Thứ bảy 16/05/2026 06:21
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số kinh nghiệm của nước Anh trong việc đo lường sự hài lòng của người dân đối với chất lượng dịch vụ công

Trong bài viết, tác giả phân tích một số lý thuyết về sự hài lòng, sự mong đợi và chất lượng dịch vụ công; tiếp đến tác giả giới thiệu khái quát về 02 mô hình đo lường được Viện Nghiên cứu xã hội (MORI - Cơ quan nghiên cứu chính thống của Chính phủ Anh) đề cập trong báo cáo gửi Cơ quan cải cách công vụ (OPSR) là Servqual và CMT, từ đó khuyến nghị đối với đo lường sự hài lòng của dịch vụ công của Việt Nam theo mô hình Servqual.


1. Đặt vấn đề

Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland (sau đây gọi là nước Anh) là một quốc gia phát triển, có kinh tế lớn thứ năm thế giới theo GDP danh nghĩa và lớn thứ chín theo sức mua tương đương theo số liệu vào năm 2016, là thành viên của Thịnh vượng chung các quốc gia, G7, G8, G20, NATO, OECD và WTO... Đây là quốc gia công nghiệp hóa đầu tiên trên thế giới, là cường quốc đứng đầu thế giới trong thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Ngày nay, Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland vẫn là một đại cường quốc, với các ảnh hưởng đáng kể về kinh tế, văn hóa, quân sự, khoa học và chính trị trên quy mô quốc tế. Điều này kéo theo yêu cầu bắt buộc về một nền công vụ hoạt động hiệu quả với chất lượng dịch vụ cao. Nhiều dịch vụ hành chính đã được thực hiện hoàn toàn qua internet tạo sự thuận lợi cho người dân. Vương quốc Anh là một trong những quốc gia được cộng đồng quốc tế đánh giá rất cao trong việc xây dựng và phát triển chính phủ điện tử. Theo kết quả khảo sát chỉ số phát triển Chính phủ điện tử do Liên Hợp quốc thực hiện bắt đầu kể từ năm 2001 đến nay, Vương quốc Anh là quốc gia liên tục được xếp trong nhóm 10 nước có chỉ số phát triển Chính phủ điện tử cao nhất.

Ngay từ những năm 2001, nhận thức rõ yêu cầu cấp thiết của việc cải cách nền hành chính, Chính phủ Anh đã thành lập Cơ quan Cải cách công vụ (OPSR) thuộc Văn phòng Nội các để trực tiếp tham vấn cho Thủ tướng Chính phủ và làm việc với các cơ quan của Chính phủ nhằm cải cách nền dịch vụ công của quốc gia (bao gồm cả dịch vụ công dân sự và dịch vụ công do chính quyền địa phương cung cấp). Mục tiêu chính của chiến dịch cải cách nền dịch vụ công là các dịch vụ công được cung ứng phải ngày càng đáp ứng được yêu cầu và nguyện vọng của khách hàng, là người dân trực tiếp sử dụng dịch vụ. Điều này đòi hỏi một nghiên cứu chuyên sâu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người dân và cách tính toán các yếu tố này.

Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu này, OPSR đã giao Viện Nghiên cứu Xã hội (MORI) nghiên cứu, rà soát các phương pháp khác nhau để đo lường các góc nhìn của người dân và đưa ra khuyến nghị để nâng cao sự hài lòng của người dân khi sử dụng dịch vụ công. Theo đó, MORI đã tiến hành nhiều nghiên cứu và tổng kết lại một số nghiên cứu, lý thuyết về vấn đề này kết hợp với những kinh nghiệm đo lường chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của tổ chức này đối với số lượng lớn các tổ chức công, tư.

Có thể thấy rằng, chủ đề về đo lường sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ công không phải là chủ đề mới với nước Anh cũng như các nước trên thế giới. Có rất nhiều cách thức khác nhau được tìm ra để hiểu sự hài lòng về chất lượng dịch vụ. Một nhóm các học giả đã ước tính có khoảng 15.000 bài nghiên cứu, bài báo về vấn đề này đã được hoàn thành trong hai thập kỷ, tính đến giữa những năm 90[1]. Vì vậy, không có gì là ngạc nhiên khi có những luồng ý kiến bất đồng, những khái niệm, định nghĩa, phương pháp đo lường và cách giải thích kết quả khác nhau.

2. Một số lý thuyết về sự hài lòng, sự mong đợi và chất lượng của dịch vụ

Đã có rất nhiều nghiên cứu, thảo luận và phản biện về sự khác biệt giữa chất lượng của dịch vụ và sự hài lòng của người thụ hưởng. Có hai trường phái lý thuyết về vấn đề này.

Trường phái thứ nhất cho rằng, sự hài lòng của người sử dụng sẽ là vấn đề đi trước chất lượng của dịch vụ. Thông qua rất nhiều lần sử dụng dịch vụ một cách hài lòng, người ta sẽ xác định được thế nào là chất lượng chuẩn của dịch vụ đó. Trường phái này nhìn nhận tách biệt giữa sự mong đợi và cảm nhận của việc sử dụng dịch vụ. Khoảng cách giữa hai khái niệm này sẽ là cơ sở để tính toán chất lượng của dịch vụ.

Trường phái thứ hai lại cho rằng, phân tích chất lượng dịch vụ thì sẽ xác định được thế nào là thái độ chung được gọi là sự hài lòng của người thụ hưởng khi sử dụng dịch vụ đó. Sự hài lòng khi sử dụng dịch vụ, theo lý thuyết này phụ thuộc vào những trải nghiệm “disconfirmation” mà những trải nghiệm này là trên cơ sở những mong đợi ban đầu của người thụ hưởng. Nếu trải nghiệm sử dụng dịch vụ vượt mong đợi của người sử dụng thì sự hài lòng sẽ được đánh giá ở mức độ cao và ngược lại.

Cả hai cách nhìn này theo MORI thì sự mong đợi của người sử dụng dịch vụ đóng vai trò cốt lõi trong việc xác định chất lượng của dịch vụ hay sự hài lòng của người sử dụng. Vậy cái gì có thể tạo nên sự mong đợi của người sử dụng dịch vụ?

Theo Giáo sư A. Parasuraman[2], các yếu tố tạo nên sự mong đợi của người sử dụng dịch vụ là:

- Nhu cầu cá nhân: Bất cứ khách hàng, người sử dụng nào của một dịch vụ đều sẽ có những nhu cầu cá nhân cốt lõi và mong muốn dịch vụ có thể đáp ứng được. Điều này khác nhau đối với từng loại dịch vụ và từng người sử dụng, việc hiểu rõ những nhu cầu này là cần thiết để tạo nên một dịch vụ tốt.

- Những trải nghiệm trước đó: Rất nhiều khách hàng đã từng sử dụng những dịch vụ nhiều lần. Trải nghiệm của họ từ những lần trước sẽ ảnh hưởng đến mong đợi của họ về dịch vụ vào lần tiếp theo. Họ có thể bị ảnh hưởng từ lần trước đó sử dụng cùng một loại dịch vụ, cũng có thể là do những dịch vụ khác gần giống.

- Từ truyền miệng: Sự mong đợi có thể được thạo thành từ những nguồn khác với chính chất lượng của dịch vụ, đó là sự thông tin từ gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, cơ quan, đơn vị liên quan hay là do phương tiện thông tin truyền thông...

- Những thông tin do nhân viên hành chính công cung cấp hoặc những yếu tố ngoại cảnh của trụ sở cung cấp thủ tục hành chính cũng có tác động trực tiếp đến sự mong đợi của người dân (ví dụ khi nhìn tòa nhà hành chính công đẹp, người dân cũng sẽ mong đợt những dịch vụ được cung cấp với chất lượng cao hơn).

Sự mong đợi như đã xác định là được cấu thành bởi khá nhiều yếu tố - thậm chí nhiều hơn là số lượng yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của dịch vụ công, có một vai trò trung tâm trong việc ảnh hưởng đến sự hài lòng của người thụ hưởng đối với dịch vụ.

Mặc dù có những trường phái lý thuyết khác nhau về bản chất và tác động của sự mong đợi nhưng suy cho cùng các lý thuyết đều cho rằng sự mong đợi càng thấp thì sự đánh giá hài lòng càng cao. Điều này cũng tương đối dễ hiểu khi mà đối tượng thụ hưởng có một trải nghiệm về dịch vụ kém chất lượng, sự mong đợi về chất lượng dịch vụ giảm xuống, kéo theo đó là việc làm hài lòng người đó khi sử dụng dịch vụ tương tự tiếp theo là dễ hơn so với những người vẫn có sự mong đợi cao về chất lượng dịch vụ. Việc trải nghiệm dịch vụ kém chất lượng mặc dù làm giảm sự mong đợi của người thụ hưởng xuống nhưng những người này cũng khó tính hơn trong việc đánh giá chất lượng một dịch vụ với số điểm cao.

Do đó, có thể thấy có một sự tác động tương đối giữa mức độ mong đợi với sự đánh giá tiêu cực, tích cực với một dịch vụ cụ thể. Khi mà một dịch vụ với sự kém chất lượng, người thụ hưởng sẽ có một mức độ mong đợi thấp hơn rất nhiều, điều này lại kéo theo trung bình điểm đánh giá sự hài lòng sẽ cao hơn so với các dịch vụ có sự mong đợi cao. Điều này rất quan trọng khi chúng ta xem xét để tìm giải pháp nâng cao sự nhận thức của người dân khi sử dụng dịch vụ công.

3. Giới thiệu về công cụ đo lường sự hài lòng Servqual

Có rất nhiều phương pháp để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ cũng như xác định các yếu tố quan trọng nhất cần phải cải thiện để nâng cao nhận thức của người dân về một dịch vụ. Một trong những mô hình phổ biến của Anh là Servqual, một công cụ tập trung vào khoảng cách giữa sự mong đợi và đánh giá về chất lượng dịch vụ. Ngoài ra, tác giả cũng sẽ phân tích thêm về mô hình CMT (The Common Measurements Tool) trong phần dưới đây.

3.1. Mô hình Servqual

Mô hình Servqual được xây dựng bởi Giáo sư A. Parasuraman, là một công cụ được phát triển chủ yếu dựa vào đo lường chất lượng dịch vụ cả trong lĩnh vực công và tư. Thang đo này được đánh giá là có độ tin cậy cao và có tính chính xác trong nhiều ngày (được áp dụng trong các lĩnh vực như ngân hàng, nhà hàng, khách sạn, bệnh viện, trường học, hàng không…)

Mô hình Servqual có ba yếu tố cơ bản, cụ thể: (i) Đánh giá những tiêu chí mà một dịch vụ lý tưởng nên có; (ii) Đánh giá một dịch vụ cụ thể được thực hiện như thế nào dựa trên các tiêu chí này; (iii) Xác định xem những yếu tố nào là quan trọng nhất với từng dịch vụ cụ thể để tính mức độ hài lòng nói chung.

Khi sử dụng mô hình này sẽ làm phát sinh khoảng cách giữa cảm nhận khi sử dụng dịch vụ và sự mong đợi về dịch vụ này. Khoảng cách này sẽ thể hiện những mong đợi mà người thụ hưởng chưa được đáp ứng, là khoảng cách giữa những gì người sử dụng dịch vụ muốn và cái mà họ thực sự đã nhận được.

Khi sử dụng mô hình này, người khảo sát thường thiết kế câu hỏi đi từ quan điểm, nhận định của người dân về những yếu tố mà một dịch vụ nên có, đánh giá mức độ quan trọng của từng yếu tố đó và sau đó dùng các yếu tố đó để người sử dụng dịch vụ đánh giá sự hài lòng khi sử dụng một dịch vụ công cụ thể.

Mô hình Servqual, theo các học giả, có một số nhược điểm như sau: Phiếu khảo sát theo mô hình này bắt buộc phải bắt đầu bằng việc khảo sát để xác định những gì mà một dịch vụ lý tưởng phải có nên phạm vi khảo sát sẽ rất lớn, vì vậy, sẽ rất hạn chế khi người sử dụng xác định các yếu tố quan trọng. Ngoài ra, cách khảo sát này cũng hạn chế khi khảo sát đối với các dịch vụ cụ thể vì không có sự phân biệt giữa những yếu tố chung (ví dụ, dịch vụ hành chính công nói chung) và những yếu tố trong lĩnh vực cụ thể (ví dụ dịch vụ đăng ký hộ tịch). Mặc dù vậy, theo MORI, cách tiếp cận như của mô hình Servqual vẫn được sử dụng rất nhiều trong các nghiên cứu về sự hài lòng của người sử dụng trong cả lĩnh vực tư, công và nếu được sử dụng đúng đắn sẽ đem lại khá nhiều kết quả có ích.

3.2. Mô hình CMT (The Common Measurements Tool)

Mô hình CMT là mô hình được nghiên cứu bởi Trung tâm Quản lý phát triển Canada trên cơ sở một số học thuyết về tiêu chuẩn hóa đo lường sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ công. Mô hình này yêu cầu 05 dạng câu hỏi chính, bao gồm: (i) Sự mong đợi của một số yếu tố dịch vụ; (ii) Đánh giá về trải nghiệm dịch vụ dựa trên các yếu tố này; (iii) Mức độ quan trọng của từng yếu tố tạo nên dịch vụ; (iv) Mức độ hài lòng với các yếu tố này; (v) Sự ưu tiên của người được hỏi với các yếu tố.

Cách tiếp cận của mô hình CMT là đi sâu vào phân tích sự mong đợi và cảm nhận sử dụng dịch vụ của một số nhỏ các yếu tố cụ thể, ví dụ, người dân phải chờ bao lâu để thực hiện dịch vụ.

Sau khi phân loại vào các nhóm yếu tố nêu trên, các cơ quan, tổ chức thực hiện khảo sát sẽ xác định được các yếu tố ưu tiến cần cải thiện chất lượng dịch vụ. Bên cạnh đó, cũng xác định được ưu điểm mà dịch vụ hiện có để tiếp tục phát huy. Các yếu tố không quan trọng có thể lược bớt trong các cuộc khảo sát tiếp theo. Kết quả của khảo sát theo mô hình CMT có chất lượng chuyên sâu, có thể phân tích nhiều khía cạnh, phù hợp cho việc khảo sát phục vụ những nghiên cứu sâu về lĩnh vực đo lường chất lượng dịch vụ.

4. Mức độ và các yếu tố quyết định chất lượng dịch vụ và sự hài lòng theo mô hình Servqual

Những học giả áp dụng mô hình Servqual thường xây dựng nội dung đánh giá bằng cách chia nhóm các yếu tố có thể ảnh hưởng đến sự hài lòng của người dân và đánh giá với các mức điểm khác nhau. Thông thường nội dung đánh giá theo mô hình Servqual sẽ được chia thành các nhóm như sau: (i) Nhóm các yếu tố vật chất: Các yếu tố đánh giá cơ sở vật chất, trang thiết bị của cơ quan cung cấp dịch vụ, mức độ dễ hiểu của các văn bản, tài liệu được công khai tại trụ sở... (ii) Sự đáng tin cậy của thủ tục: Các yếu tố đánh giá dịch vụ công được thực hiện chính xác, đúng, đầy đủ hay không. (iii) Mức độ sẵn sàng đáp lại: Các yếu tố đánh giá sự giúp đỡ người thụ hưởng dịch vụ công của cơ quan cung cấp dịch vụ. (iv) Sự bảo đảm: Các yếu tố đánh giá niềm tin và sự tự tin của người sử dụng dịch vụ. (v) Sự cảm thông: Các yếu tố đánh giá mức độ quan tâm của cơ quan cung cấp đối với khách hàng khi sử dụng các dịch vụ.

MORI cũng khẳng định rằng, ngoài 05 nhóm nêu trên, tùy vào từng dịch vụ sẽ có các nhóm khác nhau nữa để đánh giá các dịch vụ, ví dụ như nhóm xử lý tình huống - là cách mà cơ quan cung cấp dịch vụ xử lý những vấn đề phát sinh.

Bên cạnh các nhóm yếu tố chung nêu trên, một số học giả cũng đã liệt kê ra những yếu tố thành phần (tại một nghiên cứu về dịch vụ trong lĩnh vực ngân hàng) được cho là hữu ích và cụ thể hơn, đó là:

- Sự tiếp cận: Là sự dễ dàng tiếp cận được dịch vụ (ví dụ như dễ dàng tìm được vị trí của cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ; trụ sở cơ quan gần nhà; thời gian làm việc thuận tiện cho người dân; có thể sử dụng điện thoại, internet...);

- Mỹ quan: Là các yếu tố về vẻ bề ngoài của trụ sở cơ quan cung cấp dịch vụ, trang thiết bị và nhân viên (như trang thiết bị hiện đại, đồng phục nhân viên sạch đẹp, lịch sự...);

- Sự chú ý lắng nghe, giúp đỡ: Là yếu tố đánh giá nhân viên thực hiện cung cấp dịch vụ công có sẵn sàng phục vụ, nhiệt tình giúp đỡ người sử dụng dịch vụ;

- Sự sẵn sàng của cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân viên phục vụ người dân (ví dụ, một nhân viên thực hiện cung cấp dịch vụ công sẵn sàng bỏ ra bao nhiêu thời gian để phục vụ một người thụ hưởng; trang thiết bị có đảm bảo chất lượng và dễ sử dụng không...);

- Sự quan tâm, cân nhắc, thông cảm và nhẫn nại của nhân viên đối với người sử dụng dịch vụ có làm người sử dụng dịch vụ cảm thấy thoải mái không;

- Sự sạch sẽ, gọn gàng của trụ sở cơ quan và nhân viên cung cấp dịch vụ;

- Sự thoải mái của người dân trong môi trường thực hiện thủ tục và sử dụng các trang thiết bị;

- Sự cam kết của nhân viên cung cấp dịch vụ, thể hiện qua sự tự trọng, thoải mái, thấu hiểu, siêng năng và cẩn thận, tỉ mỉ trong thực hiện nhiệm vụ;

- Sự hướng dẫn: Là yếu tố đánh giá sự rõ ràng, đầy đủ và chính xác trong thông tin cung cấp cho khách hàng (cả qua văn bản và lời nói) và khả năng lắng nghe, thấu hiểu của nhân viên phục vụ; có khả năng hướng dẫn cho người dân tộc thiểu số, những cá nhân thuộc nhóm yếu thế; có hệ thống tiếp nhận và giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo;

- Năng lực, khả năng của cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ: Là yếu tố đánh giá kỹ năng, sự chuyên nghiệp mà thủ tục về dịch vụ được thực hiện, bao gồm: Việc thực hiện đúng quy trình theo hướng dẫn; nhân viên có kiến thức, chuyên môn, am hiểu về lĩnh vực của dịch vụ và có khả năng chỉ dẫn, thực hiện nhiệm vụ tốt;

- Sự lịch sự, nhã nhặn, không quan liêu, hách dịch, gây cản trở của nhân viên phục vụ;

- Sự linh hoạt: Sẵn sàng và có khả năng áp dụng linh hoạt các quy định để đáp ứng yêu cầu của người dân;

- Sự thân thiện: Tiếp xúc người sử dụng dịch vụ một cách ấm cúng với thái độ vui vẻ, niềm nở;

- Tính liêm chính: Là yếu tố đánh giá sự thật thà, công tâm, công bằng và đáng tin tưởng của tổ chức cung cấp dịch vụ. Tính đáng tin cậy thể hiện qua sự ổn định trong chất lượng dịch vụ được cung cấp, khả năng thực hiện cam kết với người dân sử dụng dịch vụ (chính xác trong nội dung biên bản, hóa đơn; có hẹn ngày trả kết quả...);

- Tính cơ động: Tốc độ thực hiện cung cấp dịch vụ, bao gồm cả thời gian xếp hàng (có thể đặt lịch hẹn trước), thực hiện thủ tục và nhận kết quả;

- Tính an ninh: Sự an toàn đối với tài sản cá nhân khi tiếp cận dịch vụ và sự bảo mật đối với thông tin cá nhân.

5. Khuyến nghị áp dụng mô hình Servqual cho đo lường sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ công tại Việt Nam

Thực tế hiện nay cho thấy, mô hình Servqual là mô hình được áp dụng phổ biến hơn trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng. Tại Việt Nam, đã có nhiều tổ chức tiến hành đo lường chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của người sử dụng dịch vụ theo mô hình Servqual như trong lĩnh vực marketing, ngân hàng...

Trong lĩnh vực công tại Việt Nam, cải cách hành chính để nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính và dịch vụ công là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Chính phủ Việt Nam theo Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 (Nghị quyết số 30c/NQ-CP). Để tiếp tục đẩy mạnh triển khai thực hiện Nghị quyết số 30c/NQ-CP, ngày 04/02/2016, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 225/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2016 - 2020, trong đó xác định nhiều nhiệm vụ cụ thể liên quan đến việc đo lường sự hài lòng của người dân đối với các dịch vụ công. Tại Kế hoạch này, Bộ Tư pháp đã được Thủ tướng Chính phủ giao xây dựng Đề án “Đo lường sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ công thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Tư pháp”, hoàn thành trong giai đoạn 2016 - 2020.

Vừa qua, Bộ Tư pháp (cụ thể là Văn phòng Bộ) đã tiến hành một số cuộc khảo sát để tìm hiểu bước đầu các yếu tố cần thiết để đo lường sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ công thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Tư pháp. Chúng tôi nhận thấy, có một số lý do mà mô hình Servqual sẽ khả thi hơn nếu được áp dụng để đo lường sự hài lòng trong lĩnh vực công, cụ thể:

- Người dân sử dụng dịch vụ công có trình độ học vấn, độ tuổi đa dạng, phần lớn là người có ít kiến thức về pháp luật, do đó, khi đo lường với mô hình chuyên sâu như CMT sẽ mất rất nhiều thời gian, công sức hơn là sử dụng các câu hỏi, các định lượng như mô hình Servqual. Sẽ có một số lượng lớn người dân không thể tự trả lời những câu hỏi chuyên sâu như mô hình CMT mà cần có người trợ giúp nên số lượng kết quả phiếu khảo sát thu được sẽ không cao, khó đảm bảo tính đa dạng của khảo sát.

- Bên cạnh đó, việc tổng hợp kết quả theo mô hình Servqual sẽ thuận lợi hơn cho các cơ quan tổ chức khảo sát (không phải là các cơ quan có nghiệp vụ về vấn đề này) khi các yếu tố đều được lượng hóa và ngược lại với mô hình Cmt.

Nguyễn Tùng Phong





[1]. Nghiên cứu về sự hài lòng của khách hàng năm 1992 của Wilson và Peterson, Sách chuyên khảo của Hiệp hội Nghiên cứu thị trường và y kiến châu Âu ESOMAR năm 1995.

[2]. Can’t Get No Satisfaction: Using a gap approach to measure service quality Accounts Commission December 1999, developed from Parasuraman et al 1990.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: