Thứ ba 17/03/2026 11:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau trong Dự thảo Luật Hợp tác xã

Dự án Luật Hợp tác xã (sửa đổi) nhằm thay thế Luật Hợp tác xã năm 2003 đã được soạn thảo công phu, tổ chức lấy ý kiến rộng rãi của các Bộ, ngành, địa phương, hệ thống tổ chức hợp tác xã và vừa qua đã được Quốc hội khóa XIII cho ý kiến bước đầu tại kỳ họp lần thứ 3 diễn ra từ ngày 20/5 đến ngày 21/6/2012 tại Hà Nội.

Dự án Luật Hợp tác xã (sửa đổi) nhằm thay thế Luật Hợp tác xã năm 2003 đã được soạn thảo công phu, tổ chức lấy ý kiến rộng rãi của các Bộ, ngành, địa phương, hệ thống tổ chức hợp tác xã và vừa qua đã được Quốc hội khóa XIII cho ý kiến bước đầu tại kỳ họp lần thứ 3 diễn ra từ ngày 20/5 đến ngày 21/6/2012 tại Hà Nội. Theo kế hoạch, tại kỳ họp thứ 4 vào tháng 10 năm nay, Quốc hội sẽ thông qua Dự án Luật này. Dự án Luật sẽ tạo ra khung pháp luật mới, góp phần bảo đảm quyền, lợi ích cũng như thực hiện nghĩa vụ của thành viên hợp tác xã; tiếp tục tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, công bằng, bình đẳng cho hợp tác xã trên cơ sở tổng kết thực tiễn phát triển hợp tác xã ở nước ta và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế về phát triển hợp tác xã. Tuy nhiên, cho đến nay, xung quanh Dự thảo Luật này cũng còn một số vấn đề có ý kiến khác nhau cần được trao đổi, cân nhắc kỹ để lựa chọn phương án xử lý tối ưu nhất. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi muốn góp một vài suy nghĩ của mình về quan điểm giải quyết các vấn đề còn có ý kiến khác nhau, cụ thể như sau:

1. Về bản chất của hợp tác xã và ý nghĩa thực tiễn của việc xác định đúng bản chất của hợp tác xã

1.1. Sự khác nhau giữa hợp tác xã với doanh nghiệp

Việc làm rõ bản chất của hợp tác xã là vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu trong Dự thảo Luật Hợp tác xã (sửa đổi), bởi vì, bản chất của hợp tác xã là yếu tố quyết định nội dung của các vấn đề quan trọng khác liên quan đến hợp tác xã như quyền, nghĩa vụ của thành viên; quyền, nghĩa vụ của hợp tác xã; cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý hợp tác xã; xử lý tài sản khi giải thể hợp tác xã… Việc làm rõ bản chất của hợp tác xã còn có một ý nghĩa quan trọng khác là tạo cơ sở lý luận và thực tiễn để Nhà nước ban hành các chính sách ưu đãi, hỗ trợ có tính chất đặc thù cho hợp tác xã, khác với các chính sách chung mà Nhà nước đã ban hành để áp dụng cho các loại hình chủ thể kinh doanh khác đang hoạt động trong nền kinh tế nước ta, trong đó có doanh nghiệp. Hiện nay vẫn còn tồn tại hai loại ý kiến khác nhau về bản chất của hợp tác xã.

Ý kiến thứ nhất cho rằng, hợp tác xã phải được coi là một loại hình doanh nghiệp, trong khi đó, ý kiến thứ hai lại cho rằng, một hợp tác xã đích thực thì không thể bao giờ có tư cách ấy.

Chúng tôi cho rằng, giữa hợp tác xã và doanh nghiệp không phải không có điểm gì giống nhau. Ví dụ, giống như doanh nghiệp, hợp tác xã cũng phải đăng ký kinh doanh, phải đóng thuế thu nhập doanh nghiệp, phải phá sản khi lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn... Tuy nhiên, không thể vì thế mà coi hợp tác xã là một loại hình doanh nghiệp vì các lý do chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, xét về mặt thực tiễn lập pháp

Hiện nay, ở nước ta, doanh nghiệp và hợp tác xã được điều chỉnh bởi luật riêng. Các loại hình doanh nghiệp (doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần và công ty hợp danh) được điều chỉnh trong cùng một đạo luật là Luật Doanh nghiệp năm 2005. Hợp tác xã cũng có luật riêng của mình là Luật Hợp tác xã năm 2003. Vấn đề đặt ra là, nếu là một loại hình doanh nghiệp thì tại sao hợp tác xã đã không được đưa vào điều chỉnh trong Luật Doanh nghiệp năm 2005? Như vậy, việc tồn tại một cách riêng biệt hai hệ thống pháp luật về doanh nghiệp và hợp tác xã (mà nòng cốt là Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Luật Hợp tác xã năm 2003) là một căn cứ về mặt lập pháp cho thấy, không thể coi hợp tác xã là một loại hình doanh nghiệp theo đúng nghĩa của nó. Sự phân biệt doanh nghiệp với hợp tác xã còn được thể hiện ở chỗ, trong các luật có liên quan đều tách riêng khái niệm doanh nghiệp và hợp tác xã. Ví dụ, khi quy định đối tượng áp dụng của Luật Phá sản năm 2004, Điều 2 của Luật này đã xác định đối tượng bị phá sản bên cạnh các loại hình doanh nghiệp còn có một chủ thể khác là hợp tác xã. Như vậy, trong pháp luật hiện hành của Nhà nước ta đã không có sự đánh đồng giữa hợp tác xã với doanh nghiệp.

Thứ hai, xét về các đặc điểm của doanh nghiệp và hợp tác xã

Muốn xác định hợp tác xã là gì, có phải là doanh nghiệp hay không, cần phải xuất phát từ các đặc điểm riêng có của nó. Qua nghiên cứu, chúng tôi cho rằng, hợp tác xã khác với doanh nghiệp ở một số đặc thù chủ yếu sau đây:

+ Về lý do ra đời: Nếu như doanh nghiệp ra đời là để đáp ứng nhu cầu của thị trường, tức là nhu cầu của đông đảo người tiêu dùng trong xã hội, thì hợp tác xã ra đời là để đáp ứng các nhu cầu, nguyện vọng, lợi ích chung của một nhóm người nhất định – những người đã thành lập ra hợp tác xã. Đặc điểm này đã làm cho hợp tác xã không thể có đầy đủ các quyền trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, trong đó có quyền tự do lựa chọn ngành nghề, mặt hàng kinh doanh như các loại hình doanh nghiệp.

+ Về tư cách pháp lý của thành viên: Nếu như đối với doanh nghiệp, người tham gia thành lập doanh nghiệp chỉ có một tư cách duy nhất là nhà đầu tư (nhà kinh doanh) thì đối với hợp tác xã, thành viên luôn có hai tư cách: Họ vừa là người chủ của hợp tác xã lại, vừa là khách hàng của hợp tác xã (người sử dụng sản phẩm, dịch vụ của hợp tác xã).

+ Về mục đích hoạt động: Nếu như doanh nghiệp được thành lập là để kinh doanh, do đó, mục đích hàng đầu của doanh nghiệp là tìm kiếm lợi nhuận thì mục đích hoạt động của hợp tác xã lại hoàn toàn khác. Để đem lại lợi ích cho thành viên thông qua việc cung ứng sản phẩm, dịch vụ cho họ thì cũng như các tổ chức kinh tế khác, hợp tác xã phải lựa chọn phương án đầu tư, sản xuất, kinh doanh thích hợp và có hiệu quả, tức là, mọi hoạt động của hợp tác xã với thị trường bên ngoài phải được tính toán trên cơ sở lấy thu bù chi và đảm bảo có thu nhập. Tuy nhiên, không phải vì thế mà cho rằng, hợp tác xã hoạt động vì mục đích lợi nhuận. Đó là điểm khác giữa hợp tác xã và doanh nghiệp xét về mục đích hoạt động. Ngoài ra, trên phương diện này, hợp tác xã còn khác doanh nghiệp ở chỗ, bên cạnh mục đích tối đa hóa lợi ích cho các xã viên, hợp tác xã còn có các mục tiêu cao cả khác mà doanh nghiệp không thể có được, đó là sự tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên, sự quan tâm đến sự phát triển của cộng đồng.

+ Về cơ chế quản lý: Nếu như trong doanh nghiệp, đặc biệt là trong các công ty đối vốn như công ty cổ phần, quyền lực nói chung và quyền lực trong việc quyết định các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp nói riêng được phân bổ cho các thành viên theo tỷ lệ vốn góp của họ (ai góp nhiều vốn thì người đó có nhiều quyền lực và ngược lại), thì trong hợp tác xã, tất cả các thành viên đều có quyền ngang nhau mà không phụ thuộc vào số lượng vốn mà họ đã góp vào hợp tác xã là nhiều hay ít. Tóm lại, nguyên tắc bình đẳng trong quản lý luôn là đặc điểm nổi trội, giúp hợp tác xã khác biệt với doanh nghiệp.

+ Về nguyên tắc phân phối thu nhập: Nếu như trong doanh nghiệp, lợi nhuận thu được được phân chia cho các thành viên chủ yếu theo tỷ lệ vốn góp thì trong hợp tác xã lại áp dụng một nguyên tắc hoàn toàn khác, đó là, nguyên tắc phân chia thu nhập chủ yếu theo mức độ sử dụng sản phẩm và dịch vụ của hợp tác xã. Điều này có nghĩa là, trong hợp tác xã, thành viên nào sử dụng nhiều sản phẩm, dịch vụ do hợp tác xã cung ứng, thì thành viên đó được hưởng nhiều hơn từ thu nhập do hợp tác xã mang lại. Như vậy, việc phân chia thu nhập theo vốn góp trong hợp tác xã, nếu có thì cũng chỉ là nguyên tắc có vị trí thứ yếu mà thôi.

1.2. Ý nghĩa thực tiễn của việc xác định đúng bản chất của hợp tác xã

Việc xác định đúng bản chất của hợp tác xã thông qua việc phân biệt nó với doanh nghiệp không chỉ có ý nghĩa về mặt học thuật mà còn có giá trị thực tiễn to lớn, cụ thể là:

Thứ nhất, góp phần chấm dứt tình trạng đang rất phổ biến hiện nay là nhiều doanh nghiệp đã lợi dụng tư cách hợp tác xã để trục lợi thông qua việc hưởng dụng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ mà Nhà nước đã ban hành chỉ để dành riêng cho hợp tác xã.

Như trên đã phân tích, một hợp tác xã đích thực thì không thể có tư cách là doanh nghiệp. Đó là hai chủ thể tuy có thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh trên thương trường nhưng khác hẳn nhau về bản chất. Cũng như đã trình bày ở phần trên, xuất phát từ các đặc thù riêng của mình nên hợp tác xã ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam luôn được Nhà nước dành cho những ưu đãi, hỗ trợ nhất định mà các doanh nghiệp không có quyền được hưởng. Tuy nhiên, thực tế ở nước ta thời gian qua cũng đã cho thấy, không ít chủ thể kinh doanh tuy được gọi là hợp tác xã nhưng thực chất lại là doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp biết mình không phải là hợp tác xã nhưng vẫn tự xưng là hợp tác xã cốt để được hưởng các chính sách ưu đãi mà chỉ có những hợp tác xã đích thực mới được hưởng. Vì vậy, nếu Luật Hợp tác xã (mới) được ban hành với một sự phân biệt rạch ròi hợp tác xã với doanh nghiệp thì sự “đội lốt” này chắc chắn sẽ không còn cơ sở pháp lý để tồn tại và như vậy Luật này sẽ góp phần to lớn vào việc chấm dứt một thực tế tiêu cực đã xảy ra trong thời gian qua, đó là, nhiều doanh nghiệp đã giả danh hợp tác xã để hưởng lợi từ chính sách của Nhà nước.

Thứ hai, việc phân biệt một cách rạch ròi doanh nghiệp với hợp tác xã còn có ý nghĩa kinh tế - xã hội to lớn, nó tạo cơ sở lý luận vững chắc để Nhà nước thấy rõ điểm mạnh, điểm yếu của hợp tác xã, giá trị kinh tế, giá trị xã hội của hợp tác xã so với doanh nghiệp, để trên cơ sở đó mạnh dạn đề ra các chính sách đặc thù có tính chất ưu đãi đối với hợp tác xã. Cũng cần phải khẳng định rằng, trong thời gian qua, Nhà nước ta cũng đã có không ít chính sách đặc thù dành cho hợp tác xã, tuy nhiên, do chưa nhận thức được một cách đầy đủ sự khác biệt giữa hợp tác xã với doanh nghiệp cũng như vai trò và tác dụng to lớn của hợp tác xã đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nên các chính sách này vẫn chưa được ban hành một cách đầy đủ, có hệ thống và đủ mạnh để đảm bảo cho hợp tác xã được thành lập và hoạt động một cách có hiệu quả. Hy vọng rằng, với nhận thức mới, đúng đắn về bản chất của hợp tác xã, thì sắp tới Nhà nước ta sẽ có nhiều chính sách hữu hiệu hơn cho các tổ chức kinh tế đặc thù này.

Thứ ba, việc phân biệt hợp tác xã với doanh nghiệp còn có ý nghĩa to lớn trong việc đưa ra các quy định đặc thù đối với hợp tác xã, mà từ trước đến nay do không có được sự phân biệt rõ ràng này nên đã không được quy định một cách đầy đủ trong Luật Hợp tác xã năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Cụ thể là, trên cơ sở tìm ra các điểm đặc thù, riêng có của hợp tác xã mà trong Dự thảo Luật Hợp tác xã đã được bổ sung nhiều quy định về các vấn đề rất cơ bản liên quan đến bản chất đích thực của hợp tác xã sau đây: Về giới hạn vốn góp tối đa của một thành viên trong vốn điều lệ của hợp tác xã (khoản 1 Điều 18); về sự bắt buộc thành viên phải sử dụng sản phẩm, dịch vụ của hợp tác xã và nếu vi phạm nghĩa vụ này thì thành viên có thể bị khai trừ khỏi hợp tác xã (điểm g khoản 1 Điều 17); về sự bắt buộc phải có quy định nhằm hạn chế việc hợp tác xã cung ứng sản phẩm, dịch vụ ra ngoài cộng đồng thành viên (khoản 3 Điều 9); về nguyên tắc, theo đó, một thành viên, bất luận địa vị pháp lý của mình là như thế nào đều có một phiếu trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến hợp tác xã (khoản 4 Điều 15); về sự đề cao nguyên tắc phân phối thu nhập theo mức độ sử dụng sản phẩm dịch vụ của hợp tác xã so với các nguyên tắc phân phối khác trong hợp tác xã (khoản 2 Điều 49); về sự cần thiết phải có tài sản chung không chia trong hợp tác xã (khoản 2 Điều 51)

2. Về mức vốn góp tối đa của một thành viên hợp tác xã (khoản 1 Điều 18)

Hợp tác xã là tổ chức được thành lập để đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng chung của các xã viên. Muốn thực hiện được nhiệm vụ này, thì không hợp tác xã nào lại không cần đến vốn góp của các thành viên để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho việc thực hiện các hoạt động kinh tế có liên quan. Tuy nhiên, nếu như đối với doanh nghiệp, vấn đề hạn chế việc góp vốn không bao giờ phải đặt ra thì đối với hợp tác xã, đây lại là vấn đề nóng. Nguyên nhân cơ bản của tình trạng này xuất phát từ tính chất đối nhân của hợp tác xã, đặc biệt là từ nguyên tắc bình đẳng trong quản lý của tất cả các xã viên. Về vấn đề này còn hai ý kiến khác nhau:

Ý kiến thứ nhất cho rằng, cần tiếp tục kế thừa quy định của Luật Hợp tác xã năm 2003, theo đó, “mức vốn góp tối đa của một thành viên hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã không vượt quá 30% vốn điều lệ của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã”.

Ý kiến thứ hai, dựa trên khuyến cáo của Liên minh Hợp tác xã Quốc tế, theo đó, Luật Hợp tác xã các nước không nên cho phép một thành viên góp vốn quá 20% vốn điều lệ của hợp tác xã và trên cơ sở nghiên cứu thực tế giải quyết vấn đề này ở nhiều nước trên thế giới (thực tế Luật Hợp tác xã các nước đều quy định mức vốn tối đa của một thành viên trong tổng số vốn điều lệ của một hợp tác xã là từ 5% đến 20%) cho rằng, mức vốn góp tối đa của một thành viên như quy định trong Luật Hợp tác xã năm 2003 là quá cao. Vì vậy, ý kiến này đề nghị Dự thảo Luật cần quy định theo hướng mức vốn góp tối đa của một thành viên hợp tác xã không được vượt quá 20% vốn điều lệ của hợp tác xã; mức vốn góp tối đa của thành viên liên hiệp hợp tác xã không vượt quá 30% vốn điều lệ của liên hiệp hợp tác xã.

Chúng tôi nhất trí với quan điểm thứ hai, theo đó, cần phải quy định mức vốn góp tối đa của một thành viên hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nhằm ghi nhận sự khác biệt giữa hợp tác xã với các loại hình doanh nghiệp, đặc biệt là để đề cao và bảo đảm thực hiện nguyên tắc bình đẳng trong quản lý hợp tác xã. Ngoài ra, nếu không khống chế số vốn góp tối đa thì thành viên có mức góp vốn cao sẽ được chia lãi nhiều hơn theo tỷ lệ vốn góp và như vậy sẽ vi phạm nguyên tắc, theo đó, thu nhập của hợp tác xã được phân chia chủ yếu theo tỷ lệ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của hợp tác xã. Sự cần thiết phải hạn chế mức vốn góp vào hợp tác xã của các thành viên còn xuất phát từ một nguyên tắc có tính chất nền tảng của hợp tác xã là một thành viên chỉ có một phiếu biểu quyết. Mục đích của việc thành lập nguyên tắc này là nhằm đảm bảo tính dân chủ, bình đẳng trong quản lý hợp tác xã, do đó, nếu không hạn chế mức vốn góp tối đa, để thành viên muốn góp vốn bao nhiêu cũng được, thì nguyên tắc này sẽ bị vô hiệu hóa vì trên thực tế, người có quá nhiều vốn sẽ có thực quyền hơn so với người góp ít vốn. Mặt khác, nếu để cho một thành viên góp vốn với tỷ lệ quá cao thì việc rút vốn của thành viên này sẽ làm cho hợp tác xã phải giải thể. Nghiên cứu kinh nghiệm các nước cho thấy, trong các luật về hợp tác xã đều có quy định hạn chế tỷ lệ góp vốn của thành viên. Trên cơ sở cân nhắc điều kiện thực tiễn của Việt Nam hiện nay và với việc quy định thêm một số cơ chế mới nhằm giúp hợp tác xã có thể huy động thêm vốn để hoạt động mà không cần đến phương pháp tăng vốn góp từ các thành viên, Điều 47 Dự thảo Luật Hợp tác xã đã quy định tỷ lệ này là 20% đối với hợp tác xã. Chúng tôi đồng ý với việc hạ tỷ lệ này.

3. Về giới hạn sản phẩm, dịch vụ mà hợp tác xã được cung cấp cho thị trường bên ngoài cộng đồng thành viên (khoản 1 Điều 9)

Như trên đã trình bày, khác với doanh nghiệp, hợp tác xã được thành lập là để phục vụ các thành viên của mình thông qua việc đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng chung của các xã viên. Tuy nhiên, trên thực tế, trong nhiều trường hợp, ngoài việc tập trung năng lực để đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng chung của các thành viên thì hợp tác xã vẫn còn dư năng lực để có thể đáp ứng các nhu cầu của các chủ thể khác không phải là thành viên của hợp tác xã. Vì vậy, đã đặt ra vấn đề là có nên cho phép hợp tác xã cung ứng sản phẩm, dịch vụ ra bên ngoài hay không và nếu cho phép thì nên ở mức độ nào là hợp lý. Hiện đang có hai ý kiến khác nhau về vấn đề này.

Ý kiến thứ nhất cho rằng, Nhà nước không nên khống chế trong pháp luật về tỷ lệ sản phẩm, dịch vụ mà hợp tác xã được cung cấp cho thị trường bên ngoài mà nên giao cho hợp tác xã tự quy định tỷ lệ này trong Điều lệ của mình.

Ý kiến thứ hai lại cho rằng, Nhà nước cần khống chế tỷ lệ sản phẩm, dịch vụ mà hợp tác xã được cung cấp cho thị trường bên ngoài mà không nên giao cho hợp tác xã tự quy định.

Để giải quyết vấn đề này cần xuất phát từ một vấn đề có tính chất nền tảng, đó là lý do ra đời của hợp tác xã. Như đã khẳng định ở trên, hợp tác xã là một tổ chức kinh tế do các thành viên lập ra nhằm giúp các thành viên thoả mãn tốt hơn các nhu cầu, nguyện vọng chung của mình, do đó, về nguyên tắc, mọi năng lực của hợp tác xã trước hết phải được sử dụng nhằm phục vụ cho các thành viên rồi sau đó nếu còn khả năng thì mới tham gia cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho thị trường bên ngoài. Trên quan điểm như vậy, chúng tôi đồng ý với ý kiến thứ hai, theo đó, việc khống chế tỷ lệ sản phẩm, dịch vụ mà hợp tác xã được phép cung cấp cho thị trường bên ngoài cộng đồng thành viên là vấn đề có tính nguyên tắc, do đó cần phải được quy định trong pháp luật. Vấn đề tiếp theo là cần khống chế tỷ lệ này bằng văn bản nào (luật hay văn bản dưới luật) và bao nhiêu thì vừa? Về vấn đề này, các nước khác nhau có cách giải quyết khác nhau. Ví dụ, ở Thái Lan, luật cấm hợp tác xã cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho những đối tượng không phải là thành viên hợp tác xã. Trong khi đó, pháp luật của nhiều nước, trong đó có Cộng hòa Pháp và Hàn Quốc thì lại cho phép hợp tác xã có quyền này nhưng ở một mức độ nhất định, thông thường là không quá 20%. Ở Bang Québec (Canada), thì tỷ lệ này được xác định ngay trong luật là không quá 50% tổng số sản phẩm, dịch vụ mà hợp tác xã cung ứng trong năm. Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, chúng tôi nhất trí với quy định của Dự thảo Luật theo hướng không quy định tỷ lệ hạn chế ngay trong Luật, mà nên giao cho điều lệ hợp tác xã xác định tỷ lệ cụ thể trên cơ sở hướng dẫn của Chính phủ để bảo đảm tỷ lệ này được xác định phù hợp với từng hợp tác xã trong các ngành, lĩnh vực và phù hợp với từng giai đoạn nhất định.

4. Về việc hợp tác xã thành lập công ty, góp vốn, mua cổ phần vào doanh nghiệp khác (khoản 8 Điều 9)

Vấn đề hợp tác xã có quyền thành lập công ty, góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp khác hay không cũng có hai ý kiến khác nhau.

Ý kiến thứ nhất cho rằng, Luật Doanh nghiệp năm 2005 không cấm các pháp nhân, trong đó có hợp tác xã tham gia góp vốn, mua cổ phần, thành lập doanh nghiệp nên đề nghị Luật Hợp tác xã mới không nên “truất” quyền này của hợp tác xã.

Ý kiến thứ hai cho rằng, hợp tác xã được tham gia góp vốn, mua cổ phần, thành lập doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005 nhưng cần tuân thủ một số yêu cầu và điều kiện nhất định do Chính phủ quy định để tránh rủi ro cho hợp tác xã, đồng thời bảo đảm cho hợp tác xã luôn giữ được bản chất đích thực của mình.

Chúng tôi nhất trí với chủ trương cho phép hợp tác xã được thành lập doanh nghiệp và góp vốn, mua cổ phần ở các doanh nghiệp khác theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 nhưng cũng cần có khuôn khổ pháp lý nhất định cho việc thực hiện các quyền này. Ví dụ, phải có quy định theo hướng hợp tác xã không thể thành lập công ty để kinh doanh bất cứ ngành nghề, sản phẩm, dịch vụ nào mà chỉ được kinh doanh những ngành nghề, sản phẩm, dịch vụ có liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của các thành viên, góp phần giúp hợp tác xã thỏa mãn tốt hơn các nhu cầu, nguyện vọng chung của họ. Ngoài ra, để hạn chế tình trạng hợp tác xã có thể sử dụng một cách tùy tiện các quyền này, cần nghiên cứu, bổ sung quy định về việc hạn chế một tỷ lệ vốn góp trên vốn điều lệ của hợp tác xã mà hợp tác xã được phép sử dụng để đầu tư thành lập công ty trực thuộc hoặc góp vốn, mua cổ phần.

5. Về chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển hợp tác xã

Hợp tác xã là một loại hình tổ chức kinh tế mà các thành viên tham gia thường là những người yếu thế trong xã hội. Vì vậy, các nước đều có chính sách đặc thù theo hướng dành cho hợp tác xã một số chính sách ưu đãi để hỗ trợ hợp tác xã phát triển. Ở Việt Nam cũng vậy, sự quan tâm này được thể hiện ở chỗ, trong Dự thảo Luật Hợp tác xã đã dành hẳn một chương để quy định về vấn đề này. Tuy nhiên, trong khi nhất trí cao với sự cần thiết phải có chương này, thì nhiều người lại không đạt được sự thống nhất trong cách thức ghi nhận các chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối với hợp tác xã. Hiện nay, có hai loại ý kiến khác nhau về vấn đề này: Ý kiến thứ nhất cho rằng, cần quy định cụ thể, chi tiết ngay trong Luật Hợp tác xã các chính sách hỗ trợ đối với hợp tác xã; ý kiến thứ hai cho rằng, Luật này chỉ cần có các quy định mang tính nguyên tắc về chính sách hỗ trợ hợp tác xã, còn các chính sách cụ thể sẽ do Chính phủ ban hành căn cứ vào tình hình hoạt động của các loại hình hợp tác xã và nguồn lực của Nhà nước trong từng giai đoạn.

Chúng tôi cho rằng, đối với các chính sách hỗ trợ, pháp luật càng quy định rõ ràng, cụ thể càng tốt cho hợp tác xã. Tuy nhiên, việc thực hiện các chính sách này đòi hỏi phải có nguồn lực, phải căn cứ vào tình hình cụ thể của từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và của kinh tế hợp tác nói riêng, nên nếu quy định cụ thể các chính sách trong Luật thì một mặt, dễ dẫn đến tình trạng thiếu khả thi, mặt khác, lại bị cứng nhắc, khó thay đổi để đáp ứng một cách linh hoạt với tình hình của thực tiễn luôn biến động. Vì vậy, Luật Hợp tác xã chỉ cần đưa ra một số quy định mang tính nguyên tắc về chính sách hỗ trợ đối với hợp tác xã và giao Chính phủ quy định cụ thể các chính sách này cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

TS. Dương Đức Chính

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: