Thứ sáu 23/10/2026 06:00
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số kiến nghị sửa đổi, bổ sung Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008

Trong bài viết này, tác giả phân tích một số hạn chế của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 và đưa ra những kiến nghị sửa đổi, bổ sung.


Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 (sau đây gọi là Luật Quốc tịch) là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến quốc tịch, góp phần bảo đảm quyền con người, thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế, bảo đảm thực hiện chính sách nhân đạo và chính sách đại đoàn kết dân tộc, tăng cường sự gắn bó của cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài với quê hương, đất nước. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Luật Quốc tịch đã bộc lộ một số hạn chế nhất định, đòi hỏi phải được sửa đổi, bổ sung.

1. Những hạn chế của Luật Quốc tịch

1.1. Chưa có quy định trực tiếp bảo vệ quyền có quốc tịch của những người chưa thành niên có độ tuổi từ 16 đến dưới 18 tuổi

Luật Quốc tịch có nhiều quy định bảo vệ quyền có quốc tịch cho trẻ em (người dưới 16 tuổi)[1], nhưng hầu như không có quy định nào trực tiếp bảo vệ quyền có quốc tịch của người chưa thành niên từ 16 đến 18 tuổi. Chính vì vậy, quyền có quốc tịch của người chưa thành niên có độ tuổi từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi chưa được bảo đảm, dưới góc độ pháp lý và trên thực tế.

Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 19 Luật Quốc tịch, người không quốc tịch có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật Việt Nam (người đủ 18 tuổi trở lên) mới có thể được nhập quốc tịch Việt Nam. Như vậy, những người không quốc tịch có độ tuổi từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi không thể được nhập quốc tịch Việt Nam dù họ đủ những điều kiện khác để được nhập quốc tịch Việt Nam. Chính điều này đã dẫn đến một thực tế, có nhiều người ở độ tuổi từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi sinh sống ở Việt Nam đang ở tình trạng không quốc tịch.

1.2. Việc xác định quốc tịch Việt Nam của trẻ em sinh ra tại Việt Nam có cha, mẹ là người không quốc tịch còn gặp nhiều khó khăn

Điều 7 Công ước về quyền trẻ em năm 1989 quy định quyền có quốc tịch của trẻ em như sau:

“1. Trẻ em phải được đăng ký ngay lập tức sau khi được sinh ra và có quyền có họ tên, có quốc tịch ngay từ khi chào đời...

2. Các quốc gia thành viên phải bảo đảm việc thực hiện những quyền đó phù hợp với pháp luật quốc gia, với những nghĩa vụ của họ theo các văn kiện quốc tế có liên quan đến lĩnh vực này, đặc biệt trong trường hợp mà nếu không làm như thế thì đứa trẻ sẽ không có quốc tịch”.

Việt Nam là một trong những nước đầu tiên trên thế giới phê chuẩn Công ước về quyền trẻ em và đã thực hiện nhiều hành động thiết thực nhằm bảo vệ quyền trẻ em, trong đó có quyền có quốc tịch của trẻ em. Luật Quốc tịch có nhiều quy định bảo vệ quyền có quốc tịch cho trẻ em, trong đó có quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tạo điều kiện cho trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam đều có quốc tịch” (Điều 8).

Tuy nhiên, việc thực hiện những quy định này còn gặp nhiều khó khăn, do bị ràng buộc bởi những quy định khác của Luật Quốc tịch, đặc biệt là quy định về việc xác định quốc tịch Việt Nam của trẻ em sinh ra tại Việt Nam có cha, mẹ là người không quốc tịch. Khó khăn đó được thể hiện trong 02 trường hợp sau đây:

(i) Trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có cha mẹ đều là người không quốc tịch, nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam (khoản 1 Điều 17 Luật Quốc tịch).

(ii) Trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có mẹ là người không quốc tịch, nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam, còn cha không rõ là ai thì có quốc tịch Việt Nam (khoản 2 Điều 17 Luật Quốc tịch)

Với những quy định nêu trên, quyền có quốc tịch của trẻ em không thể đảm bảo nếu như cha và mẹ (trong trường hợp thứ nhất) hoặc mẹ (trong trường hợp thứ hai) không có nơi thường trú tại Việt Nam. Trong đó, thủ tục công nhận người không quốc tịch có nơi thường trú tại Việt Nam là rất phức tạp và kéo dài nhiều năm.

Những khó khăn nêu trên đã gián tiếp tước bỏ quyền có quốc tịch của trẻ em được quy định tại Điều 8 Luật Quốc tịch Việt Nam và Điều 7 Công ước về quyền trẻ em năm 1989.

1.3. Về sự thay đổi quốc tịch của người chưa thành niên

Khoản 1 và khoản 2 Điều 35 Luật Quốc tịch quy định:

“1. Khi có sự thay đổi về quốc tịch do nhập, trở lại hoặc thôi quốc tịch Việt Nam của cha mẹ thì quốc tịch của con chưa thành niên sinh sống cùng với cha mẹ cũng được thay đổi theo quốc tịch của họ.

2. Khi chỉ cha hoặc mẹ được nhập, trở lại hoặc thôi quốc tịch Việt Nam thì con chưa thành niên sinh sống cùng với người đó cũng có quốc tịch Việt Nam hoặc mất quốc tịch Việt Nam, nếu có sự thỏa thuận bằng văn bản của cha mẹ”.

Theo các quy định nêu trên, quốc tịch của con chưa thành niên sống cùng cha mẹ sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào sự thay đổi quốc tịch của cha mẹ. Các quy định này quá cứng nhắc và chưa tôn trọng quyền quyết định của cha mẹ cũng như quyền tự quyết của cá nhân người con chưa thành niên về quốc tịch của mình. Trong nhiều trường hợp, mặc dù cha mẹ xin thôi quốc tịch Việt Nam, nhưng họ vẫn mong muốn con chưa thành niên của họ được giữ quốc tịch Việt Nam và bản thân những người con chưa thành niên cũng mong muốn được giữ quốc tịch Việt Nam.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 35 Luật Quốc tịch người con chưa thành niên sinh sống cùng cha mẹ vẫn phải thôi quốc tịch Việt Nam nếu cha mẹ thôi quốc tịch. Bên cạnh đó, việc áp dụng khoản 1 Điều 35 Luật Quốc tịch có thể dẫn đến tình trạng những người con chưa thành niên trở thành người không quốc tịch, nếu cha mẹ họ đã thôi quốc tịch Việt Nam nhưng chưa được hoặc không được nhập được quốc tịch nước ngoài.

Đối với trường hợp chỉ có cha hoặc mẹ được nhập, trở lại hoặc thôi quốc tịch Việt Nam theo như quy định tại khoản 2 Điều 35 Luật Quốc tịch, thì quốc tịch của con chưa thành niên sẽ thay đổi theo “nếu có sự thỏa thuận bằng văn bản của cha mẹ”. Tuy nhiên, quy định này chỉ có thể thực hiện được khi cha mẹ đang trong thời kỳ hôn nhân và cùng chung sống. Bởi vì, trong trường hợp cha mẹ đã ly hôn, ly thân, thậm chí cắt đứt liên lạc, không liên hệ với nhau, không biết nơi ở của nhau... thì việc yêu cầu lấy ý kiến của cả cha và mẹ của trẻ em là rất khó thực hiện[2].

1.4. Về thời gian sống thực tế ở Việt Nam để được công nhận có quốc tịch Việt Nam

Để giải quyết vấn đề quốc tịch cho những người không quốc tịch đã cư trú ổn định, lâu dài trên lãnh thổ Việt Nam, Điều 22 Luật Quốc tịch quy định: “Người không quốc tịch mà không có đầy đủ các giấy tờ về nhân thân nhưng đã cư trú ổn định trên lãnh thổ Việt Nam từ 20 năm trở lên tính đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành và tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Việt Nam thì được nhập quốc tịch Việt Nam theo trình tự, thủ tục và hồ sơ do Chính phủ quy định”.

Đây là một quy định tiến bộ, thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với những người không quốc tịch mà không có đầy đủ các giấy tờ về nhân thân, nhưng đã cư trú ổn định trên lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên, quy định này còn có những hạn chế nhất định như sau:

Thứ nhất, thời gian 20 năm sống thực tế ở Việt Nam để được công nhận có quốc tịch Việt Nam theo quy định Luật Quốc tịch là quá dài. Tình trạng người không quốc tịch đang sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam tương đối nhiều. Hầu hết những người không quốc tịch là những người lao động phổ thông, trình độ văn hóa thấp, không còn giấy tờ tùy thân nào nên việc nhập quốc tịch theo thủ tục thông thường không thể thực hiện được. Trải qua nhiều năm cư trú, làm ăn, sinh sống ổn định trên lãnh thổ nước ta, đến nay những người này đã thực sự hòa nhập vào cộng đồng người Việt về mọi mặt đời sống. Tuy nhiên, họ phải có 20 năm sống thực tế ở Việt Nam tính đến ngày Luật Quốc tịch có hiệu lực thi hành mới có thể được công nhận có quốc tịch Việt Nam là quá dài, không chỉ gây khó khăn cho cuộc sống của họ, mà còn dẫn đến tình trạng không quốc tịch cho các con, cháu của họ.

Thứ hai, phạm vi áp dụng của quy định này rất hẹp. Quy định tại Điều 22 Luật Quốc tịch chỉ áp dụng đối với đối tượng có 20 năm sống thực tế ở Việt Nam tính đến ngày Luật Quốc tịch có hiệu lực thi hành, chứ không thể áp dụng đối với các đối tượng có 20 năm sống thực tế ở Việt Nam sau ngày Luật Quốc tịch năm 2008 có hiệu lực thi hành. Hạn chế của quy định này là làm cho tất cả các đối tượng có 20 năm trở lên sống thực tế ở Việt Nam sau ngày Luật Quốc tịch có hiệu lực thi hành không thể nhập quốc tịch Việt Nam mặc dù có thời gian rất dài sinh sống ở Việt Nam.

1.5. Một số quy định của Luật Quốc tịch chưa cụ thể, rõ ràng, khó áp dụng trên thực tế

Luật Quốc tịch năm 2008 có nhiều quy định chưa cụ thể, rõ ràng, khó áp dụng trên thực tế. Hạn chế này được thể hiện trong một số trường hợp cụ thể sau đây:

Thứ nhất, chưa có quy định cụ thể về những “trường hợp đặc biệt” để trình Chủ tịch nước cho nhập, cho trở lại quốc tịch Việt Nam mà được giữ quốc tịch nước ngoài

Theo quy định tại khoản 3 Điều 19 Luật Quốc tịch “người nhập quốc tịch Việt Nam thì phải thôi quốc tịch nước ngoài, trừ những người quy định tại khoản 2 Điều này, trong trường hợp đặc biệt, nếu được Chủ tịch nước cho phép” và theo khoản 5 Điều 23 Luật Quốc tịch “người được trở lại quốc tịch Việt Nam thì phải thôi quốc tịch nước ngoài, trừ những người sau đây, trong trường hợp đặc biệt, nếu được Chủ tịch nước cho phép”.

Tuy nhiên, Luật Quốc tịch và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Quốc tịch tại Việt Nam chưa quy định cụ thể những trường hợp nào được coi là những “trường hợp đặc biệt” để Chủ tịch nước có thể cho phép người được nhập, trở lại quốc tịch Việt Nam mà vẫn được giữ quốc tịch nước ngoài.

Đây là một trong những vướng mắc, bất cập lớn nhất khi xem xét giải quyết hồ sơ xin nhập, xin trở lại quốc tịch Việt Nam thời gian qua. Xét trên nguyên tắc một quốc tịch Việt Nam, với tư cách là cơ quan thẩm định hồ sơ xin nhập, trở lại quốc tịch Việt Nam, Bộ Tư pháp thường yêu cầu người xin nhập, xin trở lại quốc tịch Việt Nam phải thôi quốc tịch nước ngoài, trước khi trình Chủ tịch nước xem xét quyết định. Trên thực tế đã xuất hiện một số người khiếu nại Bộ Tư pháp vì cho rằng việc yêu cầu họ phải thôi quốc tịch nước ngoài là “trái quy định của Luật Quốc tịch Việt Nam”[3].

Thứ hai, chưa quy định cụ thể thủ tục công nhận quốc tịch Việt Nam của trẻ em nước ngoài sau khi được công dân Việt Nam nhận làm con nuôi

Khoản 2 Điều 37 Luật Quốc tịch quy định: “Trẻ em là người nước ngoài được công dân Việt Nam nhận làm con nuôi thì có quốc tịch Việt Nam, kể từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam công nhận việc nuôi con nuôi”.

Tuy nhiên, Luật Quốc tịch và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Quốc tịch không có quy định trình tự, thủ tục công nhận quốc tịch Việt Nam của trẻ em là người nước ngoài được công dân Việt Nam nhận làm con nuôi.

2. Một số kiến nghị sửa đổi, bổ sung Luật Quốc tịch

Từ thực trạng những hạn chế của Luật Quốc tịch nêu trên, chúng tôi đề xuất một số kiến nghị sửa đổi, bổ sung Luật như sau:

2.1. Cần có quy định trực tiếp bảo vệ quyền có quốc tịch của những người chưa thành niên có độ tuổi từ 16 đến dưới 18 tuổi

Theo quy định của Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016 thì “trẻ em là người dưới 16 tuổi”, trong đó Điều 1 Công ước về quyền trẻ em (United Nations Convention on the rights of the child - CRC) năm 1989 có quy định như sau: “Trong phạm vi của Công ước này, trẻ em có nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”[4].

Việc Luật Trẻ em năm 2016 quy định trẻ em là người dưới 16 tuổi và Luật Quốc tịch chỉ có các quy định trực tiếp bảo vệ quyền có quốc tịch của trẻ em (người dưới 16 tuổi), chứ không có các quy định trực tiếp bảo vệ quyền có quốc tịch của những người chưa thành niên có độ tuổi từ 16 đến dưới 18 tuổi, đã hạn chế quyền có quốc tịch của những người chưa thành niên có độ tuổi từ 16 đến dưới 18 tuổi. Điều này có nghĩa là đã hạn chế quyền có quốc tịch của trẻ em theo chuẩn mực quốc tế.

Để giải quyết tận gốc rễ vấn đề này, Luật Trẻ em năm 2016 cần được sửa đổi, theo đó quy định “trẻ em là người dưới 18 tuổi”. Tuy nhiên, trong lúc Luật Trẻ em năm 2016 chưa được sửa đổi, độ tuổi trẻ em chưa được nâng lên đến dưới 18 tuổi, để bảo vệ quyền có quốc tịch của tất cả những người dưới 18 tuổi, Luật Quốc tịch cần có những quy định trực tiếp bảo vệ quyền có quốc tịch của những người có độ tuổi từ 16 đến dưới 18 tuổi. Để làm được điều đó, theo ý kiến của tác giả, toàn bộ thuật ngữ “trẻ em” trong Luật Quốc tịch và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Quốc tịch cần được thay thế bằng thuật ngữ “người chưa thành niên”.

2.2. Cần tạo điều kiện dễ dàng trong việc xác định quốc tịch Việt Nam của trẻ em sinh ra tại Việt Nam có cha, mẹ là người không quốc tịch

Để tạo điều kiện dễ dàng hơn trong việc xác định quốc tịch Việt Nam của trẻ em sinh ra tại Việt Nam có cha, mẹ là người không quốc tịch, cần thay thuật ngữ “có nơi thường trú tại Việt Nam” trong Điều 17 Luật Quốc tịch bằng thuật ngữ “đã cư trú ổn định trên lãnh thổ Việt Nam”. Theo đó, Điều 17 Luật Quốc tịch cần được sửa đổi như sau:

“Điều 17. Quốc tịch của trẻ em khi sinh ra có cha mẹ là người không quốc tịch

1. Trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có cha mẹ đều là người không quốc tịch, nhưng đã cư trú ổn định trên lãnh thổ Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam.

2. Trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có mẹ là người không quốc tịch, nhưng đã cư trú ổn định trên lãnh thổ Việt Nam, còn cha không rõ là ai thì có quốc tịch Việt Nam”.

2.3. Về sự thay đổi quốc tịch của người chưa thành niên

Để bảo đảm quyền tự quyết của cha mẹ và con chưa thành niên về quốc tịch của con chưa thành niên khi có cha và mẹ thay đổi quốc tịch, cũng như tạo điều kiện dễ dàng cho việc thay đổi quốc tịch của người chưa thành niên khi có cha hoặc mẹ thay đổi quốc tịch, cần sửa đổi, bổ sung các quy định sau đây:

(i) Quy định về sự đồng ý của con chưa thành niên và sự đồng ý của cha mẹ về quốc tịch của con chưa thành niên khi cha và mẹ đều thay đổi quốc tịch.

(ii) Quy định về sự đồng ý của con chưa thành niên và cha (hoặc mẹ) đang sinh sống với con chưa thành niên về quốc tịch của con chưa thành niên khi chỉ có cha (hoặc mẹ) thay đổi quốc tịch.

Với những lập luận nêu trên, tác giả kiến nghị sửa đổi Điều 35 Luật Quốc tịch như sau:

“1. Khi có sự thay đổi về quốc tịch do nhập, trở lại hoặc thôi quốc tịch Việt Nam của cha mẹ thì quốc tịch của con chưa thành niên sinh sống cùng với cha mẹ cũng được thay đổi theo quốc tịch của cha mẹ, nếu có sự đồng ý của họ và con chưa thành niên.

2. Khi chỉ cha hoặc mẹ được nhập, trở lại hoặc thôi quốc tịch Việt Nam thì con chưa thành niên sinh sống cùng với cha hoặc mẹ cũng có quốc tịch Việt Nam hoặc mất quốc tịch Việt Nam, nếu có sự đồng ý của người đó và con chưa thành niên”.

2.4. Về thời gian sống thực tế ở Việt Nam để được công nhận có quốc tịch Việt Nam

Để tạo điều kiện cho những người không quốc tịch đã cư trú ổn định, lâu dài trên lãnh thổ Việt Nam được nhập quốc tịch Việt Nam, cần sửa đổi các quy định sau đây:

Thứ nhất, rút ngắn thời gian sống thực tế ở Việt Nam để được công nhận có quốc tịch Việt Nam. Theo tác giả, thời gian sống thực tế ở Việt Nam để được công nhận có quốc tịch Việt Nam nên được quy định là 10 năm thay cho 20 năm như trong quy định tại Điều 22 Luật Quốc tịch. Việc rút ngắn thời gian sống thực tế ở Việt Nam để được công nhận có quốc tịch Việt Nam hoàn toàn phù hợp với khuyến cáo của đại diện Cao ủy Liên Hợp Quốc về người tị nạn (UNHCR), theo đó “Việt Nam nên xem xét sửa quy định về thời gian sống thực tế ở Việt Nam để được công nhận có quốc tịch Việt Nam (hiện nay là 20 năm) rút ngắn thời gian xuống ở mức phù hợp với quy định của quốc tế”[5].

Thứ hai, mở rộng phạm vi áp dụng của Điều 22 Luật Quốc tịch. Những quy định của Điều 22 Luật Quốc tịch cần được áp dụng cho tất cả các đối tượng có thời gian sống thực tế ở Việt Nam tính đến thời điểm xin nhập quốc tịch Việt Nam, chứ không chỉ đối với những đối tượng có thời gian sống thực tế ở Việt Nam tính đến thời điểm Luật Quốc tịch có hiệu lực pháp luật.

Với những lập luận nêu trên, tác giả kiến nghị sửa đổi Điều 22 Luật Quốc tịch như sau:

“Điều 22. Trình tự, thủ tục và hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam đối với người không quốc tịch đã cư trú ổn định tại Việt Nam.

Người không quốc tịch mà không có đầy đủ các giấy tờ về nhân thân, nhưng đã cư trú ổn định trên lãnh thổ Việt Nam từ 10 năm trở lên tính đến thời điểm xin nhập quốc tịch Việt Nam và tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Việt Nam thì được nhập quốc tịch Việt Nam theo trình tự, thủ tục và hồ sơ do Chính phủ quy định”.

2.5. Một số vấn đề khác

Luật Quốc tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Quốc tịch cần được sửa đổi, bổ sung theo hướng quy định cụ thể các vấn đề sau đây:

(i) Quy định cụ thể về những “trường hợp đặc biệt” để trình Chủ tịch nước cho nhập, cho trở lại quốc tịch Việt Nam mà được giữ quốc tịch nước ngoài.

(ii) Quy định cụ thể thủ tục công nhận quốc tịch Việt Nam của trẻ em nước ngoài sau khi được công dân Việt Nam nhận làm con nuôi.

Trần Việt Dũng & Trần Thị Ngọc Thúy

Đại học Luật thuộc Đại học Huế



[1]. Theo quy định của Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016 thì “trẻ em là người dưới 16 tuổi”.

[2]. Nguyễn Toàn Thắng (2009), Các căn cứ xác định mất quốc tịch Việt Nam, Tạp chí Luật học số 6/2009, tr. 58.

[3]. Hoàng Lan (2017), Một số tồn tại, hạn chế sau thực hiện Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành, http://qtht.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/quoc-tịch.aspx?ItemID=424. Cập nhật ngày 15/3/2018.

[4]. Xem: Điều 1 Công ước về quyền trẻ em năm 1989.

[5]. Thành Thật (2017), Tìm giải pháp tháo gỡ vướng mắc quốc tịch của trẻ em, http://baophapluat.vn/tu-phap/tim-giai-phap-thao-go-vuong-mac-quoc-tịch-cua-tre-em-347004.html. Cập nhật ngày: 15/3/2018.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.

Theo dõi chúng tôi trên: