Thứ ba 14/07/2026 17:51
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau trong Dự thảo Luật Hợp tác xã

Dự án Luật Hợp tác xã (sửa đổi) nhằm thay thế Luật Hợp tác xã năm 2003 đã được soạn thảo công phu, tổ chức lấy ý kiến rộng rãi của các Bộ, ngành, địa phương, hệ thống tổ chức hợp tác xã và vừa qua đã được Quốc hội khóa XIII cho ý kiến bước đầu tại kỳ họp lần thứ 3 diễn ra từ ngày 20/5 đến ngày 21/6/2012 tại Hà Nội.

Dự án Luật Hợp tác xã (sửa đổi) nhằm thay thế Luật Hợp tác xã năm 2003 đã được soạn thảo công phu, tổ chức lấy ý kiến rộng rãi của các Bộ, ngành, địa phương, hệ thống tổ chức hợp tác xã và vừa qua đã được Quốc hội khóa XIII cho ý kiến bước đầu tại kỳ họp lần thứ 3 diễn ra từ ngày 20/5 đến ngày 21/6/2012 tại Hà Nội. Theo kế hoạch, tại kỳ họp thứ 4 vào tháng 10 năm nay, Quốc hội sẽ thông qua Dự án Luật này. Dự án Luật sẽ tạo ra khung pháp luật mới, góp phần bảo đảm quyền, lợi ích cũng như thực hiện nghĩa vụ của thành viên hợp tác xã; tiếp tục tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, công bằng, bình đẳng cho hợp tác xã trên cơ sở tổng kết thực tiễn phát triển hợp tác xã ở nước ta và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế về phát triển hợp tác xã. Tuy nhiên, cho đến nay, xung quanh Dự thảo Luật này cũng còn một số vấn đề có ý kiến khác nhau cần được trao đổi, cân nhắc kỹ để lựa chọn phương án xử lý tối ưu nhất. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi muốn góp một vài suy nghĩ của mình về quan điểm giải quyết các vấn đề còn có ý kiến khác nhau, cụ thể như sau:

1. Về bản chất của hợp tác xã và ý nghĩa thực tiễn của việc xác định đúng bản chất của hợp tác xã

1.1. Sự khác nhau giữa hợp tác xã với doanh nghiệp

Việc làm rõ bản chất của hợp tác xã là vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu trong Dự thảo Luật Hợp tác xã (sửa đổi), bởi vì, bản chất của hợp tác xã là yếu tố quyết định nội dung của các vấn đề quan trọng khác liên quan đến hợp tác xã như quyền, nghĩa vụ của thành viên; quyền, nghĩa vụ của hợp tác xã; cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý hợp tác xã; xử lý tài sản khi giải thể hợp tác xã… Việc làm rõ bản chất của hợp tác xã còn có một ý nghĩa quan trọng khác là tạo cơ sở lý luận và thực tiễn để Nhà nước ban hành các chính sách ưu đãi, hỗ trợ có tính chất đặc thù cho hợp tác xã, khác với các chính sách chung mà Nhà nước đã ban hành để áp dụng cho các loại hình chủ thể kinh doanh khác đang hoạt động trong nền kinh tế nước ta, trong đó có doanh nghiệp. Hiện nay vẫn còn tồn tại hai loại ý kiến khác nhau về bản chất của hợp tác xã.

Ý kiến thứ nhất cho rằng, hợp tác xã phải được coi là một loại hình doanh nghiệp, trong khi đó, ý kiến thứ hai lại cho rằng, một hợp tác xã đích thực thì không thể bao giờ có tư cách ấy.

Chúng tôi cho rằng, giữa hợp tác xã và doanh nghiệp không phải không có điểm gì giống nhau. Ví dụ, giống như doanh nghiệp, hợp tác xã cũng phải đăng ký kinh doanh, phải đóng thuế thu nhập doanh nghiệp, phải phá sản khi lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn... Tuy nhiên, không thể vì thế mà coi hợp tác xã là một loại hình doanh nghiệp vì các lý do chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, xét về mặt thực tiễn lập pháp

Hiện nay, ở nước ta, doanh nghiệp và hợp tác xã được điều chỉnh bởi luật riêng. Các loại hình doanh nghiệp (doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần và công ty hợp danh) được điều chỉnh trong cùng một đạo luật là Luật Doanh nghiệp năm 2005. Hợp tác xã cũng có luật riêng của mình là Luật Hợp tác xã năm 2003. Vấn đề đặt ra là, nếu là một loại hình doanh nghiệp thì tại sao hợp tác xã đã không được đưa vào điều chỉnh trong Luật Doanh nghiệp năm 2005? Như vậy, việc tồn tại một cách riêng biệt hai hệ thống pháp luật về doanh nghiệp và hợp tác xã (mà nòng cốt là Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Luật Hợp tác xã năm 2003) là một căn cứ về mặt lập pháp cho thấy, không thể coi hợp tác xã là một loại hình doanh nghiệp theo đúng nghĩa của nó. Sự phân biệt doanh nghiệp với hợp tác xã còn được thể hiện ở chỗ, trong các luật có liên quan đều tách riêng khái niệm doanh nghiệp và hợp tác xã. Ví dụ, khi quy định đối tượng áp dụng của Luật Phá sản năm 2004, Điều 2 của Luật này đã xác định đối tượng bị phá sản bên cạnh các loại hình doanh nghiệp còn có một chủ thể khác là hợp tác xã. Như vậy, trong pháp luật hiện hành của Nhà nước ta đã không có sự đánh đồng giữa hợp tác xã với doanh nghiệp.

Thứ hai, xét về các đặc điểm của doanh nghiệp và hợp tác xã

Muốn xác định hợp tác xã là gì, có phải là doanh nghiệp hay không, cần phải xuất phát từ các đặc điểm riêng có của nó. Qua nghiên cứu, chúng tôi cho rằng, hợp tác xã khác với doanh nghiệp ở một số đặc thù chủ yếu sau đây:

+ Về lý do ra đời: Nếu như doanh nghiệp ra đời là để đáp ứng nhu cầu của thị trường, tức là nhu cầu của đông đảo người tiêu dùng trong xã hội, thì hợp tác xã ra đời là để đáp ứng các nhu cầu, nguyện vọng, lợi ích chung của một nhóm người nhất định – những người đã thành lập ra hợp tác xã. Đặc điểm này đã làm cho hợp tác xã không thể có đầy đủ các quyền trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, trong đó có quyền tự do lựa chọn ngành nghề, mặt hàng kinh doanh như các loại hình doanh nghiệp.

+ Về tư cách pháp lý của thành viên: Nếu như đối với doanh nghiệp, người tham gia thành lập doanh nghiệp chỉ có một tư cách duy nhất là nhà đầu tư (nhà kinh doanh) thì đối với hợp tác xã, thành viên luôn có hai tư cách: Họ vừa là người chủ của hợp tác xã lại, vừa là khách hàng của hợp tác xã (người sử dụng sản phẩm, dịch vụ của hợp tác xã).

+ Về mục đích hoạt động: Nếu như doanh nghiệp được thành lập là để kinh doanh, do đó, mục đích hàng đầu của doanh nghiệp là tìm kiếm lợi nhuận thì mục đích hoạt động của hợp tác xã lại hoàn toàn khác. Để đem lại lợi ích cho thành viên thông qua việc cung ứng sản phẩm, dịch vụ cho họ thì cũng như các tổ chức kinh tế khác, hợp tác xã phải lựa chọn phương án đầu tư, sản xuất, kinh doanh thích hợp và có hiệu quả, tức là, mọi hoạt động của hợp tác xã với thị trường bên ngoài phải được tính toán trên cơ sở lấy thu bù chi và đảm bảo có thu nhập. Tuy nhiên, không phải vì thế mà cho rằng, hợp tác xã hoạt động vì mục đích lợi nhuận. Đó là điểm khác giữa hợp tác xã và doanh nghiệp xét về mục đích hoạt động. Ngoài ra, trên phương diện này, hợp tác xã còn khác doanh nghiệp ở chỗ, bên cạnh mục đích tối đa hóa lợi ích cho các xã viên, hợp tác xã còn có các mục tiêu cao cả khác mà doanh nghiệp không thể có được, đó là sự tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên, sự quan tâm đến sự phát triển của cộng đồng.

+ Về cơ chế quản lý: Nếu như trong doanh nghiệp, đặc biệt là trong các công ty đối vốn như công ty cổ phần, quyền lực nói chung và quyền lực trong việc quyết định các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp nói riêng được phân bổ cho các thành viên theo tỷ lệ vốn góp của họ (ai góp nhiều vốn thì người đó có nhiều quyền lực và ngược lại), thì trong hợp tác xã, tất cả các thành viên đều có quyền ngang nhau mà không phụ thuộc vào số lượng vốn mà họ đã góp vào hợp tác xã là nhiều hay ít. Tóm lại, nguyên tắc bình đẳng trong quản lý luôn là đặc điểm nổi trội, giúp hợp tác xã khác biệt với doanh nghiệp.

+ Về nguyên tắc phân phối thu nhập: Nếu như trong doanh nghiệp, lợi nhuận thu được được phân chia cho các thành viên chủ yếu theo tỷ lệ vốn góp thì trong hợp tác xã lại áp dụng một nguyên tắc hoàn toàn khác, đó là, nguyên tắc phân chia thu nhập chủ yếu theo mức độ sử dụng sản phẩm và dịch vụ của hợp tác xã. Điều này có nghĩa là, trong hợp tác xã, thành viên nào sử dụng nhiều sản phẩm, dịch vụ do hợp tác xã cung ứng, thì thành viên đó được hưởng nhiều hơn từ thu nhập do hợp tác xã mang lại. Như vậy, việc phân chia thu nhập theo vốn góp trong hợp tác xã, nếu có thì cũng chỉ là nguyên tắc có vị trí thứ yếu mà thôi.

1.2. Ý nghĩa thực tiễn của việc xác định đúng bản chất của hợp tác xã

Việc xác định đúng bản chất của hợp tác xã thông qua việc phân biệt nó với doanh nghiệp không chỉ có ý nghĩa về mặt học thuật mà còn có giá trị thực tiễn to lớn, cụ thể là:

Thứ nhất, góp phần chấm dứt tình trạng đang rất phổ biến hiện nay là nhiều doanh nghiệp đã lợi dụng tư cách hợp tác xã để trục lợi thông qua việc hưởng dụng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ mà Nhà nước đã ban hành chỉ để dành riêng cho hợp tác xã.

Như trên đã phân tích, một hợp tác xã đích thực thì không thể có tư cách là doanh nghiệp. Đó là hai chủ thể tuy có thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh trên thương trường nhưng khác hẳn nhau về bản chất. Cũng như đã trình bày ở phần trên, xuất phát từ các đặc thù riêng của mình nên hợp tác xã ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam luôn được Nhà nước dành cho những ưu đãi, hỗ trợ nhất định mà các doanh nghiệp không có quyền được hưởng. Tuy nhiên, thực tế ở nước ta thời gian qua cũng đã cho thấy, không ít chủ thể kinh doanh tuy được gọi là hợp tác xã nhưng thực chất lại là doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp biết mình không phải là hợp tác xã nhưng vẫn tự xưng là hợp tác xã cốt để được hưởng các chính sách ưu đãi mà chỉ có những hợp tác xã đích thực mới được hưởng. Vì vậy, nếu Luật Hợp tác xã (mới) được ban hành với một sự phân biệt rạch ròi hợp tác xã với doanh nghiệp thì sự “đội lốt” này chắc chắn sẽ không còn cơ sở pháp lý để tồn tại và như vậy Luật này sẽ góp phần to lớn vào việc chấm dứt một thực tế tiêu cực đã xảy ra trong thời gian qua, đó là, nhiều doanh nghiệp đã giả danh hợp tác xã để hưởng lợi từ chính sách của Nhà nước.

Thứ hai, việc phân biệt một cách rạch ròi doanh nghiệp với hợp tác xã còn có ý nghĩa kinh tế - xã hội to lớn, nó tạo cơ sở lý luận vững chắc để Nhà nước thấy rõ điểm mạnh, điểm yếu của hợp tác xã, giá trị kinh tế, giá trị xã hội của hợp tác xã so với doanh nghiệp, để trên cơ sở đó mạnh dạn đề ra các chính sách đặc thù có tính chất ưu đãi đối với hợp tác xã. Cũng cần phải khẳng định rằng, trong thời gian qua, Nhà nước ta cũng đã có không ít chính sách đặc thù dành cho hợp tác xã, tuy nhiên, do chưa nhận thức được một cách đầy đủ sự khác biệt giữa hợp tác xã với doanh nghiệp cũng như vai trò và tác dụng to lớn của hợp tác xã đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nên các chính sách này vẫn chưa được ban hành một cách đầy đủ, có hệ thống và đủ mạnh để đảm bảo cho hợp tác xã được thành lập và hoạt động một cách có hiệu quả. Hy vọng rằng, với nhận thức mới, đúng đắn về bản chất của hợp tác xã, thì sắp tới Nhà nước ta sẽ có nhiều chính sách hữu hiệu hơn cho các tổ chức kinh tế đặc thù này.

Thứ ba, việc phân biệt hợp tác xã với doanh nghiệp còn có ý nghĩa to lớn trong việc đưa ra các quy định đặc thù đối với hợp tác xã, mà từ trước đến nay do không có được sự phân biệt rõ ràng này nên đã không được quy định một cách đầy đủ trong Luật Hợp tác xã năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Cụ thể là, trên cơ sở tìm ra các điểm đặc thù, riêng có của hợp tác xã mà trong Dự thảo Luật Hợp tác xã đã được bổ sung nhiều quy định về các vấn đề rất cơ bản liên quan đến bản chất đích thực của hợp tác xã sau đây: Về giới hạn vốn góp tối đa của một thành viên trong vốn điều lệ của hợp tác xã (khoản 1 Điều 18); về sự bắt buộc thành viên phải sử dụng sản phẩm, dịch vụ của hợp tác xã và nếu vi phạm nghĩa vụ này thì thành viên có thể bị khai trừ khỏi hợp tác xã (điểm g khoản 1 Điều 17); về sự bắt buộc phải có quy định nhằm hạn chế việc hợp tác xã cung ứng sản phẩm, dịch vụ ra ngoài cộng đồng thành viên (khoản 3 Điều 9); về nguyên tắc, theo đó, một thành viên, bất luận địa vị pháp lý của mình là như thế nào đều có một phiếu trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến hợp tác xã (khoản 4 Điều 15); về sự đề cao nguyên tắc phân phối thu nhập theo mức độ sử dụng sản phẩm dịch vụ của hợp tác xã so với các nguyên tắc phân phối khác trong hợp tác xã (khoản 2 Điều 49); về sự cần thiết phải có tài sản chung không chia trong hợp tác xã (khoản 2 Điều 51)

2. Về mức vốn góp tối đa của một thành viên hợp tác xã (khoản 1 Điều 18)

Hợp tác xã là tổ chức được thành lập để đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng chung của các xã viên. Muốn thực hiện được nhiệm vụ này, thì không hợp tác xã nào lại không cần đến vốn góp của các thành viên để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho việc thực hiện các hoạt động kinh tế có liên quan. Tuy nhiên, nếu như đối với doanh nghiệp, vấn đề hạn chế việc góp vốn không bao giờ phải đặt ra thì đối với hợp tác xã, đây lại là vấn đề nóng. Nguyên nhân cơ bản của tình trạng này xuất phát từ tính chất đối nhân của hợp tác xã, đặc biệt là từ nguyên tắc bình đẳng trong quản lý của tất cả các xã viên. Về vấn đề này còn hai ý kiến khác nhau:

Ý kiến thứ nhất cho rằng, cần tiếp tục kế thừa quy định của Luật Hợp tác xã năm 2003, theo đó, “mức vốn góp tối đa của một thành viên hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã không vượt quá 30% vốn điều lệ của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã”.

Ý kiến thứ hai, dựa trên khuyến cáo của Liên minh Hợp tác xã Quốc tế, theo đó, Luật Hợp tác xã các nước không nên cho phép một thành viên góp vốn quá 20% vốn điều lệ của hợp tác xã và trên cơ sở nghiên cứu thực tế giải quyết vấn đề này ở nhiều nước trên thế giới (thực tế Luật Hợp tác xã các nước đều quy định mức vốn tối đa của một thành viên trong tổng số vốn điều lệ của một hợp tác xã là từ 5% đến 20%) cho rằng, mức vốn góp tối đa của một thành viên như quy định trong Luật Hợp tác xã năm 2003 là quá cao. Vì vậy, ý kiến này đề nghị Dự thảo Luật cần quy định theo hướng mức vốn góp tối đa của một thành viên hợp tác xã không được vượt quá 20% vốn điều lệ của hợp tác xã; mức vốn góp tối đa của thành viên liên hiệp hợp tác xã không vượt quá 30% vốn điều lệ của liên hiệp hợp tác xã.

Chúng tôi nhất trí với quan điểm thứ hai, theo đó, cần phải quy định mức vốn góp tối đa của một thành viên hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nhằm ghi nhận sự khác biệt giữa hợp tác xã với các loại hình doanh nghiệp, đặc biệt là để đề cao và bảo đảm thực hiện nguyên tắc bình đẳng trong quản lý hợp tác xã. Ngoài ra, nếu không khống chế số vốn góp tối đa thì thành viên có mức góp vốn cao sẽ được chia lãi nhiều hơn theo tỷ lệ vốn góp và như vậy sẽ vi phạm nguyên tắc, theo đó, thu nhập của hợp tác xã được phân chia chủ yếu theo tỷ lệ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của hợp tác xã. Sự cần thiết phải hạn chế mức vốn góp vào hợp tác xã của các thành viên còn xuất phát từ một nguyên tắc có tính chất nền tảng của hợp tác xã là một thành viên chỉ có một phiếu biểu quyết. Mục đích của việc thành lập nguyên tắc này là nhằm đảm bảo tính dân chủ, bình đẳng trong quản lý hợp tác xã, do đó, nếu không hạn chế mức vốn góp tối đa, để thành viên muốn góp vốn bao nhiêu cũng được, thì nguyên tắc này sẽ bị vô hiệu hóa vì trên thực tế, người có quá nhiều vốn sẽ có thực quyền hơn so với người góp ít vốn. Mặt khác, nếu để cho một thành viên góp vốn với tỷ lệ quá cao thì việc rút vốn của thành viên này sẽ làm cho hợp tác xã phải giải thể. Nghiên cứu kinh nghiệm các nước cho thấy, trong các luật về hợp tác xã đều có quy định hạn chế tỷ lệ góp vốn của thành viên. Trên cơ sở cân nhắc điều kiện thực tiễn của Việt Nam hiện nay và với việc quy định thêm một số cơ chế mới nhằm giúp hợp tác xã có thể huy động thêm vốn để hoạt động mà không cần đến phương pháp tăng vốn góp từ các thành viên, Điều 47 Dự thảo Luật Hợp tác xã đã quy định tỷ lệ này là 20% đối với hợp tác xã. Chúng tôi đồng ý với việc hạ tỷ lệ này.

3. Về giới hạn sản phẩm, dịch vụ mà hợp tác xã được cung cấp cho thị trường bên ngoài cộng đồng thành viên (khoản 1 Điều 9)

Như trên đã trình bày, khác với doanh nghiệp, hợp tác xã được thành lập là để phục vụ các thành viên của mình thông qua việc đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng chung của các xã viên. Tuy nhiên, trên thực tế, trong nhiều trường hợp, ngoài việc tập trung năng lực để đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng chung của các thành viên thì hợp tác xã vẫn còn dư năng lực để có thể đáp ứng các nhu cầu của các chủ thể khác không phải là thành viên của hợp tác xã. Vì vậy, đã đặt ra vấn đề là có nên cho phép hợp tác xã cung ứng sản phẩm, dịch vụ ra bên ngoài hay không và nếu cho phép thì nên ở mức độ nào là hợp lý. Hiện đang có hai ý kiến khác nhau về vấn đề này.

Ý kiến thứ nhất cho rằng, Nhà nước không nên khống chế trong pháp luật về tỷ lệ sản phẩm, dịch vụ mà hợp tác xã được cung cấp cho thị trường bên ngoài mà nên giao cho hợp tác xã tự quy định tỷ lệ này trong Điều lệ của mình.

Ý kiến thứ hai lại cho rằng, Nhà nước cần khống chế tỷ lệ sản phẩm, dịch vụ mà hợp tác xã được cung cấp cho thị trường bên ngoài mà không nên giao cho hợp tác xã tự quy định.

Để giải quyết vấn đề này cần xuất phát từ một vấn đề có tính chất nền tảng, đó là lý do ra đời của hợp tác xã. Như đã khẳng định ở trên, hợp tác xã là một tổ chức kinh tế do các thành viên lập ra nhằm giúp các thành viên thoả mãn tốt hơn các nhu cầu, nguyện vọng chung của mình, do đó, về nguyên tắc, mọi năng lực của hợp tác xã trước hết phải được sử dụng nhằm phục vụ cho các thành viên rồi sau đó nếu còn khả năng thì mới tham gia cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho thị trường bên ngoài. Trên quan điểm như vậy, chúng tôi đồng ý với ý kiến thứ hai, theo đó, việc khống chế tỷ lệ sản phẩm, dịch vụ mà hợp tác xã được phép cung cấp cho thị trường bên ngoài cộng đồng thành viên là vấn đề có tính nguyên tắc, do đó cần phải được quy định trong pháp luật. Vấn đề tiếp theo là cần khống chế tỷ lệ này bằng văn bản nào (luật hay văn bản dưới luật) và bao nhiêu thì vừa? Về vấn đề này, các nước khác nhau có cách giải quyết khác nhau. Ví dụ, ở Thái Lan, luật cấm hợp tác xã cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho những đối tượng không phải là thành viên hợp tác xã. Trong khi đó, pháp luật của nhiều nước, trong đó có Cộng hòa Pháp và Hàn Quốc thì lại cho phép hợp tác xã có quyền này nhưng ở một mức độ nhất định, thông thường là không quá 20%. Ở Bang Québec (Canada), thì tỷ lệ này được xác định ngay trong luật là không quá 50% tổng số sản phẩm, dịch vụ mà hợp tác xã cung ứng trong năm. Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, chúng tôi nhất trí với quy định của Dự thảo Luật theo hướng không quy định tỷ lệ hạn chế ngay trong Luật, mà nên giao cho điều lệ hợp tác xã xác định tỷ lệ cụ thể trên cơ sở hướng dẫn của Chính phủ để bảo đảm tỷ lệ này được xác định phù hợp với từng hợp tác xã trong các ngành, lĩnh vực và phù hợp với từng giai đoạn nhất định.

4. Về việc hợp tác xã thành lập công ty, góp vốn, mua cổ phần vào doanh nghiệp khác (khoản 8 Điều 9)

Vấn đề hợp tác xã có quyền thành lập công ty, góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp khác hay không cũng có hai ý kiến khác nhau.

Ý kiến thứ nhất cho rằng, Luật Doanh nghiệp năm 2005 không cấm các pháp nhân, trong đó có hợp tác xã tham gia góp vốn, mua cổ phần, thành lập doanh nghiệp nên đề nghị Luật Hợp tác xã mới không nên “truất” quyền này của hợp tác xã.

Ý kiến thứ hai cho rằng, hợp tác xã được tham gia góp vốn, mua cổ phần, thành lập doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005 nhưng cần tuân thủ một số yêu cầu và điều kiện nhất định do Chính phủ quy định để tránh rủi ro cho hợp tác xã, đồng thời bảo đảm cho hợp tác xã luôn giữ được bản chất đích thực của mình.

Chúng tôi nhất trí với chủ trương cho phép hợp tác xã được thành lập doanh nghiệp và góp vốn, mua cổ phần ở các doanh nghiệp khác theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 nhưng cũng cần có khuôn khổ pháp lý nhất định cho việc thực hiện các quyền này. Ví dụ, phải có quy định theo hướng hợp tác xã không thể thành lập công ty để kinh doanh bất cứ ngành nghề, sản phẩm, dịch vụ nào mà chỉ được kinh doanh những ngành nghề, sản phẩm, dịch vụ có liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của các thành viên, góp phần giúp hợp tác xã thỏa mãn tốt hơn các nhu cầu, nguyện vọng chung của họ. Ngoài ra, để hạn chế tình trạng hợp tác xã có thể sử dụng một cách tùy tiện các quyền này, cần nghiên cứu, bổ sung quy định về việc hạn chế một tỷ lệ vốn góp trên vốn điều lệ của hợp tác xã mà hợp tác xã được phép sử dụng để đầu tư thành lập công ty trực thuộc hoặc góp vốn, mua cổ phần.

5. Về chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển hợp tác xã

Hợp tác xã là một loại hình tổ chức kinh tế mà các thành viên tham gia thường là những người yếu thế trong xã hội. Vì vậy, các nước đều có chính sách đặc thù theo hướng dành cho hợp tác xã một số chính sách ưu đãi để hỗ trợ hợp tác xã phát triển. Ở Việt Nam cũng vậy, sự quan tâm này được thể hiện ở chỗ, trong Dự thảo Luật Hợp tác xã đã dành hẳn một chương để quy định về vấn đề này. Tuy nhiên, trong khi nhất trí cao với sự cần thiết phải có chương này, thì nhiều người lại không đạt được sự thống nhất trong cách thức ghi nhận các chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối với hợp tác xã. Hiện nay, có hai loại ý kiến khác nhau về vấn đề này: Ý kiến thứ nhất cho rằng, cần quy định cụ thể, chi tiết ngay trong Luật Hợp tác xã các chính sách hỗ trợ đối với hợp tác xã; ý kiến thứ hai cho rằng, Luật này chỉ cần có các quy định mang tính nguyên tắc về chính sách hỗ trợ hợp tác xã, còn các chính sách cụ thể sẽ do Chính phủ ban hành căn cứ vào tình hình hoạt động của các loại hình hợp tác xã và nguồn lực của Nhà nước trong từng giai đoạn.

Chúng tôi cho rằng, đối với các chính sách hỗ trợ, pháp luật càng quy định rõ ràng, cụ thể càng tốt cho hợp tác xã. Tuy nhiên, việc thực hiện các chính sách này đòi hỏi phải có nguồn lực, phải căn cứ vào tình hình cụ thể của từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và của kinh tế hợp tác nói riêng, nên nếu quy định cụ thể các chính sách trong Luật thì một mặt, dễ dẫn đến tình trạng thiếu khả thi, mặt khác, lại bị cứng nhắc, khó thay đổi để đáp ứng một cách linh hoạt với tình hình của thực tiễn luôn biến động. Vì vậy, Luật Hợp tác xã chỉ cần đưa ra một số quy định mang tính nguyên tắc về chính sách hỗ trợ đối với hợp tác xã và giao Chính phủ quy định cụ thể các chính sách này cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

TS. Dương Đức Chính

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: