Thứ tư 24/06/2026 06:07
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số kiến nghị về dự thảo Luật Phí và lệ phí

Dự thảo Luật Phí và lệ phí (sau đây gọi là dự thảo Luật) tác động, liên quan trực tiếp đến lợi ích của người dân, bởi lẽ, họ là một chủ thể nộp phí và lệ phí khi được cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp các dịch vụ, thực hiện công việc mà pháp luật quy định được thu phí, lệ phí trong danh mục phí, lệ phí do pháp luật quy định.

Phí và lệ phí là các vấn đề luôn thu hút được sự quan tâm của dư luận xã hội và người dân trong bối cảnh không ít các địa phương đưa ra quá nhiều các khoản thu phí, lệ phí (đặc biệt là ở khu vực nông thôn) khiến người dân rất bức xúc. Việc xây dựng, ban hành một đạo luật về vấn đề này khiến người dân tin tưởng tình trạng lạm thu các khoản phí, lệ phí sẽ chấm dứt. Để góp phần hoàn thiện và nâng cao chất lượng của pháp luật về phí và lệ phí, bài viết này đưa ra những góp ý về một số nội dung quy định của dự thảo Luật Phí và lệ phí. Những góp ý chỉ là quan điểm cá nhân của các tác giả nhằm cung cấp thêm thông tin đa chiều để Ban soạn thảo cân nhắc và xem xét...

Dự thảo Luật Phí và lệ phí (sau đây gọi là dự thảo Luật) tác động, liên quan trực tiếp đến lợi ích của người dân, bởi lẽ, họ là một chủ thể nộp phí và lệ phí khi được cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp các dịch vụ, thực hiện công việc mà pháp luật quy định được thu phí, lệ phí trong danh mục phí, lệ phí do pháp luật quy định. Để nâng cao chất lượng dự thảo Luật, chúng tôi có một số ý kiến đóng góp về các nội dung sau đây:

1. Chương I: Những quy định chung

1.1. Góp ý về phạm vi điều chỉnh (Điều 1)

Điều 1 dự thảo Luật quy định: “Luật này quy định về danh mục phí, lệ phí; người nộp phí, lệ phí; tổ chức thu phí, lệ phí; nguyên tắc xác định mức thu; miễn, giảm, chế độ thu, nộp, quản lý, sử dụng phí, lệ phí; thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức trong quản lý phí, lệ phí”.

Chúng tôi cho rằng cần bổ sung vào nội dung Điều 1 dự thảo Luật một số vấn đề cụ thể sau:

Thứ nhất, quy định về quyền và nghĩa vụ của người nộp phí, lệ phí; bởi lẽ, Luật phí và lệ phí điều chỉnh nhóm các quan hệ xã hội về thu và nộp phí, lệ phí phát sinh giữa người nộp phí, lệ phí và cơ quan, tổ chức thu phí, lệ phí. Đây là mối quan hệ tương tác giữa hai chủ thể này. Vì vậy, dự thảo Luật quy định thẩm quyền và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức thu phí và lệ phí mà không quy định quyền và nghĩa vụ của người nộp phí, lệ phí là không tương thích, không bình đẳng về địa vị pháp lý trong quan hệ thu nộp phí, lệ phí. Người nộp phí, lệ phí có quyền được biết khoản tiền phí, lệ phí mà mình nộp được quản lý ra sao, sử dụng như thế nào; có sử dụng đúng mục đích mà pháp luật quy định không .... Đây là quyền lợi chính đáng của người nộp phí, lệ phí và cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình” (Điều 25). Hơn nữa, nếu không đề cập quyền và nghĩa vụ của người nộp phí, lệ phí vào nội dung Điều 1 sẽ dễ làm cho mọi người khi tìm hiểu điều luật này lầm tưởng rằng, việc quy định về phí và lệ phí mang tính áp đặt từ ý chí chủ quan của Nhà nước và dự thảo Luật được soạn thảo nhằm phục vụ sự quản lý của các cơ quan nhà nước hơn là chú trọng bảo vệ lợi ích của người dân.

Mặt khác, Điều 14 quy định trách nhiệm, quyền hạn của người nộp phí, lệ phí song tại Điều 1 về phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật lại không đưa nội dung này vào phạm vi điều chỉnh thì đây là sự bất hợp lý, bất tương thích.

Thứ hai, bổ sung cụm từ “thu nộp vào ngân sách nhà nước” sau cụm từ “danh mục phí, lệ phí” nhằm làm rõ hơn phạm vi điều chỉnh và phân biệt với các khoản thu mang tính chất dân sự như thu các loại quỹ do nhân dân tự nguyện đóng góp theo thỏa thuận hoặc theo biên bản ghi nhận sự tự nguyên đóng góp của hội nghị thôn, tổ dân phố như đóng góp quỹ xây dựng nhà văn hóa cộng đồng, xây dựng đình, chùa... Như vậy, Điều 1 của dự thảo Luật được sửa đổi, bổ sung như sau:

Dự thảo Luật Phí và lệ phí

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

“Luật này quy định về Danh mục phí, lệ phí; người nộp phí, lệ phí; tổ chức thu phí, lệ phí; nguyên tắc xác định mức thu; miễn, giảm, chế độ thu, nộp, quản lý, sử dụng phí, lệ phí; thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức trong quản lý phí, lệ phí”.

Dự thảo Luật Phí và lệ phí sau khi được góp ý kiến

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

“Luật này quy định về Danh mục phí, lệ phí thu nộp vào ngân sách nhà nước; người nộp phí, lệ phí; tổ chức thu phí, lệ phí; nguyên tắc xác định mức thu; miễn, giảm, chế độ thu, nộp, quản lý, sử dụng phí, lệ phí; quyền và nghĩa vụ của người nộp phí, lệ phí[1]; thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức trong quản lý phí, lệ phí”.

1.2. Gộp Điều 4 và Điều 5 vào nội dung Điều 6 - Giải thích từ ngữ

Nội dung Điều 4 và Điều 5 đề cập thế nào là người nộp phí, lệ phí và thế nào là tổ chức thu phí, lệ phí. Chúng tôi cho rằng, hai điều luật này dường như thuần túy giải thích về người nộp phí, lệ phí và tổ chức thu phí, lệ phí. Do vậy, nội dung Điều 4 và Điều 5 nên đưa vào Điều 6. Giải thích từ ngữ sẽ hợp lý hơn. Như vậy, Điều 6 dự thảo Luật được sửa đổi, bổ sung như sau:

Dự thảo Luật phí và lệ phí

Điều 6. Giải thích từ ngữ

“Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả khi được cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập (hoặc tổ chức được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao) cung cấp dịch vụ, được quy định trong Danh mục phí ban hành kèm theo Luật này.

2. Lệ phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quan hành chính nhà nước phục vụ công việc quản lý nhà nước, được quy định trong Danh mục lệ phí ban hành kèm theo Luật này”.

Dự thảo Luật Phí và lệ phí sau khi được góp ý kiến

Điều 6. Giải thích từ ngữ

“Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả khi được cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập (hoặc tổ chức được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao) cung cấp dịch vụ, được quy định trong Danh mục phí ban hành kèm theo Luật này.

2. Lệ phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quan hành chính nhà nước phục vụ công việc quản lý nhà nước, được quy định trong Danh mục lệ phí ban hành kèm theo Luật này.

3. Người nộp phí, lệ phí là các tổ chức, cá nhân được cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập (hoặc tổ chức được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao) cung cấp dịch vụ, thực hiện công việc mà pháp luật quy định được thu phí, lệ phí trong Danh mục phí, lệ phí ban hành kèm theo Luật này.

4. Tổ chức thu phí, lệ phí, bao gồm: Cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập (hoặc tổ chức được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao) cung cấp dịch vụ, thực hiện công việc mà pháp luật quy định được thu phí, lệ phí”.

2. Chương II: Nguyên tắc xác định mức thu, miễn, giảm phí, lệ phí

2.1. Góp ý về Điều 7 và Điều 8

- Nội dung Điều 7, Điều 8 và Điều 9 Chương II quy định nguyên tắc chung trong xác định mức thu, miễn, giảm phí, lệ phí. Việc quy định chi tiết nguyên tắc xác định mức thu phí, lệ phí được giao cho Chính phủ[2]. Do đó, nên đưa các điều này vào nội dung Chương I sẽ phù hợp hơn.

- Cần bổ sung nội dung “phù hợp với khả năng tài chính và thu nhập của người nộp phí, lệ phí” vào nguyên tắc xác định mức thu phí (Điều 7), mức thu lệ phí (Điều 8), bởi lẽ, trên thực tế có những khoản lệ phí mà mức nộp với số tiền không hề nhỏ như lệ phí trước bạ nhà, đất; lệ phí đăng ký ô tô v.v. Nếu việc xác định mức thu phí và lệ phí với số tiền vượt khả năng tài chính, thu nhập của người nộp thì sẽ không khuyến khích, động viên họ tự giác thực hiện nghĩa vụ tài chính này vào ngân sách nhà nước. Với lý lẽ trên, nội dung các Điều 7 và Điều 8 dự thảo Luật được sửa đổi, bổ sung như sau:

Dự thảo Luật phí và lệ phí

Điều 7. Nguyên tắc xác định mức thu phí

“Mức thu phí được xác định đảm bảo bù đắp chi phí, có lợi nhuận phù hợp và tính đến chính sách của Nhà nước trong từng thời kỳ”.

Điều 8. Nguyên tắc xác định mức thu lệ phí

“Mức thu lệ phí được ấn định trước đối với từng công việc, không nhằm mục đích bù đắp chi phí; riêng mức thu lệ phí trước bạ được tính bằng tỷ lệ phần trăm trên giá trị tài sản trước bạ”.

Dự thảo Luật phí và lệ phí sau khi được góp ý kiến

Điều 7. Nguyên tắc xác định mức thu phí

“Mức thu phí được xác định đảm bảo bù đắp chi phí, có lợi nhuận phù hợp và tính đến chính sách của Nhà nước trong từng thời kỳ; phù hợp với khả năng tài chính và thu nhập của người nộp phí”.

Điều 8. Nguyên tắc xác định mức thu lệ phí

“Mức thu lệ phí được ấn định trước đối với từng công việc, không nhằm mục đích bù đắp chi phí; phù hợp với khả năng tài chính và thu nhập của người nộp lệ phí; riêng mức thu lệ phí trước bạ được tính bằng tỷ lệ phần trăm trên giá trị tài sản trước bạ”.

2.2. Góp ý về Điều 9

Điều 9 quy định các đối tượng được miễn, giảm phí, lệ phí; theo đó, trẻ em, hộ nghèo, người cao tuổi, người khuyết tật, người có công với cách mạng thuộc đối tượng miễn, giảm phí, lệ phí. Để có cách hiểu thống nhất và tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng việc miễn, giảm phí, lệ phí đối với hộ nghèo, người khuyết tật, người có công với cách mạng thì cần bổ sung vào Điều 6 giải thích từ ngữ về giải thích thuật ngữ đối với các đối tượng này.

3. Chương IV: Trách nhiệm của tổ chức thu và người nộp phí, lệ phí

Thứ nhất, tên Chương IV có phạm vi hẹp hơn so với nội dung của Điều 14 và chưa tương thích với nội dung các điều trong chương. Chương IV với tên gọi là trách nhiệm của tổ chức thu và người nộp phí, lệ phí. Như vậy, Chương này chỉ đề cập trách nhiệm của tổ chức thu và người nộp phí, lệ phí mà không đề cập đến quyền hạn của người nộp phí, lệ phí. Trong khi đó, Điều 14 lại quy định trách nhiệm, quyền hạn của người nộp phí, lệ phí. Để đảm bảo đúng kỹ thuật soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật và đảm bảo sự tương thích, rõ ràng hơn giữa tên chương với nội dung các điều luật của chương, chúng tôi đề nghị đổi tên Chương IV. Theo đó, Chương IV sẽ có tên mới là “Trách nhiệm của tổ chức thu và trách nhiệm, quyền hạn của người nộp phí, lệ phí”.

Thứ hai, gộp khoản 2 và khoản 3 Điều 14 thành một điều khoản chung; bởi lẽ, hai khoản này đều có nội dung tương tự nhau là quyền của người nộp phí, lệ phí được nhận chứng từ xác nhận số phí, lệ phí đã nộp.

Thứ ba, bổ sung vào nội dung Điều 14 một số quyền của người nộp phí, lệ phí; cụ thể: (i) Quyền được yêu cầu tổ chức thu phí, lệ phí giải thích rõ thắc mắc về khoản phí, lệ phí phải nộp. Bởi lẽ, việc quy định tổ chức thu phí, lệ phí có trách nhiệm giải thích rõ thắc mắc của người nộp phí, lệ phí về khoản phí, lệ phí phải nộp thể hiện sự tôn trọng quyền lợi của người nộp phí, lệ phí và tạo sự đồng thuận, động viên người nộp tự giác nộp phí, lệ phí; (ii) Bổ sung vào Điều 13 trách nhiệm của tổ chức thu phí, lệ phí về việc giải thích rõ thắc mắc của người nộp phí, lệ phí về khoản phí, lệ phí mà họ phải nộp; (iii) Bổ sung vào Điều 14 quyền khiếu nại của người nộp về các khoản phí và lệ phí mà họ phải nộp. Bởi vì, nếu Dự thảo Luật không quy định về nội dung này sẽ dẫn đến việc nảy sinh hai tình huống cụ thể sau mà không xử lý được, đó là: (a) Trong trường hợp mức phí và lệ phí tính sai hoặc việc thu không theo đúng quy định của pháp luật thì người nộp có được quyền khiếu nại không. Rõ ràng trong trường hợp này, họ phải có quyền khiếu nại để tự bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình; (b) Nếu không bổ sung quy định quyền này vào Điều 14 thì sẽ mâu thuẫn với quy định tại khoản 2 điểm đ Điều 17.

Thẩm quyền và trách nhiệm của Bộ Tài chính tại Chương V; theo đó, Bộ Tài chính có thẩm quyền xét, giải quyết, khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về phí, lệ phí (điểm đ khoản 2). Vậy nếu người nộp phí không có quyền khiếu nại, tố cáo vi phạm pháp luật về phí, lệ phí thì làm sao Bộ Tài chính có thẩm quyền xét, giải quyết, khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về phí, lệ phí. Rõ ràng, sự mâu thuẫn giữa hai Điều luật này cần phải được sửa đổi, bổ sung bằng việc quy định quyền khiếu nại, tố cáo đối với vi phạm pháp luật về phí, lệ phí của người nộp phí, lệ phí nhằm đảm bảo sự tương thích. Như vậy, Điều 13 và Điều 14 dự thảo Luật sẽ được sửa đổi, bổ sung như sau:

Dự thảo Luật Phí và lệ phí

Điều 13. Trách nhiệm của tổ chức thu phí, lệ phí

“1. Niêm yết hoặc thông báo công khai tại địa điểm thu về tên phí, lệ phí, mức thu, phương thức thu và cơ quan quy định thu.

2. Lập và cấp chứng từ thu cho người nộp phí, lệ phí theo quy định của Bộ Tài chính.

3. Thực hiện chế độ kế toán; định kỳ báo cáo quyết toán thu, nộp, sử dụng phí, lệ phí; thực hiện chế độ công khai tài chính theo quy định của pháp luật.

4. Hạch toán riêng từng loại phí, lệ phí.

5. Báo cáo tình hình thu, nộp, quản lý, sử dụng phí, lệ phí”.

Điều 14. Trách nhiệm, quyền hạn của người nộp phí, lệ phí

“1. Nộp đúng, đủ phí, lệ phí theo quy định của pháp luật.

2. Được nhận chứng từ xác nhận số phí, lệ phí đã nộp.

3. Có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân thu phí, lệ phí cấp chứng từ thu phí, lệ phí theo quy định của pháp luật”.

Dự thảo Luật Phí và lệ phí sau khi được góp ý kiến

Điều 13. Trách nhiệm của tổ chức thu phí, lệ phí

“1. Niêm yết hoặc thông báo công khai tại địa điểm thu về tên phí, lệ phí, mức thu, phương thức thu và cơ quan quy định thu.

2. Lập và cấp chứng từ thu cho người nộp phí, lệ phí theo quy định của Bộ Tài chính.

3. Thực hiện chế độ kế toán; định kỳ báo cáo quyết toán thu, nộp, sử dụng phí, lệ phí; thực hiện chế độ công khai tài chính theo quy định của pháp luật.

4. Hạch toán riêng từng loại phí, lệ phí.

5. Báo cáo tình hình thu, nộp, quản lý, sử dụng phí, lệ phí.

6. Giải thích thắc mắc của người nộp phí, lệ phí về khoản phí, lệ phí phải nộp”.

Điều 14. Trách nhiệm, quyền hạn của người nộp phí, lệ phí

“1. Nộp đúng, đủ phí, lệ phí theo quy định của pháp luật.

2. Có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân thu phí, lệ phí cấp chứng từ thu phí, lệ phí theo quy định của pháp luật.

3. Có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân thu phí, lệ phí giải thích rõ thắc mắc về khoản phí, lệ phí phải nộp.

4. Có quyền khiếu nại, tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật về phí, lệ phí”.

Thứ tư, Điều 15 quy định các hành vi bị cấm mà không đề cập đến nguyên tắc xử lý đối với các hành vi này thì dường như là chưa hợp lý. Chúng tôi góp ý bổ sung vào Điều này một số nội dung cụ thể sau:

(i) Bổ sung thêm một số hành vi bị cấm trong lĩnh vực phí và lệ phí như hành vi gian lận, trốn nộp phí, lệ phí; hành vi khai man, khai khống hồ sơ để được miễn, giảm nộp phí, lệ phí; hành vi sử dụng tiền phí, lệ phí sai quy định; hành vi lập chứng từ khống; hành vi sử dụng chứng từ giả; hành vi cho, bán chứng từ thu phí, lệ phí…

(ii) Quy định cụ thể các hành vi vi phạm pháp luật về phí, lệ phí, bao gồm: Hành vi vi phạm quy định đăng ký, kê khai phí, lệ phí; hành vi vi phạm quy định công khai chế độ thu phí, lệ phí; hành vi vi phạm quy định về nộp phí, lệ phí; hành vi vi phạm quy định về mức phí, lệ phí; hành vi vi phạm quy định về miễn, giảm phí, lệ phí; hành vi sử dụng tiền phí, lệ phí sai quy định của pháp luật; hành vi vi phạm quy định về in chứng từ thu phí, lệ phí; hành vi vi phạm quy định về sử dụng chứng từ thu phí, lệ phí; hành vi vi phạm quy định về quản lý chứng từ thu phí, lệ phí; hành vi làm mất, cho, bán chứng từ thu phí, lệ phí…

(iii) Bổ sung quy định mang tính nguyên tắc về xử lý vi phạm pháp luật về phí, lệ phí.

4. Chương V: Thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước về quản lý phí và lệ phí

4.1. Góp ý về tên Chương V

Tên Chương V nên đổi thành “Quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước về quản lý phí và lệ phí”; bởi lẽ, trong khoa học về kỹ thuật soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật thì các cặp thuật ngữ được sử dụng là “quyền và nghĩa vụ” và “quyền hạn và trách nhiệm”… Hơn nữa, trong Dự thảo Luật cần sử dụng thống nhất một thuật ngữ “phí, lệ phí” hoặc “phí và lệ phí”. Trong nội dung các điều luật của Dự thảo Luật phí và lệ phí việc sử dụng thuật ngữ không thống nhất, khi thì sử dụng thuật ngữ “phí và lệ phí” khi thì sử dụng thuật ngữ “phí, lệ phí”. Chúng tôi đề nghị trong nội dung các chương, điều, điều khoản cần sử dụng thống nhất thuật ngữ “phí và lệ phí” theo đúng tên gọi của dự thảo luật - Dự thảo Luật phí và lệ phí.

4.2. Góp ý về tên, nội dung Điều 16 và Điều 17 trong Chương V

4.2.1. Góp ý về tên điều luật

Nếu như tên Chương V được đổi thành “Quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước về quản lý phí và lệ phí” thì tên Điều 16 cần đổi thành “Quyền hạn và trách nhiệm của Chính phủ” và tên Điều 17 đổi thành “Quyền hạn và trách nhiệm của Bộ Tài chính” cho tương thích với tên của Chương V.

4.2.2. Góp ý về nội dung Điều 17

Bổ sung cụm từ “trong phạm vi cả nước” vào cuối nội dung quy định tại điểm c khoản 2 Điều 17 nhằm nhấn mạnh vai trò cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về phí, lệ phí; trong đó có theo dõi, kiểm tra hoạt động thu, quản lý, sử dụng phí, lệ phí của Bộ Tài chính; đồng thời, phân biệt với trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; theo đó, các cơ quan này chỉ có trách nhiệm tổ chức kiểm tra, theo dõi tình hình thực hiện việc thu, nộp, quản lý, sử dụng phí, lệ phí thuộc ngành, lĩnh vực quản lý. Như vậy điểm c khoản 2 Điều 17 được sửa đổi như sau: “c) Theo dõi, kiểm tra hoạt động thu, quản lý, sử dụng phí, lệ phí trong phạm vi cả nước”.

Bỏ cụm từ “Bộ Tài chính” ở cuối nội dung điểm g khoản 2 Điều 17 và được sửa đổi thành “g) Trình Chính phủ quyết định miễn, giảm phí, lệ phí thuộc thẩm quyền của Chính phủ” cho tương thích với nội dung khoản 3 Điều 16. Vì theo khoản 3 Điều 16, Chính phủ mới có thẩm quyền quyết định việc miễn, giảm phí, lệ phí.

PGS.TS. Nguyễn Quang Tuyến, Đại học Luật Hà Nội

& ThS. Lê Văn Đức, Khoa Luật - Đại học Vinh


[1] Phần chữ bôi đen là ý kiến đóng góp vào nội dung Dự thảo Luật Phí và lệ phí.

[2] Khoản 2 Điều 16 Dự thảo Luật Phí và lệ phí.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: