giả, thời gian sống thực tế ở Việt Nam để được công nhận có quốc tịch Việt Nam nên được quy định là 10 năm thay cho 20 năm như trong quy định tại Điều 22 Luật Quốc tịch. Việc rút ngắn thời gian sống thực tế ở Việt Nam để được công nhận có quốc tịch Việt Nam hoàn toàn phù hợp với khuyến cáo của đại diện Cao ủy Liên Hợp Quốc về người tị nạn (UNHCR), theo đó “Việt Nam nên xem xét sửa quy định về thời gian sống thực tế ở Việt Nam để được công nhận có quốc tịch Việt Nam (hiện nay là 20 năm) rút ngắn thời gian xuống ở mức phù hợp với quy định của quốc tế”[5].

Thứ hai, mở rộng phạm vi áp dụng của Điều 22 Luật Quốc tịch. Những quy định của Điều 22 Luật Quốc tịch cần được áp dụng cho tất cả các đối tượng có thời gian sống thực tế ở Việt Nam tính đến thời điểm xin nhập quốc tịch Việt Nam, chứ không chỉ đối với những đối tượng có thời gian sống thực tế ở Việt Nam tính đến thời điểm Luật Quốc tịch có hiệu lực pháp luật.

Với những lập luận nêu trên, tác giả kiến nghị sửa đổi Điều 22 Luật Quốc tịch như sau:

“Điều 22. Trình tự, thủ tục và hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam đối với người không quốc tịch đã cư trú ổn định tại Việt Nam.

Người không quốc tịch mà không có đầy đủ các giấy tờ về nhân thân, nhưng đã cư trú ổn định trên lãnh thổ Việt Nam từ 10 năm trở lên tính đến thời điểm xin nhập quốc tịch Việt Nam và tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Việt Nam thì được nhập quốc tịch Việt Nam theo trình tự, thủ tục và hồ sơ do Chính phủ quy định”.

2.5. Một số vấn đề khác

Luật Quốc tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Quốc tịch cần được sửa đổi, bổ sung theo hướng quy định cụ thể các vấn đề sau đây:

(i) Quy định cụ thể về những “trường hợp đặc biệt” để trình Chủ tịch nước cho nhập, cho trở lại quốc tịch Việt Nam mà được giữ quốc tịch nước ngoài.

(ii) Quy định cụ thể thủ tục công nhận quốc tịch Việt Nam của trẻ em nước ngoài sau khi được công dân Việt Nam nhận làm con nuôi.

Trần Việt Dũng & Trần Thị Ngọc Thúy

Đại học Luật thuộc Đại học Huế



[1]. Theo quy định của Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016 thì “trẻ em là người dưới 16 tuổi”.

[2]. Nguyễn Toàn Thắng (2009), Các căn cứ xác định mất quốc tịch Việt Nam, Tạp chí Luật học số 6/2009, tr. 58.

[3]. Hoàng Lan (2017), Một số tồn tại, hạn chế sau thực hiện Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành, http://qtht.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/quoc-tịch.aspx?ItemID=424. Cập nhật ngày 15/3/2018.

[4]. Xem: Điều 1 Công ước về quyền trẻ em năm 1989.

[5]. Thành Thật (2017), Tìm giải pháp tháo gỡ vướng mắc quốc tịch của trẻ em, http://baophapluat.vn/tu-phap/tim-giai-phap-thao-go-vuong-mac-quoc-tịch-cua-tre-em-347004.html. Cập nhật ngày: 15/3/2018.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.

Theo dõi chúng tôi trên: