Thứ năm 11/12/2025 12:39
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số kiến nghị sửa đổi các quy định của Luật Trẻ em năm 2016 về trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn

Một số kiến nghị sửa đổi các quy định của Luật Trẻ em năm 2016 về trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn

1. Một số quy định của Luật Trẻ em năm 2016 về trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn

- Khoản 1 Điều 10 Luật Trẻ em năm 2016 quy định 14 nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trong đó có trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha mẹ hoặc không có người chăm sóc[1].

- Điều 36 Luật Trẻ em năm 2016 quy định quyền của trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn, theo đó: “Trẻ em không quốc tịch cư trú tại Việt Nam, trẻ em lánh nạn, tị nạn được bảo vệ và hỗ trợ nhân đạo, được tìm kiếm cha, mẹ, gia đình theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”[2].

- Điều 62 Luật Trẻ em năm 2016 quy định các trường hợp trẻ em cần chăm sóc thay thế, trong đó có trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha, mẹ[3].

Như vậy, theo quy định của Luật Trẻ em năm 2016, ngoài việc được hưởng mọi quyền như các trẻ em khác, trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn còn hưởng một số quyền đặc biệt khác như: Quyền được bảo vệ và hỗ trợ nhân đạo; quyền được tìm kiếm cha, mẹ, gia đình...

Những quy định của Luật Trẻ em năm 2016 về trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn là bước tiến bộ so với Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2014, thể hiện sự quan tâm của Nhà nước và xã hội đối với những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, tạo điều kiện để trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục như những trẻ em bình thường khác.

2. Một số hạn chế của Luật Trẻ em năm 2016 về trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn

Thứ nhất, chưa nêu rõ khái niệm trẻ em lánh nạn, tị nạn.

Luật Trẻ em năm 2016 chưa nêu rõ khái niệm trẻ em không có quốc tịch, nhưng Luật Quốc tịch năm 2008 có nêu rõ khái niệm người không quốc tịch (bao gồm trẻ em không quốc tịch) là “người không có quốc tịch Việt Nam và cũng không có quốc tịch nước ngoài”[4], từ đó có thể hiểu trẻ em không có quốc tịch là “trẻ em không có quốc tịch Việt Nam và cũng không có quốc tịch nước ngoài”.

Tuy nhiên, hiện nay, Luật Trẻ em năm 2016 và các văn bản quy phạm pháp luật khác của Việt Nam, đều không nêu rõ khái niệm người lánh nạn, tị nạn và sự khác biệt giữa người lánh nạn và người tị nạn. Cụm từ “trẻ em lánh nạn, tị nạn” lần đầu tiên mới được đưa vào trong một văn bản quy phạm pháp luật là Luật Trẻ em năm 2016 và chưa được quy định cụ thể, chưa nêu rõ khái niệm trẻ em lánh nạn, tị nạn, do đó, có rất nhiều người không biết được đối tượng nào được coi là trẻ em lánh nạn, tị nạn và sự khác nhau giữa trẻ em lánh nạn và trẻ em tị nạn.

Mặc dù, Nghị định số 56/2017/NĐ-CP ngày 09/5/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Trẻ em đã có quy định các trường hợp trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha, mẹ hoặc không có người chăm sóc, nhưng đã không nêu khái niệm trẻ em lánh nạn, tị nạn và phân biệt giữa trẻ em lánh nạn và trẻ em tị nạn.

Thứ hai, không quy định trẻ em không quốc tịch chưa xác định được cha, mẹ hoặc không có người chăm sóc là nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.

Điểm o khoản 1 Điều 10 Luật trẻ em năm 2016 quy định trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha, mẹ hoặc không có người chăm sóc là nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, nhưng không quy định trẻ em không quốc tịch chưa xác định được cha, mẹ hoặc không có người chăm sóc là nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Việc không quy định trẻ em không quốc tịch chưa xác định được cha, mẹ hoặc không có người chăm sóc là nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt sẽ làm cho những trẻ em này phải chịu nhiều thiệt thòi, không được bảo vệ đầy đủ như những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác.

Thứ ba, chưa quy định đầy đủ các trường hợp cần chăm sóc thay thế.

Khoản 4 Điều 62 Luật Trẻ em năm 2016 chỉ quy định trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha mẹ là trường hợp cần chăm sóc thay thế, nhưng không quy định trẻ em không quốc tịch chưa xác định được cha, mẹ là trường hợp cần chăm sóc thay thế. Như vậy, Luật Trẻ em năm 2016 chưa quy định đầy đủ các trường hợp cần chăm sóc thay thế, mà trên thực tế, trẻ em không quốc tịch chưa xác định được cha, mẹ cũng cần chăm sóc thay thế như trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha, mẹ.

Thứ tư, chưa quy định rõ ràng các trường hợp được tìm kiếm cha, mẹ, gia đình.

Điều 36 Luật Trẻ em năm 2016 quy định trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn “được tìm kiếm cha, mẹ, gia đình theo quy định của pháp luật Việt Nam và Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên” là chưa rõ ràng. Vì trên thực tế, chỉ có trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha, mẹ và gia đình mới phải tìm kiếm cha, mẹ, gia đình, còn trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn có cha, mẹ, gia đình thì không cần phải tìm kiếm cha, mẹ, gia đình.

Thứ năm, chưa quy định quyền được bảo đảm an sinh xã hội của trẻ em không có quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha mẹ hoặc không có người chăm sóc.

Theo quy định của Điều 32 Luật Trẻ em, chỉ có trẻ em là công dân Việt Nam mới được bảo đảm an sinh xã hội theo quy định của pháp luật phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội nơi trẻ em sinh sống và điều kiện của cha, mẹ hoặc người chăm sóc trẻ em. Trong lúc đó trẻ em không có quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha, mẹ hoặc không có người chăm sóc không có quyền được bảo đảm an sinh xã hội.

3. Một số kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Trẻ em năm 2016 về trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn

Một là, cần quy định rõ khái niệm trẻ em lánh nạn và trẻ em tị nạn.

Việc chưa quy định rõ khái niệm trẻ em lánh nạn và trẻ em tị nạn và sự khác nhau giữa trẻ em lánh nạn và trẻ em tị nạn sẽ gây nhiều khó khăn trong việc bảo vệ trẻ em lánh nạn và trẻ em tị nạn. Chính vì vậy, việc quy định rõ khái niệm trẻ em lánh nạn và trẻ em tị nạn trong một văn bản pháp luật là rất cần thiết, để có cơ sở bảo vệ trẻ em thuộc đối tượng này, góp phần bảo vệ quyền của trẻ em lánh nạn và trẻ em tị nạn một cách có hiệu quả.

Hiện nay, dưới góc độ luật pháp quốc tế, Công ước về vị thế của người tị nạn năm 1951 có đưa ra khái niệm người tị nạn. Theo Điều 1 Công ước về vị thế của người tị nạn năm 1951, người tị nạn là người đã rời bỏ quốc gia mà người đó có quốc tịch (hoặc người không có quốc tịch đã rời bỏ quốc gia mà trước đó họ đã từng cư trú) do sợ bị ngược đãi vì những lý do chủng tộc, tôn giáo, dân tộc, hoặc do thành viên của một nhóm xã hội cụ thể nào đó hay vì quan điểm chính trị[5].

Trong lúc chưa có chưa có văn bản pháp luật nào của Việt Nam nêu rõ khái niệm trẻ em tị nạn, chúng ta có thể sử dụng khái niệm người tị nạn được ghi nhận trong Công ước về vị thế của người tị nạn năm 1951, để xác định trẻ em tị nạn.

Tuy nhiên, Công ước về vị thế của người tị nạn năm 1951, cũng như các điều ước quốc tế khác và các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam đều không nêu rõ khái niệm người lánh nạn và trẻ em lánh nạn, do đó, chúng ta không thể xác định được trẻ em nào là trẻ em lánh nạn. Chính vì vậy, việc quy định rõ khái niệm trẻ em lánh nạn là hết sức cần thiết.

Hai là, cần quy định trẻ em không quốc tịch chưa xác định được cha, mẹ hoặc không có người chăm sóc là nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.

Trẻ em không quốc tịch chưa xác định được cha, mẹ hoặc không có người chăm sóc là trẻ em vừa không có quốc tịch Việt Nam, vừa không có quốc tịch nước ngoài. Những đứa trẻ này vừa không được hưởng đầy đủ các quyền công dân như những trẻ em có quốc tịch Việt Nam, vừa không được hưởng đầy đủ các quyền công dân như những trẻ em của bất cứ một nước nào khác. Bên cạnh đó, những trẻ em này không được được cha, mẹ và người thân chăm sóc như những trẻ em bình thường khác. Những trẻ em không quốc tịch chưa xác định được cha, mẹ hoặc không có người chăm sóc phải chịu nhiều thiệt thòi, thường phải bỏ học để kiếm sống, dễ bị tổn hại nghiêm trọng về thể chất và tinh thần do bị bạo lực, bị bóc lột; bị xâm hại tình dục…, do đó, cần được xác định trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt để được hưởng những quyền khác như trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha, mẹ hoặc không có người chăm sóc. Chính vì vậy, điểm o khoản 1 Điều 10 Luật Trẻ em năm 2016 cần được sửa đổi như sau: “… trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha, mẹ hoặc không có người chăm sóc”.

Ba là, cần quy định bổ sung thêm các đối tượng cần chăm sóc thay thế.

Khoản 4 Điều 62 Luật Trẻ em năm 2016 quy định trẻ em không quốc tịch chưa xác định được cha, mẹ không phải là trường hợp cần chăm sóc thay thế. Theo quan điểm của tác giả, cũng như trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha, mẹ, trẻ em không quốc tịch chưa xác định được cha, mẹ cần phải được chăm sóc thay thế. Tất cả các đối tượng này đều có điểm chung là không được cha, mẹ hoặc người thân chăm sóc, dạy dỗ do đó đều cần thiết được chăm sóc thay thế như nhau. Việc quy định trẻ em không quốc tịch chưa xác định được cha mẹ là trường hợp cần chăm sóc thay thế hoàn toàn phù hợp với tinh thần của khoản 3 Điều 4 Luật Trẻ em năm 2016, theo đó, trẻ em không được hoặc không thể sống cùng cha đẻ, mẹ đẻ là những đối tượng cần được chăm sóc thay thế nhằm bảo đảm sự an toàn và lợi ích tốt nhất của trẻ em. Do đó, khoản 4 Điều 62 Luật Trẻ em năm 2016 cần được sửa đổi như sau: “Trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha mẹ, gia đình”.

Bốn là, cần quy định rõ ràng các trường hợp được tìm kiếm cha, mẹ, gia đình.

Điều 36 Luật Trẻ em năm 2016 quy định trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn “được tìm kiếm cha, mẹ, gia đình theo quy định của pháp luật Việt Nam và Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên” là chưa rõ ràng, chưa nêu rõ những trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn nào cần tìm kiếm cha, mẹ, gia đình. Vì trong thực tế, những trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn đã xác định được cha mẹ, gia đình thì không cần tìm kiếm cha, mẹ, gia đình. Do đó, Điều 36 Luật Trẻ em năm 2016 cần được sửa đổi như sau:

“Điều 36. Quyền của trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn

Trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn được bảo vệ và hỗ trợ nhân đạo; trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha mẹ, gia đình được tìm kiếm cha, mẹ, gia đình theo quy định của pháp luật Việt Nam và Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”.

Năm là, bổ sung quyền được bảo đảm an sinh xã hội cho trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha, mẹ hoặc không có người chăm sóc.

Trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha, mẹ hoặc không có người chăm sóc là những đối tượng chịu nhiều thiệt thòi về vật chất và tinh thần, không có điều kiện lao động để bảo đảm cuộc sống tối thiểu của mình. Những trẻ em này luôn có nguy cơ thiếu thốn các nhu cầu thiết yếu của cuộc sống, đau ốm, đói rét, không chỗ ở... Do đó, các em cần được bảo đảm an sinh xã hội, được cứu trợ trong những trường hợp khẩn cấp, được trợ cấp những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống như: Thực phẩm, quần áo, nhà ở, giáo dục, tiềnchăm sóc y tế. Việc bổ sung quyền được bảo đảm an sinh xã hội cho trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha mẹ hoặc không có người chăm sóc trong Luật Trẻ em là rất cần thiết, góp phần bảo vệ những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, đồng thời, thể hiện tính nhân đạo của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam./.

ThS. Trần Việt Dũng & ThS. Trần Ngọc Thúy

Trường Đại học Luật - Đại học Huế


[1] Xem: Điểm o khoản 1 Điều 10 Luật Trẻ em năm 2016.

[2] Xem: Điều 36 Luật Trẻ em năm 2016.

[3] Xem: Khoản 4 Điều 62 Luật Trẻ em năm 2016.

[4] Xem: Khoản 2 Điều 3 Luật Quốc tịch năm 2008.

[5] Xem: Điều 1 Công ước về vị thế của người tị nạn năm 1951.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.
Trách nhiệm pháp lý của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Trách nhiệm pháp lý của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Tóm tắt: Bài viết phân tích, làm rõ khái niệm người có ảnh hưởng, tình hình thực tiễn về mô hình quảng cáo thông qua người có ảnh hưởng và các hành vi quảng cáo gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người tiêu dùng. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Phát huy vai trò và trách nhiệm của thanh niên trong việc hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò và trách nhiệm của thanh niên trong việc hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới với những yêu cầu đặt ra về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng như yêu cầu tháo gỡ những “điểm nghẽn”, “nút thắt” có nguyên nhân từ quy định của pháp luật hiện nay, việc hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật về thi hành án dân sự nói riêng là cấp thiết, đặc biệt, dự án Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi) dự kiến được Quốc hội khóa XV thông qua tại kỳ họp thứ 10 vào tháng 10/2025. Trước bối cảnh đó, với vai trò là trụ cột, là nguồn lực chủ yếu để xây dựng và phát triển lực lượng sản xuất mới, đồng thời là đội ngũ tiên phong tham gia các lĩnh vực mới, thanh niên ngành thi hành án dân sự cần tiếp tục phát huy vai trò và trách nhiệm trong việc tham gia vào công tác hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự.
Hoạt động giám sát của Quốc hội trong thực hiện điều ước quốc tế - Một số tồn tại, hạn chế và kiến nghị, đề xuất hoàn thiện

Hoạt động giám sát của Quốc hội trong thực hiện điều ước quốc tế - Một số tồn tại, hạn chế và kiến nghị, đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá một số tồn tại, hạn chế trong hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam đối với việc thực hiện điều ước quốc tế, từ đó, đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp luật, bảo đảm công tác giám sát thực hiện điều ước quốc tế ngày càng đi vào thực chất, hiệu quả.

Theo dõi chúng tôi trên: