Thứ tư 26/08/2026 01:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số kiến nghị sửa đổi các quy định của Luật Trẻ em năm 2016 về trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn

Một số kiến nghị sửa đổi các quy định của Luật Trẻ em năm 2016 về trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn

1. Một số quy định của Luật Trẻ em năm 2016 về trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn

- Khoản 1 Điều 10 Luật Trẻ em năm 2016 quy định 14 nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trong đó có trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha mẹ hoặc không có người chăm sóc[1].

- Điều 36 Luật Trẻ em năm 2016 quy định quyền của trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn, theo đó: “Trẻ em không quốc tịch cư trú tại Việt Nam, trẻ em lánh nạn, tị nạn được bảo vệ và hỗ trợ nhân đạo, được tìm kiếm cha, mẹ, gia đình theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”[2].

- Điều 62 Luật Trẻ em năm 2016 quy định các trường hợp trẻ em cần chăm sóc thay thế, trong đó có trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha, mẹ[3].

Như vậy, theo quy định của Luật Trẻ em năm 2016, ngoài việc được hưởng mọi quyền như các trẻ em khác, trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn còn hưởng một số quyền đặc biệt khác như: Quyền được bảo vệ và hỗ trợ nhân đạo; quyền được tìm kiếm cha, mẹ, gia đình...

Những quy định của Luật Trẻ em năm 2016 về trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn là bước tiến bộ so với Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2014, thể hiện sự quan tâm của Nhà nước và xã hội đối với những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, tạo điều kiện để trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục như những trẻ em bình thường khác.

2. Một số hạn chế của Luật Trẻ em năm 2016 về trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn

Thứ nhất, chưa nêu rõ khái niệm trẻ em lánh nạn, tị nạn.

Luật Trẻ em năm 2016 chưa nêu rõ khái niệm trẻ em không có quốc tịch, nhưng Luật Quốc tịch năm 2008 có nêu rõ khái niệm người không quốc tịch (bao gồm trẻ em không quốc tịch) là “người không có quốc tịch Việt Nam và cũng không có quốc tịch nước ngoài”[4], từ đó có thể hiểu trẻ em không có quốc tịch là “trẻ em không có quốc tịch Việt Nam và cũng không có quốc tịch nước ngoài”.

Tuy nhiên, hiện nay, Luật Trẻ em năm 2016 và các văn bản quy phạm pháp luật khác của Việt Nam, đều không nêu rõ khái niệm người lánh nạn, tị nạn và sự khác biệt giữa người lánh nạn và người tị nạn. Cụm từ “trẻ em lánh nạn, tị nạn” lần đầu tiên mới được đưa vào trong một văn bản quy phạm pháp luật là Luật Trẻ em năm 2016 và chưa được quy định cụ thể, chưa nêu rõ khái niệm trẻ em lánh nạn, tị nạn, do đó, có rất nhiều người không biết được đối tượng nào được coi là trẻ em lánh nạn, tị nạn và sự khác nhau giữa trẻ em lánh nạn và trẻ em tị nạn.

Mặc dù, Nghị định số 56/2017/NĐ-CP ngày 09/5/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Trẻ em đã có quy định các trường hợp trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha, mẹ hoặc không có người chăm sóc, nhưng đã không nêu khái niệm trẻ em lánh nạn, tị nạn và phân biệt giữa trẻ em lánh nạn và trẻ em tị nạn.

Thứ hai, không quy định trẻ em không quốc tịch chưa xác định được cha, mẹ hoặc không có người chăm sóc là nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.

Điểm o khoản 1 Điều 10 Luật trẻ em năm 2016 quy định trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha, mẹ hoặc không có người chăm sóc là nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, nhưng không quy định trẻ em không quốc tịch chưa xác định được cha, mẹ hoặc không có người chăm sóc là nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Việc không quy định trẻ em không quốc tịch chưa xác định được cha, mẹ hoặc không có người chăm sóc là nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt sẽ làm cho những trẻ em này phải chịu nhiều thiệt thòi, không được bảo vệ đầy đủ như những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác.

Thứ ba, chưa quy định đầy đủ các trường hợp cần chăm sóc thay thế.

Khoản 4 Điều 62 Luật Trẻ em năm 2016 chỉ quy định trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha mẹ là trường hợp cần chăm sóc thay thế, nhưng không quy định trẻ em không quốc tịch chưa xác định được cha, mẹ là trường hợp cần chăm sóc thay thế. Như vậy, Luật Trẻ em năm 2016 chưa quy định đầy đủ các trường hợp cần chăm sóc thay thế, mà trên thực tế, trẻ em không quốc tịch chưa xác định được cha, mẹ cũng cần chăm sóc thay thế như trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha, mẹ.

Thứ tư, chưa quy định rõ ràng các trường hợp được tìm kiếm cha, mẹ, gia đình.

Điều 36 Luật Trẻ em năm 2016 quy định trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn “được tìm kiếm cha, mẹ, gia đình theo quy định của pháp luật Việt Nam và Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên” là chưa rõ ràng. Vì trên thực tế, chỉ có trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha, mẹ và gia đình mới phải tìm kiếm cha, mẹ, gia đình, còn trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn có cha, mẹ, gia đình thì không cần phải tìm kiếm cha, mẹ, gia đình.

Thứ năm, chưa quy định quyền được bảo đảm an sinh xã hội của trẻ em không có quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha mẹ hoặc không có người chăm sóc.

Theo quy định của Điều 32 Luật Trẻ em, chỉ có trẻ em là công dân Việt Nam mới được bảo đảm an sinh xã hội theo quy định của pháp luật phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội nơi trẻ em sinh sống và điều kiện của cha, mẹ hoặc người chăm sóc trẻ em. Trong lúc đó trẻ em không có quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha, mẹ hoặc không có người chăm sóc không có quyền được bảo đảm an sinh xã hội.

3. Một số kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Trẻ em năm 2016 về trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn

Một là, cần quy định rõ khái niệm trẻ em lánh nạn và trẻ em tị nạn.

Việc chưa quy định rõ khái niệm trẻ em lánh nạn và trẻ em tị nạn và sự khác nhau giữa trẻ em lánh nạn và trẻ em tị nạn sẽ gây nhiều khó khăn trong việc bảo vệ trẻ em lánh nạn và trẻ em tị nạn. Chính vì vậy, việc quy định rõ khái niệm trẻ em lánh nạn và trẻ em tị nạn trong một văn bản pháp luật là rất cần thiết, để có cơ sở bảo vệ trẻ em thuộc đối tượng này, góp phần bảo vệ quyền của trẻ em lánh nạn và trẻ em tị nạn một cách có hiệu quả.

Hiện nay, dưới góc độ luật pháp quốc tế, Công ước về vị thế của người tị nạn năm 1951 có đưa ra khái niệm người tị nạn. Theo Điều 1 Công ước về vị thế của người tị nạn năm 1951, người tị nạn là người đã rời bỏ quốc gia mà người đó có quốc tịch (hoặc người không có quốc tịch đã rời bỏ quốc gia mà trước đó họ đã từng cư trú) do sợ bị ngược đãi vì những lý do chủng tộc, tôn giáo, dân tộc, hoặc do thành viên của một nhóm xã hội cụ thể nào đó hay vì quan điểm chính trị[5].

Trong lúc chưa có chưa có văn bản pháp luật nào của Việt Nam nêu rõ khái niệm trẻ em tị nạn, chúng ta có thể sử dụng khái niệm người tị nạn được ghi nhận trong Công ước về vị thế của người tị nạn năm 1951, để xác định trẻ em tị nạn.

Tuy nhiên, Công ước về vị thế của người tị nạn năm 1951, cũng như các điều ước quốc tế khác và các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam đều không nêu rõ khái niệm người lánh nạn và trẻ em lánh nạn, do đó, chúng ta không thể xác định được trẻ em nào là trẻ em lánh nạn. Chính vì vậy, việc quy định rõ khái niệm trẻ em lánh nạn là hết sức cần thiết.

Hai là, cần quy định trẻ em không quốc tịch chưa xác định được cha, mẹ hoặc không có người chăm sóc là nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.

Trẻ em không quốc tịch chưa xác định được cha, mẹ hoặc không có người chăm sóc là trẻ em vừa không có quốc tịch Việt Nam, vừa không có quốc tịch nước ngoài. Những đứa trẻ này vừa không được hưởng đầy đủ các quyền công dân như những trẻ em có quốc tịch Việt Nam, vừa không được hưởng đầy đủ các quyền công dân như những trẻ em của bất cứ một nước nào khác. Bên cạnh đó, những trẻ em này không được được cha, mẹ và người thân chăm sóc như những trẻ em bình thường khác. Những trẻ em không quốc tịch chưa xác định được cha, mẹ hoặc không có người chăm sóc phải chịu nhiều thiệt thòi, thường phải bỏ học để kiếm sống, dễ bị tổn hại nghiêm trọng về thể chất và tinh thần do bị bạo lực, bị bóc lột; bị xâm hại tình dục…, do đó, cần được xác định trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt để được hưởng những quyền khác như trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha, mẹ hoặc không có người chăm sóc. Chính vì vậy, điểm o khoản 1 Điều 10 Luật Trẻ em năm 2016 cần được sửa đổi như sau: “… trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha, mẹ hoặc không có người chăm sóc”.

Ba là, cần quy định bổ sung thêm các đối tượng cần chăm sóc thay thế.

Khoản 4 Điều 62 Luật Trẻ em năm 2016 quy định trẻ em không quốc tịch chưa xác định được cha, mẹ không phải là trường hợp cần chăm sóc thay thế. Theo quan điểm của tác giả, cũng như trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha, mẹ, trẻ em không quốc tịch chưa xác định được cha, mẹ cần phải được chăm sóc thay thế. Tất cả các đối tượng này đều có điểm chung là không được cha, mẹ hoặc người thân chăm sóc, dạy dỗ do đó đều cần thiết được chăm sóc thay thế như nhau. Việc quy định trẻ em không quốc tịch chưa xác định được cha mẹ là trường hợp cần chăm sóc thay thế hoàn toàn phù hợp với tinh thần của khoản 3 Điều 4 Luật Trẻ em năm 2016, theo đó, trẻ em không được hoặc không thể sống cùng cha đẻ, mẹ đẻ là những đối tượng cần được chăm sóc thay thế nhằm bảo đảm sự an toàn và lợi ích tốt nhất của trẻ em. Do đó, khoản 4 Điều 62 Luật Trẻ em năm 2016 cần được sửa đổi như sau: “Trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha mẹ, gia đình”.

Bốn là, cần quy định rõ ràng các trường hợp được tìm kiếm cha, mẹ, gia đình.

Điều 36 Luật Trẻ em năm 2016 quy định trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn “được tìm kiếm cha, mẹ, gia đình theo quy định của pháp luật Việt Nam và Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên” là chưa rõ ràng, chưa nêu rõ những trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn nào cần tìm kiếm cha, mẹ, gia đình. Vì trong thực tế, những trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn đã xác định được cha mẹ, gia đình thì không cần tìm kiếm cha, mẹ, gia đình. Do đó, Điều 36 Luật Trẻ em năm 2016 cần được sửa đổi như sau:

“Điều 36. Quyền của trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn

Trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn được bảo vệ và hỗ trợ nhân đạo; trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha mẹ, gia đình được tìm kiếm cha, mẹ, gia đình theo quy định của pháp luật Việt Nam và Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”.

Năm là, bổ sung quyền được bảo đảm an sinh xã hội cho trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha, mẹ hoặc không có người chăm sóc.

Trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha, mẹ hoặc không có người chăm sóc là những đối tượng chịu nhiều thiệt thòi về vật chất và tinh thần, không có điều kiện lao động để bảo đảm cuộc sống tối thiểu của mình. Những trẻ em này luôn có nguy cơ thiếu thốn các nhu cầu thiết yếu của cuộc sống, đau ốm, đói rét, không chỗ ở... Do đó, các em cần được bảo đảm an sinh xã hội, được cứu trợ trong những trường hợp khẩn cấp, được trợ cấp những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống như: Thực phẩm, quần áo, nhà ở, giáo dục, tiềnchăm sóc y tế. Việc bổ sung quyền được bảo đảm an sinh xã hội cho trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha mẹ hoặc không có người chăm sóc trong Luật Trẻ em là rất cần thiết, góp phần bảo vệ những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, đồng thời, thể hiện tính nhân đạo của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam./.

ThS. Trần Việt Dũng & ThS. Trần Ngọc Thúy

Trường Đại học Luật - Đại học Huế


[1] Xem: Điểm o khoản 1 Điều 10 Luật Trẻ em năm 2016.

[2] Xem: Điều 36 Luật Trẻ em năm 2016.

[3] Xem: Khoản 4 Điều 62 Luật Trẻ em năm 2016.

[4] Xem: Khoản 2 Điều 3 Luật Quốc tịch năm 2008.

[5] Xem: Điều 1 Công ước về vị thế của người tị nạn năm 1951.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Theo dõi chúng tôi trên: