Thứ bảy 14/03/2026 20:41
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề lý luận về quyền của người được thi hành án dân sự ở Việt Nam

Tóm tắt: Việc nhận diện rõ khái niệm, đặc điểm, nội dung quyền của người được thi hành án dân sự và những điều kiện bảo đảm quyền của người được thi hành án dân sự sẽ là cơ sở để vận dụng vào thực tiễn, đánh giá thực trạng bảo đảm quyền của người được thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay và góp phần vào công cuộc bảo vệ quyền của người được thi hành án dân sự nói riêng, quyền con người nói chung trong thời gian tới.


Abstract: The identification of the concept, features, content of rights of civil judgment creditor and the conditions for ensuring the rights of a civil judgment creditor will be the basis for the application in practice, for the assessment of the situation ensuring the rights of a civil judgment creditor in Vietnam today and contribute to the protection of rights of a civil judgment creditor in particular, human rights in general in the future.

Quyền của người được thi hành án dân sự (THADS) là một nội dung mới được quy định trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014 (Luật sửa đổi năm 2014). Trước đây, các pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989, năm 1993, năm 2004, thậm chí Luật Thi hành án dân sự năm 2008 chỉ quy định về quyền yêu cầu thi hành án, khi đó, các quyền của người được thi hành án còn mơ hồ, chưa cụ thể và nằm rải rác ở các văn bản. Chỉ đến khi Luật sửa đổi năm 2014 được ban hành thì quyền của người được thi hành án mới được quy định một cách tương đối đầy đủ, cụ thể.

1. Khái niệm, đặc điểm quyền của người được thi hành án dân sự

Theo quy định tại Điều 1, Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), THADS là hoạt động của nhiều tổ chức và cá nhân, bao gồm cả cơ quan THADS trong quá trình tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và trọng tài thương mại. Các bản án, quyết định được THADS bao gồm: Bản án, quyết định về dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự, phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Tòa án, quyết định của Tòa án giải quyết phá sản, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành và phán quyết, quyết định của trọng tài thương mại hoặc những bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm được thi hành án ngay, mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị.

Hoạt động THADS được thực hiện theo nguyên tắc và trình tự, thủ tục theo quy định của Luật Thi hành án dân sự, các văn bản hướng dẫn thi hành và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.

Khoản 2 Điều 3 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy định: “Người được thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng quyền, lợi ích trong bản án, quyết định được thi hành”.

Thực tế hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về thời điểm phát sinh khái niệm người được thi hành án, cụ thể:

Thứ nhất, khái niệm người được thi hành án phát sinh tại thời điểm cơ quan THADS thụ lý yêu cầu thi hành án[1]. Yêu cầu thi hành án làm phát sinh quá trình tổ chức thi hành án, đồng thời cũng làm phát sinh quyền, nghĩa vụ thi hành án của các đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đặc biệt là quyền, lợi ích của người được thi hành án theo nội dung bản án, quyết định của Tòa án (trừ trường hợp chủ động tổ chức thi hành án). Do vậy, khái niệm người được thi hành án cũng phát sinh từ thời điểm đó.

Thứ hai, khái niệm người được thi hành án phát sinh sau thời điểm hết thời gian tự nguyện thi hành án[2]. Theo quan điểm này, khái niệm người được thi hành án chỉ phát sinh sau thời gian người phải thi hành án tự nguyện thi hành, trừ trường hợp có việc tẩu tán tài sản như quy định tại khoản 2 Điều 45 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014). Trước và trong thời gian tự nguyện thi hành án, cá nhân, tổ chức có quyền, lợi ích theo bản án, quyết định phải thi hành án chưa có quyền yêu cầu thực hiện bản án, quyết định đó.

Thứ ba, khái niệm người được thi hành án phát sinh từ rất sớm, tại thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực thi hành hoặc chưa có hiệu lực thi hành nhưng thuộc trường hợp phải thi hành ngay[3]. Quan điểm này cho rằng, khái niệm người được thi hành án có từ rất sớm dù cá nhân, tổ chức có quyền, lợi ích tự đôn đốc thi hành hay cơ quan có thẩm quyền đôn đốc thi hành án; dù bản án được thi hành thông qua thủ tục tự nguyện hay không tự nguyện thi hành án. Trong các vụ án dân sự, lao động, hôn nhân và gia đình có các tên gọi như nguyên đơn, bị đơn; trong án hình sự có các tên gọi như bị can, bị cáo, người bị hại… Dù tên gọi khác nhau nhưng sau khi bản án, quyết định được đưa ra thi hành thì cơ quan, tổ chức, cá nhân được hưởng quyền lợi được gọi là bên được thi hành án và ngược lại, cá nhân, tổ chức có nghĩa vụ, trách nhiệm phải thi hành được gọi là bên phải thi hành án.

Quan điểm này còn trích dẫn Điều 49 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự quy định về thanh toán, chi, trả tiền, tài sản thi hành án. Theo quy định này thì khái niệm người được thi hành án phát sinh ngay cả khi cá nhân, tổ chức được hưởng quyền, lợi ích theo bản án, quyết định chưa yêu cầu thi hành án.

Người được thi hành án được đề cập nhiều trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014). Tuy nhiên, thời điểm phát sinh khái niệm người được thi hành án có nhiều quan điểm khác nhau, mỗi quan điểm đều có lý lẽ riêng. Tác giả đồng tình với quan thứ ba, theo đó, khái niệm người được thi hành án phát sinh từ khi có bản án, quyết định có hiệu lực thi hành án hoặc chưa có hiệu lực nhưng được cho thi hành án ngay, bởi sau khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực hoặc chưa có hiệu lực nhưng được cho thi hành án thì quyền, lợi ích của một bên đã được xác định cụ thể, đồng thời xác lập nghĩa vụ, trách nhiệm đối với bên kia gọi là bên được thi hành án.

Người được THADS là một chủ thể của quyền con người, vì thế, quyền của người được THADS cũng là quyền con người. Ở những giai đoạn khác nhau trước và trong quá trình tổ chức thi hành án, người được THADS cũng có những tâm lý, nhu cầu, yêu cầu khác nhau, do vậy, ở mỗi giai đoạn, cần đáp ứng các yếu tố, điều kiện thích hợp, đảm bảo để người được THADS có thể thụ hưởng quyền, lợi ích hợp pháp của mình một cách đầy đủ và toàn diện nhất.

Như vậy, có thể hiểu, quyền của người được THADS là khả năng mà người được THADS có thể khôi phục, thụ hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp của mình đầy đủ và toàn diện nhất, bao gồm cả những quyền, lợi ích hợp pháp được tuyên trong bản án, quyết định của Tòa án và cả những quyền trong quá trình tổ chức thi hành án.

Cũng như bất kỳ một quyền con người nào khác, quyền của người được THADS có một số đặc điểm cơ bản thể hiện ở các thuộc tính của nó, cụ thể:

- Tính phổ biến: Được thể hiện ở chỗ, quyền của người được THADS là những gì vốn có của người được THADS và được áp dụng bình đẳng cho tất cả người được THADS mà không phân biệt đối xử vì bất kỳ lý do gì như chủng tộc, dân tộc, giới tính, tôn giáo, thành phần xuất thân…[4].

- Tính không thể tước bỏ: Quyền của người được THADS cũng là quyền con người, do đó không thể bị tước bỏ hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể cả các cơ quan và quan chức nhà nước, trừ một số trường hợp được pháp luật quy định[5].

- Tính không thể phân chia: Các quyền của người được THADS đều quan trọng như nhau, về nguyên tắc, không có quyền nào được coi là có giá trị hơn quyền nào. Tuy nhiên, trên thực tế, tùy từng bối cảnh, giai đoạn cụ thể có thể ưu tiên thực hiện hoặc được chú ý bảo vệ một số quyền nhất định[6].

- Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau: Các quyền của người được THADS không tồn tại biệt lập mà tồn tại trong mối liên hệ phụ thuộc và tác động lẫn nhau. Sự vi phạm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo đảm các quyền khác. Ngược lại, tiến bộ trong việc bảo đảm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tích cực đến việc bảo đảm các quyền khác[7].

- Thuộc về những giá trị xã hội biểu hiện cho một nền tư pháp (hiểu theo nghĩa rộng) trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân.

- Là giá trị xã hội đặt ra nghĩa vụ đối với tất cả mọi người phải tôn trọng bởi họ có thể vi phạm.

- Là giá trị xã hội được ghi nhận và bảo vệ bằng Hiến pháp, pháp luật.

Bên cạnh các đặc điểm cơ bản trên, quyền của người được THADS còn có các đặc điểm riêng sau:

- Chủ thể được bảo vệ quyền là người được THADS, đó là cá nhân, tổ chức được hưởng quyền, lợi ích trong bản án, quyết định về dân sự của Tòa án, trọng tài thương mại, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh được thi hành.

- Đối tượng được bảo vệ là các quyền của người được THADS: Quyền tài sản, quyền nhân thân, quyền tiếp cận thông tin, quyền khiếu nại, tố cáo, quyền được bồi thường, quyền được chuyển giao quyền...

- Mục đích bảo vệ là để khôi phục, thụ hưởng quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp được tuyên trong bản án, quyết định của Tòa án và cả những quyền trong quá trình tổ chức thi hành án.

2. Nội dung quyền của người được thi hành án dân sự

Các quyền của người được THADS có ý nghĩa quan trọng đối với người được THADS. Tuy nhiên, không phải trường hợp nào bên thua kiện (trở thành bên người phải thi hành án) cũng ngay lập tức thi hành bản án, quyết định của Tòa án một cách tự nguyện và nhanh chóng đúng trong thời hạn được ấn định. Có không ít trường hợp, cá nhân, cơ quan, tổ chức có những hành vi can thiệp, cản trở, gây trở ngại hoạt động thi hành án, làm trái pháp luật trong thi hành án… Đây được coi là các hành vi vi phạm trong hoạt động THADS, được hiểu chung nhất là hành vi của cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện với lỗi cố ý, vi phạm các quy định của pháp luật THADS và cản trở, gây trở ngại cho hoạt động THADS, gián tiếp gây trở ngại cho việc tiếp cận các quyền của người được THADS. Hay nói một cách khác, quyền của người được THADS là khả năng mà người được THADS có thể khôi phục, thụ hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp của mình đầy đủ và toàn diện nhất, bao gồm cả những quyền, lợi ích hợp pháp được tuyên trong bản án, quyết định của Tòa án và cả những quyền trong quá trình tổ chức thi hành án.

Mặc dù trong quá trình tổ chức thi hành án, hoạt động THADS có lúc, có nơi, có vụ việc cũng còn tình trạng xâm phạm đến quyền của người phải thi hành án. Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết, tác giả chỉ tập trung vào phân tích quyền của người được thi hành án, theo đó, áp dụng phương pháp tiếp cận dựa trên quyền, có thể chia quyền của người được THADS thành hai nhóm:

Thứ nhất, quyền, lợi ích hợp pháp đối với những nội dung mà bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên có hiệu lực pháp luật bao gồm quyền nhân thân, quyền tài sản...

Quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác (Điều 24 Bộ luật Dân sự năm 2015). Bên cạnh đó, từ Điều 26 đến Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định cụ thể các quyền nhân thân.

Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác (Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015). Như vậy, một mặt, quyền tài sản là tài sản; mặt khác, một quyền tài sản phải bao gồm hai yếu tố: Trị giá được bằng tiền và chuyển giao được trong giao lưu dân sự. Bên cạnh đó, các quyền không thể được chuyển nhượng trong giao lưu dân sự do gắn liền với nhân thân của người có quyền, dù trị giá được bằng tiền (như quyền được cấp dưỡng, quyền hưởng trợ cấp hưu trí…) là quyền nhân thân gắn liền với tài sản.

Đây là nhóm quyền đã bị xâm phạm trước khi có bản án, quyết định của Tòa án hoặc phát sinh trong quá trình Tòa án giải quyết, xét xử. Tựu trung lại, hoạt động THADS nhằm mục đích khôi phục, bảo vệ nhóm quyền này của người được THADS.

Thứ hai, quyền, lợi ích hợp pháp trong quá trình tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bao gồm: Quyền tiếp cận thông tin, quyền về tài sản, quyền khiếu nại, tố cáo, quyền được bồi thường trong hoạt động THADS…

Các quyền chính trị bao gồm công lý trung lập trong pháp luật, chẳng hạn như quyền lợi của người được THADS, trong đó có quyền được tổ chức thi hành án công bằng; pháp luật đúng thủ tục và quy trình; quyền khiếu nại, tố cáo; quyền đòi bồi thường hoặc khắc phục thiệt hại xuất phát từ lỗi của chấp hành viên, cơ quan THADS hoặc các cá nhân, tổ chức có liên quan... Đây là nhóm quyền phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện theo phán quyết của Tòa án, hay còn gọi là hoạt động THADS.

Khiếu nại, tố cáo là một trong các quyền chính trị cơ bản của công dân, được ghi nhận trong văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao như Hiến pháp, luật. Điều 30 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân”.

Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) cũng quy định: Cơ quan, tổ chức và cá nhân vi phạm quy định của Luật này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật (Điều 10). Bên cạnh đó, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 quy định rõ về phạm vi trách nhiệm bồi thường trong hoạt động THADS (Điều 38), về cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động THADS (khoản 2 Điều 40). Theo đó, xuất phát từ sai phạm của công chức, chấp hành viên cơ quan THADS mà nhiều trường hợp, quyền của người được THADS đã bị xâm phạm.

Quyền khiếu nại, tố cáo và quyền được bồi thường trong hoạt động THADS là một trong số các phương thức để đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (nhân dân) thực hiện quyền kiểm tra, giám sát và thực hiện quyền làm chủ của mình, hướng tới bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, đặc biệt là khôi phục quyền của người được THADS trước và trong quá trình tổ chức THADS, bảo đảm pháp luật được thực thi nghiêm minh nhằm bảo vệ, bảo đảm quyền con người.

3. Điều kiện bảo đảm quyền của người được thi hành án dân sự

3.1. Điều kiện chính trị

Điều kiện chính trị có vai trò đặc biệt quan trọng trong mối quan hệ với quyền của người được THADS nói riêng, cũng như quyền con người nói chung. Chính trị và quyền con người là những yếu tố thuộc về phạm trù kiến trúc thượng tầng và có mối quan hệ đồng đẳng, qua lại với nhau. Có thể thấy, tính chất của chính trị, văn hóa chính trị, đường lối, chủ trương, chính sách của đảng cầm quyền ảnh hưởng rất lớn, có tính chất quyết định đối với sự phát triển quyền con người. Vì vậy, suy cho đến cùng, nói đến chính trị là nói tới nhận thức về con người, thái độ với con người.

Như đã đề cập, quyền con người và chính trị là những yếu tố thuộc về phạm trù kiến trúc thượng tầng và có mối quan hệ đồng đẳng, qua lại với nhau. Một chế độ chính trị tiến bộ, dân chủ thường có mục tiêu vì con người, lấy con người làm trung tâm để xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật nhằm tạo mọi điều kiện tốt nhất bảo vệ và thúc đẩy việc thực hiện quyền con người, trong đó có quyền của người được THADS.

Mặt khác, tham gia vào quá trình thúc đẩy dân chủ, quyền con người còn phải kể đến các tổ chức, đoàn thể xã hội, giới truyền thông và toàn dân thông qua vai trò giám sát, phản biện xã hội của các thiết chế này.

Từ nghĩa đó, việc thực hiện quyền con người nói chung, quyền của người được THADS nói riêng không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị.

3.2. Điều kiện pháp lý

Pháp luật đóng vai trò quan trọng hàng đầu, là cơ sở để quyền con người, trong đó có quyền của người được THADS được ghi nhận, bảo vệ và bảo đảm trên thực tế. Pháp luật và Nhà nước là hai thành tố của thượng tầng chính trị - pháp lý, luôn có mối quan hệ khăng khít, không thể tách rời nhau. Pháp luật ra đời cùng với Nhà nước, pháp luật là công cụ sắc bén để bảo vệ quyền con người, thể hiện ở các quy định về quyền con người trong pháp luật và được bảo vệ, bảo đảm thực hiện bằng bộ máy nhà nước. Một nhà nước “của dân, do dân và vì dân” thì pháp luật cũng chính là ý chí, nguyện vọng của người dân. Người dân lập nên Nhà nước, xây dựng pháp luật cũng chính là để bảo vệ quyền của mình.

Pháp luật do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, cùng với bộ máy cưỡng chế, pháp luật sẽ có sức mạnh của quyền lực nhà nước và có thể tác động đến tất cả mọi người8. Pháp luật là phương tiện để cụ thể hóa, chính thức hóa và công khai hóa các giá trị xã hội của quyền con người; nếu không được ghi nhận, bảo đảm bằng pháp luật thì quyền con người không có cơ sở pháp lý để thực hiện, khi đó, quyền con người chưa trở thành quyền thực sự. Và ngược lại, khi được luật hóa, các quyền đó sẽ mang tính chất bắt buộc và được xã hội công nhận, bảo vệ.

Bên cạnh đó, pháp luật là tiền đề, nền tảng tạo cơ sở pháp lý để con người đấu tranh bảo vệ quyền của mình. Quyền của người được THADS có thể bị “xâm phạm lần thứ hai” bởi các chủ thể khác trong xã hội, đặc biệt là cơ quan nhà nước, công chức nhà nước khi thực thi công vụ, bởi hoạt động của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước và các cơ quan bảo vệ pháp luật có nguy cơ xâm hại đến các quyền con người rất cao. Chỉ có pháp luật, bằng các quy phạm pháp luật quy định chặt chẽ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ của các cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước mới tạo nên cơ sở pháp lý vững chắc để người được THADS đấu tranh chống lại các hành vi xâm hại, bảo vệ quyền của mình.

Mặt khác, tầm quan trọng của pháp luật trong việc thực hiện và bảo vệ quyền con người còn thể hiện trong mối quan hệ giữa pháp luật và các điều kiện bảo đảm khác (chính trị, kinh tế, văn hóa…), các điều kiện trên đều phải thông qua pháp luật, thể hiện dưới hình thức pháp luật mới trở thành giá trị xã hội ổn định, được hiện thực hóa trên quy mô toàn xã hội. Chỉ có như vậy thì các điều kiện đó mới phát huy được vai trò của mình trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, quyền của người được THADS.

3.3. Điều kiện kinh tế

Phát triển kinh tế là một trong những điều kiện không thể thiếu để đảm bảo thực hiện quyền của người được THADS trên thực tế. Trình độ phát triển của nền kinh tế bộc lộ qua các chỉ số đánh giá mức độ tăng trưởng, mức độ thu hẹp sự chênh lệch giàu nghèo, mức độ ổn định của chu kỳ tăng trưởng, mức độ an toàn của môi trường kinh tế đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững, mức độ kết hợp phát triển kinh tế với đảm bảo an sinh xã hội… Các yêu cầu này càng đạt được ở trình độ cao thì càng tạo ra cơ sở vật chất thuận lợi cho việc bảo đảm thực thi quyền con người trên thực tế[9].

Thực tế minh chứng, nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi, kinh tế xã hội phát triển, việc vận động đương sự tự nguyện thi hành án cũng rất thuận lợi. Còn nếu điều kiện tự nhiên khó khăn, kinh tế kém phát triển dẫn tới việc ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận người dân bị hạn chế và rất khó vận động trong việc tự nguyện thi hành án.

3.4. Điều kiện văn hóa

Phát triển văn hóa, giáo dục, nâng cao dân trí bảo đảm cho con người được phát triển tự do và toàn diện, tạo điều kiện cho mọi người được độc lập, nghiên cứu nâng cao nhận thức về mọi mặt, trong đó có văn hóa nhân quyền. Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển, văn hóa do con người sáng tạo ra, chi phối toàn bộ hoạt động của con người và bao trùm tất cả các phương diện của đời sống như pháp luật, kinh tế, quyền con người... Văn hóa là hoạt động sản xuất nhằm cung cấp năng lượng tinh thần cho con người, làm cho con người ngày càng hoàn thiện.

Quyền con người là giá trị chung của toàn nhân loại, nhưng văn hóa thì lại là bản sắc của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, do vậy mà ít nhiều văn hóa cũng ảnh hưởng tới nhận thức và thực hiện quyền con người. Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực thi quyền con người thì điều kiện văn hóa phải ngày càng phát triển và thay đổi theo hướng tích cực. Phải hạn chế những tác động tiêu cực của văn hóa, biến đổi nó theo chiều hướng tích cực bằng cách loại bỏ đi những giá trị đã lạc hậu, không phù hợp và đưa vào nó những giá trị mới, phù hợp hơn. Cùng với đó, phải phát huy các tác động tích cực của văn hóa và làm cho nó trở nên phù hợp với các mục tiêu vì con người, với việc bảo đảm quyền con người.

Tóm lại, trên cơ sở nghiên cứu lý luận về hoạt động THADS, tác giả bước đầu đưa ra khái niệm về quyền của người được THADS, đặc điểm, nội dung quyền của người được THAD và tiếp đó là một số điều kiện ảnh hưởng tới quyền con người nói chung, quyền của người được THADS nói riêng. Tác giả mong muốn đây sẽ là cơ sở để vận dụng vào thực tiễn và đánh giá thực trạng bảo đảm quyền của người được THADS ở Việt nam hiện nay trong những nghiên cứu tiếp theo.

ThS. Nguyễn Phúc Đạt

Tổng cục Thi hành án dân sự

Tài liệu tham khảo:

[1]. Bùi Thái Bình (2016), Khái niệm người được thi hành án có từ khi nào, http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/dien-dan-cong-tac-tu-phap.aspx?ItemID=114.

[2]. Bùi Thái Bình (2016), Khái niệm người được thi hành án có từ khi nào, http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/dien-dan-cong-tac-tu-phap.aspx?ItemID=114.

[3]. Bùi Thái Bình (2016), Khái niệm người được thi hành án có từ khi nào, http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/dien-dan-cong-tac-tu-phap.aspx?ItemID=114.

[4]. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (2015), Giáo trình Lý luận và pháp luật về Quyền con người, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 27.

[5]. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (2015), Giáo trình Lý luận và pháp luật về Quyền con người, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 28.

[6]. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (2015), Giáo trình Lý luận và pháp luật về Quyền con người, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 28.

[7]. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (2015), Giáo trình Lý luận và pháp luật về Quyền con người, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 28.

[8]. Võ Khánh Vinh (2001), Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, tài liệu giảng dạy lưu hành nội bộ Đại học Huế, Huế, tr. 141.

[9]. Viện khoa học xã hội Việt Nam (2010), Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài cấp bộ - tên đề tài: “Quyền con người ở Việt Nam từ nhận thức lý luận đến hành động thực tiễn”, chủ nhiệm đề tài: GS.TS. Võ Khánh Vinh, tr. 107.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: