Thứ bảy 10/10/2026 06:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề lý luận về quyền của người được thi hành án dân sự ở Việt Nam

Tóm tắt: Việc nhận diện rõ khái niệm, đặc điểm, nội dung quyền của người được thi hành án dân sự và những điều kiện bảo đảm quyền của người được thi hành án dân sự sẽ là cơ sở để vận dụng vào thực tiễn, đánh giá thực trạng bảo đảm quyền của người được thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay và góp phần vào công cuộc bảo vệ quyền của người được thi hành án dân sự nói riêng, quyền con người nói chung trong thời gian tới.


Abstract: The identification of the concept, features, content of rights of civil judgment creditor and the conditions for ensuring the rights of a civil judgment creditor will be the basis for the application in practice, for the assessment of the situation ensuring the rights of a civil judgment creditor in Vietnam today and contribute to the protection of rights of a civil judgment creditor in particular, human rights in general in the future.

Quyền của người được thi hành án dân sự (THADS) là một nội dung mới được quy định trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014 (Luật sửa đổi năm 2014). Trước đây, các pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989, năm 1993, năm 2004, thậm chí Luật Thi hành án dân sự năm 2008 chỉ quy định về quyền yêu cầu thi hành án, khi đó, các quyền của người được thi hành án còn mơ hồ, chưa cụ thể và nằm rải rác ở các văn bản. Chỉ đến khi Luật sửa đổi năm 2014 được ban hành thì quyền của người được thi hành án mới được quy định một cách tương đối đầy đủ, cụ thể.

1. Khái niệm, đặc điểm quyền của người được thi hành án dân sự

Theo quy định tại Điều 1, Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), THADS là hoạt động của nhiều tổ chức và cá nhân, bao gồm cả cơ quan THADS trong quá trình tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và trọng tài thương mại. Các bản án, quyết định được THADS bao gồm: Bản án, quyết định về dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự, phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Tòa án, quyết định của Tòa án giải quyết phá sản, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành và phán quyết, quyết định của trọng tài thương mại hoặc những bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm được thi hành án ngay, mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị.

Hoạt động THADS được thực hiện theo nguyên tắc và trình tự, thủ tục theo quy định của Luật Thi hành án dân sự, các văn bản hướng dẫn thi hành và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.

Khoản 2 Điều 3 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy định: “Người được thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng quyền, lợi ích trong bản án, quyết định được thi hành”.

Thực tế hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về thời điểm phát sinh khái niệm người được thi hành án, cụ thể:

Thứ nhất, khái niệm người được thi hành án phát sinh tại thời điểm cơ quan THADS thụ lý yêu cầu thi hành án[1]. Yêu cầu thi hành án làm phát sinh quá trình tổ chức thi hành án, đồng thời cũng làm phát sinh quyền, nghĩa vụ thi hành án của các đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đặc biệt là quyền, lợi ích của người được thi hành án theo nội dung bản án, quyết định của Tòa án (trừ trường hợp chủ động tổ chức thi hành án). Do vậy, khái niệm người được thi hành án cũng phát sinh từ thời điểm đó.

Thứ hai, khái niệm người được thi hành án phát sinh sau thời điểm hết thời gian tự nguyện thi hành án[2]. Theo quan điểm này, khái niệm người được thi hành án chỉ phát sinh sau thời gian người phải thi hành án tự nguyện thi hành, trừ trường hợp có việc tẩu tán tài sản như quy định tại khoản 2 Điều 45 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014). Trước và trong thời gian tự nguyện thi hành án, cá nhân, tổ chức có quyền, lợi ích theo bản án, quyết định phải thi hành án chưa có quyền yêu cầu thực hiện bản án, quyết định đó.

Thứ ba, khái niệm người được thi hành án phát sinh từ rất sớm, tại thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực thi hành hoặc chưa có hiệu lực thi hành nhưng thuộc trường hợp phải thi hành ngay[3]. Quan điểm này cho rằng, khái niệm người được thi hành án có từ rất sớm dù cá nhân, tổ chức có quyền, lợi ích tự đôn đốc thi hành hay cơ quan có thẩm quyền đôn đốc thi hành án; dù bản án được thi hành thông qua thủ tục tự nguyện hay không tự nguyện thi hành án. Trong các vụ án dân sự, lao động, hôn nhân và gia đình có các tên gọi như nguyên đơn, bị đơn; trong án hình sự có các tên gọi như bị can, bị cáo, người bị hại… Dù tên gọi khác nhau nhưng sau khi bản án, quyết định được đưa ra thi hành thì cơ quan, tổ chức, cá nhân được hưởng quyền lợi được gọi là bên được thi hành án và ngược lại, cá nhân, tổ chức có nghĩa vụ, trách nhiệm phải thi hành được gọi là bên phải thi hành án.

Quan điểm này còn trích dẫn Điều 49 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự quy định về thanh toán, chi, trả tiền, tài sản thi hành án. Theo quy định này thì khái niệm người được thi hành án phát sinh ngay cả khi cá nhân, tổ chức được hưởng quyền, lợi ích theo bản án, quyết định chưa yêu cầu thi hành án.

Người được thi hành án được đề cập nhiều trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014). Tuy nhiên, thời điểm phát sinh khái niệm người được thi hành án có nhiều quan điểm khác nhau, mỗi quan điểm đều có lý lẽ riêng. Tác giả đồng tình với quan thứ ba, theo đó, khái niệm người được thi hành án phát sinh từ khi có bản án, quyết định có hiệu lực thi hành án hoặc chưa có hiệu lực nhưng được cho thi hành án ngay, bởi sau khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực hoặc chưa có hiệu lực nhưng được cho thi hành án thì quyền, lợi ích của một bên đã được xác định cụ thể, đồng thời xác lập nghĩa vụ, trách nhiệm đối với bên kia gọi là bên được thi hành án.

Người được THADS là một chủ thể của quyền con người, vì thế, quyền của người được THADS cũng là quyền con người. Ở những giai đoạn khác nhau trước và trong quá trình tổ chức thi hành án, người được THADS cũng có những tâm lý, nhu cầu, yêu cầu khác nhau, do vậy, ở mỗi giai đoạn, cần đáp ứng các yếu tố, điều kiện thích hợp, đảm bảo để người được THADS có thể thụ hưởng quyền, lợi ích hợp pháp của mình một cách đầy đủ và toàn diện nhất.

Như vậy, có thể hiểu, quyền của người được THADS là khả năng mà người được THADS có thể khôi phục, thụ hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp của mình đầy đủ và toàn diện nhất, bao gồm cả những quyền, lợi ích hợp pháp được tuyên trong bản án, quyết định của Tòa án và cả những quyền trong quá trình tổ chức thi hành án.

Cũng như bất kỳ một quyền con người nào khác, quyền của người được THADS có một số đặc điểm cơ bản thể hiện ở các thuộc tính của nó, cụ thể:

- Tính phổ biến: Được thể hiện ở chỗ, quyền của người được THADS là những gì vốn có của người được THADS và được áp dụng bình đẳng cho tất cả người được THADS mà không phân biệt đối xử vì bất kỳ lý do gì như chủng tộc, dân tộc, giới tính, tôn giáo, thành phần xuất thân…[4].

- Tính không thể tước bỏ: Quyền của người được THADS cũng là quyền con người, do đó không thể bị tước bỏ hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể cả các cơ quan và quan chức nhà nước, trừ một số trường hợp được pháp luật quy định[5].

- Tính không thể phân chia: Các quyền của người được THADS đều quan trọng như nhau, về nguyên tắc, không có quyền nào được coi là có giá trị hơn quyền nào. Tuy nhiên, trên thực tế, tùy từng bối cảnh, giai đoạn cụ thể có thể ưu tiên thực hiện hoặc được chú ý bảo vệ một số quyền nhất định[6].

- Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau: Các quyền của người được THADS không tồn tại biệt lập mà tồn tại trong mối liên hệ phụ thuộc và tác động lẫn nhau. Sự vi phạm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo đảm các quyền khác. Ngược lại, tiến bộ trong việc bảo đảm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tích cực đến việc bảo đảm các quyền khác[7].

- Thuộc về những giá trị xã hội biểu hiện cho một nền tư pháp (hiểu theo nghĩa rộng) trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân.

- Là giá trị xã hội đặt ra nghĩa vụ đối với tất cả mọi người phải tôn trọng bởi họ có thể vi phạm.

- Là giá trị xã hội được ghi nhận và bảo vệ bằng Hiến pháp, pháp luật.

Bên cạnh các đặc điểm cơ bản trên, quyền của người được THADS còn có các đặc điểm riêng sau:

- Chủ thể được bảo vệ quyền là người được THADS, đó là cá nhân, tổ chức được hưởng quyền, lợi ích trong bản án, quyết định về dân sự của Tòa án, trọng tài thương mại, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh được thi hành.

- Đối tượng được bảo vệ là các quyền của người được THADS: Quyền tài sản, quyền nhân thân, quyền tiếp cận thông tin, quyền khiếu nại, tố cáo, quyền được bồi thường, quyền được chuyển giao quyền...

- Mục đích bảo vệ là để khôi phục, thụ hưởng quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp được tuyên trong bản án, quyết định của Tòa án và cả những quyền trong quá trình tổ chức thi hành án.

2. Nội dung quyền của người được thi hành án dân sự

Các quyền của người được THADS có ý nghĩa quan trọng đối với người được THADS. Tuy nhiên, không phải trường hợp nào bên thua kiện (trở thành bên người phải thi hành án) cũng ngay lập tức thi hành bản án, quyết định của Tòa án một cách tự nguyện và nhanh chóng đúng trong thời hạn được ấn định. Có không ít trường hợp, cá nhân, cơ quan, tổ chức có những hành vi can thiệp, cản trở, gây trở ngại hoạt động thi hành án, làm trái pháp luật trong thi hành án… Đây được coi là các hành vi vi phạm trong hoạt động THADS, được hiểu chung nhất là hành vi của cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện với lỗi cố ý, vi phạm các quy định của pháp luật THADS và cản trở, gây trở ngại cho hoạt động THADS, gián tiếp gây trở ngại cho việc tiếp cận các quyền của người được THADS. Hay nói một cách khác, quyền của người được THADS là khả năng mà người được THADS có thể khôi phục, thụ hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp của mình đầy đủ và toàn diện nhất, bao gồm cả những quyền, lợi ích hợp pháp được tuyên trong bản án, quyết định của Tòa án và cả những quyền trong quá trình tổ chức thi hành án.

Mặc dù trong quá trình tổ chức thi hành án, hoạt động THADS có lúc, có nơi, có vụ việc cũng còn tình trạng xâm phạm đến quyền của người phải thi hành án. Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết, tác giả chỉ tập trung vào phân tích quyền của người được thi hành án, theo đó, áp dụng phương pháp tiếp cận dựa trên quyền, có thể chia quyền của người được THADS thành hai nhóm:

Thứ nhất, quyền, lợi ích hợp pháp đối với những nội dung mà bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên có hiệu lực pháp luật bao gồm quyền nhân thân, quyền tài sản...

Quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác (Điều 24 Bộ luật Dân sự năm 2015). Bên cạnh đó, từ Điều 26 đến Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định cụ thể các quyền nhân thân.

Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác (Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015). Như vậy, một mặt, quyền tài sản là tài sản; mặt khác, một quyền tài sản phải bao gồm hai yếu tố: Trị giá được bằng tiền và chuyển giao được trong giao lưu dân sự. Bên cạnh đó, các quyền không thể được chuyển nhượng trong giao lưu dân sự do gắn liền với nhân thân của người có quyền, dù trị giá được bằng tiền (như quyền được cấp dưỡng, quyền hưởng trợ cấp hưu trí…) là quyền nhân thân gắn liền với tài sản.

Đây là nhóm quyền đã bị xâm phạm trước khi có bản án, quyết định của Tòa án hoặc phát sinh trong quá trình Tòa án giải quyết, xét xử. Tựu trung lại, hoạt động THADS nhằm mục đích khôi phục, bảo vệ nhóm quyền này của người được THADS.

Thứ hai, quyền, lợi ích hợp pháp trong quá trình tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bao gồm: Quyền tiếp cận thông tin, quyền về tài sản, quyền khiếu nại, tố cáo, quyền được bồi thường trong hoạt động THADS…

Các quyền chính trị bao gồm công lý trung lập trong pháp luật, chẳng hạn như quyền lợi của người được THADS, trong đó có quyền được tổ chức thi hành án công bằng; pháp luật đúng thủ tục và quy trình; quyền khiếu nại, tố cáo; quyền đòi bồi thường hoặc khắc phục thiệt hại xuất phát từ lỗi của chấp hành viên, cơ quan THADS hoặc các cá nhân, tổ chức có liên quan... Đây là nhóm quyền phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện theo phán quyết của Tòa án, hay còn gọi là hoạt động THADS.

Khiếu nại, tố cáo là một trong các quyền chính trị cơ bản của công dân, được ghi nhận trong văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao như Hiến pháp, luật. Điều 30 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân”.

Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) cũng quy định: Cơ quan, tổ chức và cá nhân vi phạm quy định của Luật này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật (Điều 10). Bên cạnh đó, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 quy định rõ về phạm vi trách nhiệm bồi thường trong hoạt động THADS (Điều 38), về cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động THADS (khoản 2 Điều 40). Theo đó, xuất phát từ sai phạm của công chức, chấp hành viên cơ quan THADS mà nhiều trường hợp, quyền của người được THADS đã bị xâm phạm.

Quyền khiếu nại, tố cáo và quyền được bồi thường trong hoạt động THADS là một trong số các phương thức để đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (nhân dân) thực hiện quyền kiểm tra, giám sát và thực hiện quyền làm chủ của mình, hướng tới bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, đặc biệt là khôi phục quyền của người được THADS trước và trong quá trình tổ chức THADS, bảo đảm pháp luật được thực thi nghiêm minh nhằm bảo vệ, bảo đảm quyền con người.

3. Điều kiện bảo đảm quyền của người được thi hành án dân sự

3.1. Điều kiện chính trị

Điều kiện chính trị có vai trò đặc biệt quan trọng trong mối quan hệ với quyền của người được THADS nói riêng, cũng như quyền con người nói chung. Chính trị và quyền con người là những yếu tố thuộc về phạm trù kiến trúc thượng tầng và có mối quan hệ đồng đẳng, qua lại với nhau. Có thể thấy, tính chất của chính trị, văn hóa chính trị, đường lối, chủ trương, chính sách của đảng cầm quyền ảnh hưởng rất lớn, có tính chất quyết định đối với sự phát triển quyền con người. Vì vậy, suy cho đến cùng, nói đến chính trị là nói tới nhận thức về con người, thái độ với con người.

Như đã đề cập, quyền con người và chính trị là những yếu tố thuộc về phạm trù kiến trúc thượng tầng và có mối quan hệ đồng đẳng, qua lại với nhau. Một chế độ chính trị tiến bộ, dân chủ thường có mục tiêu vì con người, lấy con người làm trung tâm để xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật nhằm tạo mọi điều kiện tốt nhất bảo vệ và thúc đẩy việc thực hiện quyền con người, trong đó có quyền của người được THADS.

Mặt khác, tham gia vào quá trình thúc đẩy dân chủ, quyền con người còn phải kể đến các tổ chức, đoàn thể xã hội, giới truyền thông và toàn dân thông qua vai trò giám sát, phản biện xã hội của các thiết chế này.

Từ nghĩa đó, việc thực hiện quyền con người nói chung, quyền của người được THADS nói riêng không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị.

3.2. Điều kiện pháp lý

Pháp luật đóng vai trò quan trọng hàng đầu, là cơ sở để quyền con người, trong đó có quyền của người được THADS được ghi nhận, bảo vệ và bảo đảm trên thực tế. Pháp luật và Nhà nước là hai thành tố của thượng tầng chính trị - pháp lý, luôn có mối quan hệ khăng khít, không thể tách rời nhau. Pháp luật ra đời cùng với Nhà nước, pháp luật là công cụ sắc bén để bảo vệ quyền con người, thể hiện ở các quy định về quyền con người trong pháp luật và được bảo vệ, bảo đảm thực hiện bằng bộ máy nhà nước. Một nhà nước “của dân, do dân và vì dân” thì pháp luật cũng chính là ý chí, nguyện vọng của người dân. Người dân lập nên Nhà nước, xây dựng pháp luật cũng chính là để bảo vệ quyền của mình.

Pháp luật do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, cùng với bộ máy cưỡng chế, pháp luật sẽ có sức mạnh của quyền lực nhà nước và có thể tác động đến tất cả mọi người8. Pháp luật là phương tiện để cụ thể hóa, chính thức hóa và công khai hóa các giá trị xã hội của quyền con người; nếu không được ghi nhận, bảo đảm bằng pháp luật thì quyền con người không có cơ sở pháp lý để thực hiện, khi đó, quyền con người chưa trở thành quyền thực sự. Và ngược lại, khi được luật hóa, các quyền đó sẽ mang tính chất bắt buộc và được xã hội công nhận, bảo vệ.

Bên cạnh đó, pháp luật là tiền đề, nền tảng tạo cơ sở pháp lý để con người đấu tranh bảo vệ quyền của mình. Quyền của người được THADS có thể bị “xâm phạm lần thứ hai” bởi các chủ thể khác trong xã hội, đặc biệt là cơ quan nhà nước, công chức nhà nước khi thực thi công vụ, bởi hoạt động của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước và các cơ quan bảo vệ pháp luật có nguy cơ xâm hại đến các quyền con người rất cao. Chỉ có pháp luật, bằng các quy phạm pháp luật quy định chặt chẽ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ của các cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước mới tạo nên cơ sở pháp lý vững chắc để người được THADS đấu tranh chống lại các hành vi xâm hại, bảo vệ quyền của mình.

Mặt khác, tầm quan trọng của pháp luật trong việc thực hiện và bảo vệ quyền con người còn thể hiện trong mối quan hệ giữa pháp luật và các điều kiện bảo đảm khác (chính trị, kinh tế, văn hóa…), các điều kiện trên đều phải thông qua pháp luật, thể hiện dưới hình thức pháp luật mới trở thành giá trị xã hội ổn định, được hiện thực hóa trên quy mô toàn xã hội. Chỉ có như vậy thì các điều kiện đó mới phát huy được vai trò của mình trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, quyền của người được THADS.

3.3. Điều kiện kinh tế

Phát triển kinh tế là một trong những điều kiện không thể thiếu để đảm bảo thực hiện quyền của người được THADS trên thực tế. Trình độ phát triển của nền kinh tế bộc lộ qua các chỉ số đánh giá mức độ tăng trưởng, mức độ thu hẹp sự chênh lệch giàu nghèo, mức độ ổn định của chu kỳ tăng trưởng, mức độ an toàn của môi trường kinh tế đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững, mức độ kết hợp phát triển kinh tế với đảm bảo an sinh xã hội… Các yêu cầu này càng đạt được ở trình độ cao thì càng tạo ra cơ sở vật chất thuận lợi cho việc bảo đảm thực thi quyền con người trên thực tế[9].

Thực tế minh chứng, nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi, kinh tế xã hội phát triển, việc vận động đương sự tự nguyện thi hành án cũng rất thuận lợi. Còn nếu điều kiện tự nhiên khó khăn, kinh tế kém phát triển dẫn tới việc ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận người dân bị hạn chế và rất khó vận động trong việc tự nguyện thi hành án.

3.4. Điều kiện văn hóa

Phát triển văn hóa, giáo dục, nâng cao dân trí bảo đảm cho con người được phát triển tự do và toàn diện, tạo điều kiện cho mọi người được độc lập, nghiên cứu nâng cao nhận thức về mọi mặt, trong đó có văn hóa nhân quyền. Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển, văn hóa do con người sáng tạo ra, chi phối toàn bộ hoạt động của con người và bao trùm tất cả các phương diện của đời sống như pháp luật, kinh tế, quyền con người... Văn hóa là hoạt động sản xuất nhằm cung cấp năng lượng tinh thần cho con người, làm cho con người ngày càng hoàn thiện.

Quyền con người là giá trị chung của toàn nhân loại, nhưng văn hóa thì lại là bản sắc của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, do vậy mà ít nhiều văn hóa cũng ảnh hưởng tới nhận thức và thực hiện quyền con người. Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực thi quyền con người thì điều kiện văn hóa phải ngày càng phát triển và thay đổi theo hướng tích cực. Phải hạn chế những tác động tiêu cực của văn hóa, biến đổi nó theo chiều hướng tích cực bằng cách loại bỏ đi những giá trị đã lạc hậu, không phù hợp và đưa vào nó những giá trị mới, phù hợp hơn. Cùng với đó, phải phát huy các tác động tích cực của văn hóa và làm cho nó trở nên phù hợp với các mục tiêu vì con người, với việc bảo đảm quyền con người.

Tóm lại, trên cơ sở nghiên cứu lý luận về hoạt động THADS, tác giả bước đầu đưa ra khái niệm về quyền của người được THADS, đặc điểm, nội dung quyền của người được THAD và tiếp đó là một số điều kiện ảnh hưởng tới quyền con người nói chung, quyền của người được THADS nói riêng. Tác giả mong muốn đây sẽ là cơ sở để vận dụng vào thực tiễn và đánh giá thực trạng bảo đảm quyền của người được THADS ở Việt nam hiện nay trong những nghiên cứu tiếp theo.

ThS. Nguyễn Phúc Đạt

Tổng cục Thi hành án dân sự

Tài liệu tham khảo:

[1]. Bùi Thái Bình (2016), Khái niệm người được thi hành án có từ khi nào, http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/dien-dan-cong-tac-tu-phap.aspx?ItemID=114.

[2]. Bùi Thái Bình (2016), Khái niệm người được thi hành án có từ khi nào, http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/dien-dan-cong-tac-tu-phap.aspx?ItemID=114.

[3]. Bùi Thái Bình (2016), Khái niệm người được thi hành án có từ khi nào, http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/dien-dan-cong-tac-tu-phap.aspx?ItemID=114.

[4]. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (2015), Giáo trình Lý luận và pháp luật về Quyền con người, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 27.

[5]. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (2015), Giáo trình Lý luận và pháp luật về Quyền con người, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 28.

[6]. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (2015), Giáo trình Lý luận và pháp luật về Quyền con người, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 28.

[7]. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (2015), Giáo trình Lý luận và pháp luật về Quyền con người, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 28.

[8]. Võ Khánh Vinh (2001), Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, tài liệu giảng dạy lưu hành nội bộ Đại học Huế, Huế, tr. 141.

[9]. Viện khoa học xã hội Việt Nam (2010), Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài cấp bộ - tên đề tài: “Quyền con người ở Việt Nam từ nhận thức lý luận đến hành động thực tiễn”, chủ nhiệm đề tài: GS.TS. Võ Khánh Vinh, tr. 107.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.

Theo dõi chúng tôi trên: