Thứ bảy 08/08/2026 23:52
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề pháp lý về huy động vốn cho dự án hạ tầng giao thông theo phương thức đối tác công tư từ chứng khoán hóa

Bài viết giới thiệu khái quát về chứng khoán hóa, qua đó phân tích một số vấn đề pháp lý về huy động vốn cho dự án hạ tầng giao thông theo phương thức đối tác công tư từ hoạt động chứng khoán hóa


1. Một số nét khái quát về chứng khoán hóa

1.1. Khái niệm chứng khoán hóa

Hiện nay, có nhiều định nghĩa và cách giải thích học thuật khác nhau về chứng khoán hóa: “Chứng khoán hóa là quá trình phát hành chứng khoán khả mại mới, được đảm bảo bởi các tài sản như các khoản vay, thế chấp, nợ thẻ tín dụng hoặc tài sản khác (bao gồm các khoản phải thu trên tài khoản)”[1]; “Chứng khoán hóa là một quá trình tài chính cơ cấu, tại đó các tài sản thế chấp khác nhau của những người đi vay được tập hợp và đóng gói rồi được dùng làm bảo đảm để phát hành các trái phiếu (trái phiếu bảo đảm bằng tài sản)[2]. Khi xem xét nội hàm của khái niệm chứng khoán hóa, có thể rút ra một số điểm cơ bản của hoạt động này như sau:

- Chứng khoán hóa là kênh liên thông giữa thị trường tín dụng ngân hàng với thị trường chứng khoán. Bản thân hai thị trường này đều là thị trường vốn, nhưng có những sự khác biệt với nhau về cách thức huy động vốn, về sản phẩm, về thời hạn, về tính thanh khoản.

- Chứng khoán hóa làm thay đổi tính thanh khoản của tài sản thế chấp. Khi thực hiện việc vay nợ, bên vay phải thế chấp tài sản cho bên cho vay, với giá trị tài sản lớn hơn giá trị của khoản vay. Khi đưa vào hoạt động chứng khoán hóa, tài sản thế chấp trở thành tài sản cơ sở cho trái phiếu có bảo đảm, nên tận dụng được tính thanh khoản cao và linh hoạt vốn có của trái phiếu.

- Chứng khoán hóa giúp các tổ chức tín dụng đa dạng hóa sản phẩm của mình trên thị trường, nhưng không chịu các giới hạn cấp tín dụng, trích lập dự phòng và giới hạn trong lĩnh vực tín dụng.

- Hoạt động chứng khoán hóa có sự phân tán và chuyển rủi ro từ các tổ chức tín dụng sang nhà đầu tư trái phiếu.

1.2. Các bên liên quan trong hoạt động chứng khoán hóa

Chứng khoán hóa là một quá trình dịch chuyển và vận động của tài sản thế chấp, của khả năng thanh khoản và rủi ro, nên có sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau, mà chủ yếu là bốn đối tượng như sau:

Thứ nhất, bên vay, bên thế chấp là bên có nhu cầu sử dụng vốn và sẵn sàng sử dụng tài sản của mình để thế chấp cho bên cho vay để bảo đảm cho nghĩa vụ hoàn trả tiền gốc và lãi. Nhu cầu của bên vay, bên thế chấp tài sản là huy động vốn để tài trợ cho các hoạt động sản xuất và kinh doanh của mình và có nghĩa vụ sử dụng tài sản để bảo đảm cho nghĩa vụ hoàn trả tiền gốc và lãi của khoản vay.

Thứ hai, tổ chức tín dụng với tư cách là bên khởi tạo, là đơn vị trực tiếp cấp vốn cho bên cho vay và tiếp nhận tài sản bảo đảm từ bên thế chấp tài sản; và hưởng một khoản phí thu xếp vốn mà không phải là khoản tiền lãi cho vay như trong quan hệ tín dụng thông thường.

Thứ ba, tổ chức phát hành chứng khoán là đơn vị mua lại khoản vay (khoản phải thu) từ bên khởi tạo và tiếp nhận tài sản thế chấp của bên vay từ bên khởi tạo và áp dụng các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ để phát hành chứng khoán cho nhà đầu tư để thu tiền và thanh toán lại cho bên khởi tạo.

Thứ tư, nhà đầu tư tham gia vào hoạt động chứng khoán hóa với tư cách là người mua chứng khoán trên thị trường chứng khoán và được bảo đảm quyền đòi thanh toán tiền gốc và lãi từ chứng khoán bằng tài sản thế chấp của bên vay; hưởng lợi và chịu rủi ro từ sự tăng giảm của giá chứng khoán và được bảo đảm tính thanh khoán bằng việc bán lại chứng khoán cho nhà đầu tư khác. Nhà đầu tư chính là người cấp vốn cho bên cho vay thông qua sự trung gian và thu xếp của tổ chức khởi tạo và tổ chức phát hành chứng khoán.

Ngoài bốn chủ thể chính nêu trên, trong quan hệ chứng khoán hóa, còn có sự xuất hiện và giữ vai trò quan trọng của một số đơn vị tư vấn khác như tổ chức tư vấn phát hành chứng khoán, tổ chức xếp hạng tín nhiệm, tổ chức tư vấn pháp lý.

1.3. Cơ chế thu hồi tiền gốc và lãi từ chứng khoán

Trong hoạt động chứng khoán hóa, tiền gốc và lãi mà nhà đầu tư thu hồi từ hoạt động đầu tư vào chứng khoán được hình thành từ dòng tiền tương lai thu từ tài sản thế chấp, dẫn tới việc thanh toán đó được thực hiện định kỳ và chia thành nhiều lần trong suốt thời gian tồn tại của chứng khoán. Do đó, vào thời điểm đáo hạn, giá trị của chứng khoán từ hoạt động chứng khoán hóa sẽ tiệm cận về không.

Như đề cập ở trên, cơ chế thu hồi tiền gốc và lãi từ chứng khoán trong hoạt động chứng khoán hóa dựa trên dòng tiền sản sinh trong tương lai mà không phải là giá trị hiện tại của tài sản. Do đó, đặc điểm này đặt ra yêu cầu đối với tài sản thế chấp phải là tài sản có khả năng sản sinh ra dòng tiền trong tương lai một cách ổn định, đáng tin cậy. Từ đặc điểm này, dẫn tới hoạt động chứng khoán hóa đặc biệt phù hợp với các dự án có tài sản thế chấp là dự án bất động sản, bất động sản cho thuê, hoặc các khoản phải thu (khoản vay từ thẻ tín dụng, các khoản vay), các dự án hạ tầng giao thông có thu phí.

2. Huy động vốn cho các dự án hạ tầng giao thông theo phương thức đối tác công tư từ chứng khoán hóa

2.1. Chủ thể huy động vốn

Trong các dự án đầu tư vào hạ tầng giao thông theo phương thức đối tác công tư (dự án PPP) tại Việt Nam hiện nay, cơ cấu nguồn vốn chủ yếu gồm ba phần là nguồn từ Nhà nước, vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư và vốn vay.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 69 Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư năm 2020 thì tỷ lệ vốn nhà nước tham gia dự án PPP không quá 50% tổng mức đầu tư của dự án. Theo quy định tại Điều 77 Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư năm 2020 thì “nhà đầu tư phải góp vốn chủ sở hữu tối thiểu là 15% tổng mức đầu tư dự án không bao gồm vốn nhà nước”. Như vậy, mặc dù mỗi dự án sẽ có mỗi tỷ lệ nguồn vốn khác nhau, nhưng căn cứ vào quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn, thì cơ cấu nguồn vốn trong dự án PPP sẽ là: Vốn nhà nước tối đa là 50%; vốn chủ sở hữu tối thiếu là 15% và vốn huy động khác tối đa là 35%.

Như vậy, phần vốn huy động khác trong một dự án PPP trong lĩnh vực hạ tầng giao thông chiếm tới hơn 35% tổng vốn đầu tư của dự án và trách nhiệm huy động vốn thuộc về chủ đầu tư. Trong các thỏa thuận về cấp vốn, ngân hàng áp dụng cơ chế thu hồi tiền gốc và lãi huy động là từ nguồn doanh thu của dự án. Nói cách khác, tài sản bảo đảm cho nghĩa vụ hoàn trả khoản vay trong các dự án PPP là dòng tiền sản sinh ra từ chính dự án PPP trong tương lai.

Theo quy định tại Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư năm 2020, thì mỗi dự án PPP sẽ thành lập một doanh nghiệp dự án để thực hiện hợp đồng dự án và vận hành công trình trong tương lai. Trong quan hệ tín dụng vay vốn với ngân hàng, doanh nghiệp dự án và nhà đầu tư đóng vai trò là bên vay và chịu trách nhiệm hoàn trả khoản vay cho ngân hàng, ngân hàng được quyền tiếp nhận lại dự án PPP trong trường hợp doanh nghiệp dự án, nhà đầu tư không thể hoàn trả khoản vay theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng.

2.2. Những vấn đề đặt ra đối với hoạt động huy động vốn cho dự án PPP trong hạ tầng giao thông từ chứng khoán hóa

Thứ nhất, cơ chế chia sẻ rủi ro trong dự án đối tác công tư. Như đã đề cập ở những phần trên, tài sản bảo đảm cho nghĩa vụ hoàn trả tiền gốc và lãi trên khoản vay của bên vay chính là dòng tiền sản sinh từ dự án, tức là từ doanh thu của dự án. Tuy nhiên, các bên cho vay có lý do để lo lắng và “ngần ngại” trong việc cấp vốn bởi tính không chắc chắn và rủi ro trong khả năng thu phí theo kế hoạch tài chính mà dự án hạ tầng giao thông theo phương thức PPP có thể gặp phải. Để hạn chế các rủi ro có thể xảy ra, “Chính phủ có thể khuyến khích sự tham gia của khối tư nhân vào các dự án PPP bằng cách giảm bớt các rủi ro thông qua biện pháp hỗ trợ Chính phủ như bảo đảm. Bảo đảm Chính phủ là nghĩa vụ bảo đảm có giá trị cao nhất theo thỏa thuận bằng văn bản ràng buộc hoặc tiềm ẩn sự ràng buộc nhằm đáp ứng những nghĩa vụ nhất định trong bản hợp đồng, hoặc để bảo vệ bên thụ hưởng bảo đảm trước những rủi ro xác định nếu một số điều kiện cụ thể xảy ra”[3]. Điều đó có ý nghĩa rằng, doanh nghiệp dự án và nhà đầu tư trong dự án hạ tầng giao thông theo phương thức đối tác công tư cần có sự bảo đảm từ Chính phủ nhằm hạn chế và loại trừ các rủi ro về doanh thu và dòng tiền sản sinh ra từ dự án trong tương lại để biến dòng tiền đó thành một loại tài sản cơ sở có đủ độ tín nhiệm bảo đảm cho chứng khoán phát hành nếu muốn huy động vốn từ hoạt động chứng khoán hóa.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 82 Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư năm 2020 thì “khi doanh thu thực tế đạt cao hơn 125% mức doanh thu trong phương án tài chính tại hợp đồng dự án PPP, nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án PPP chia sẻ với Nhà nước 50% phần chênh lệch giữa doanh thu thực tế và mức 125% doanh thu trong phương án tài chính” và theo quy định tại khoản 2 Điều 82 thì “khi doanh thu thực tế đạt thấp hơn 75% mức doanh thu trong phương án tài chính tại hợp đồng dự án PPP, Nhà nước chia sẻ với nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án PPP 50% phần chênh lệch giữa mức 75% doanh thu trong phương án tài chính và doanh thu thực tế”. Lưu ý rằng, cũng theo quy định tại Điều 82 Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư năm 2020, thì việc chia sẻ phần giảm doanh thu đối với dự án BOT chỉ được áp dụng khi đáp ứng các điều kiện gồm: (i) Quy hoạch, chính sách, pháp luật có liên quan thay đổi làm giảm doanh thu; (ii) Đã thực hiện đầy đủ các biện pháp điều chỉnh mức giá, phí sản phẩm, dịch vụ công, điều chỉnh thời hạn hợp đồng dự án PPP theo quy định tại các điều 50, 51 và 65 Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư năm 2020 nhưng chưa bảo đảm mức doanh thu tối thiểu là 75%; (iii) Đã được Kiểm toán nhà nước thực hiện kiểm toán phần giảm doanh thu. Điều đó có ý nghĩa rằng, việc Chính phủ chia sẻ rủi ro với nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án không phải mặc định trong mọi trường hợp, mà chỉ hạn chế trong một số trường hợp cá biệt. Do đó, những rủi ro đối với dòng tiền tương lai của dự án vẫn giữ nguyên, nên sẽ làm giảm mức độ tín nhiệm của tài sản bảo đảm nếu huy động vốn từ chứng khoán hóa.

Từ một số ý phân tích trên có thể thấy rằng, cơ chế chia sẻ rủi ro quy định tại Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư năm 2020 còn hạn chế, chưa bảo đảm cho sự an toàn cho dòng tiền tương lai của dự án PPP. Do đó, điểm tín nhiệm đối với tài sản bảo đảm khi thực hiện chứng khoán hóa sẽ rất thấp nên khả năng huy động vốn từ thị trường này cũng rất thấp.

Thứ hai, đánh giá tính tương thích của quy định trong Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư năm 2020 với những đòi hỏi của hoạt động chứng khoán hóa. Đối với các dự án hạ tầng giao thông theo phương thức PPP, cần có các quy định pháp luật cụ thể và hữu hiệu để cho phép doanh nghiệp dự án, nhà đầu tư thế chấp quyền kinh doanh công trình dự án cho tổ chức tín dụng; cho phép tổ chức tín dụng bán khoản phải thu từ doanh nghiệp dự án, nhà đầu tư cho một đơn vị khác; quyền của đơn vị phát hành chứng khoán trong việc tiếp nhận tài sản bảo đảm là quyền kinh doanh công trình dự án và sử dụng quyền kinh doanh công trình dự án đó làm tài sản bảo đảm để phát hành chứng khoán; cơ chế xử lý trong trường hợp doanh nghiệp dự án, nhà đầu tư không hoàn trả được khoản tiền gốc và lãi cho nhà đầu tư mua chứng khoán. Qua khảo cứu các quy định của Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư năm 2020 hiện hành và các quy định khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam, tác giả nhận thấy rằng:

- Đối với thị trường sơ cấp, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư năm 2020 mới quy định một cách chưa rõ ràng: “Trong quá trình thực hiện hợp đồng dự án PPP, quyền của bên cho vay thực hiện theo thỏa thuận của các bên trong hợp đồng cấp tín dụng, hợp đồng dự án PPP và quy định của pháp luật có liên quan”[4]. Điều này dẫn đến cơ sở pháp lý cho việc doanh nghiệp dự án, nhà đầu tư thế chấp quyền kinh doanh công trình dự án cho tổ chức tín dụng để vay vốn không chắc chắn và đầy đủ, nên các tổ chức tín dụng còn e ngại trong việc cấp vốn cho các dự án PPP.

- Đối với thị trường thứ cấp, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư năm 2020 và quy định pháp luật có liên quan chưa có quy định nào để bảo đảm cho hoạt động chứng khoán hóa (quyền của doanh nghiệp dự án, nhà đầu tư trong việc thế quyền thu phí; quyền của ngân hàng trong việc bán khoản nợ và chuyển tài sản thế chấp cho bên thu xếp phát hành chứng khoán...).

Như vậy, có thể nói, chứng khoán hóa là kỹ thuật huy động vốn có nhiều ưu điểm, đặc biệt phù hợp với các dự án hạ tầng giao thông đầu tư theo phương thức đối tác công tư, nên cần có sự nghiên cứu và hoàn thiện hệ thống hạ tầng về cơ sở pháp lý để có thể triển khai tại Việt Nam. Để thị trường chứng khoán hóa có thể vận hành, cần có các giải pháp bảo đảm từ Chính phủ để tăng điểm tín dụng của tài sản thế chấp, thông qua việc bảo lãnh và chia sẻ rủi ro. Với các quy định pháp luật hiện hành trong lĩnh vực đầu tư theo đối tác công tư, chưa cho phép luân chuyển tài sản thế chấp từ thị trường sơ cấp sang thị trường thứ cấp nên chưa thể thực hiện hoạt động chứng khoán hóa. Bên cạnh đó, các chế định liên quan đến thị trường vốn của Việt Nam vẫn còn sơ khai nên thị trường vốn chưa thực sự hoàn thiện, thiếu hàng lang cần thiết để các dự án hạ tầng giao thông đầu tư theo phương thức đối tác công tư có thể huy động vốn từ nguồn chứng khoán hóa. Do đó, cùng với việc sửa đổi, bổ sung các quy định trong pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư thì việc hoàn thiện các cơ sở pháp lý cho thị trường vốn cũng hết sức quan trọng và cấp bách.

Luật sư Hà Huy Phong
Công ty Luật TNHH Inteco



[1]. Theo từ điển của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD)

[2]. Báo cáo “Bảo đảm Chính phủ cho việc huy động vốn đầu tư tư nhân trong hạ tầng” do Ngân hàng Thế giới phát hành năm 2019.

[3]. Điều 5 Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư năm 2020.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Trong đợt tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật năm 2026 - một nhiệm vụ trọng yếu được triển khai theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - nguyên tắc “6 rõ” đã được xác lập như một chuẩn mực kỹ thuật và quản trị cốt lõi. Nội dung của nguyên tắc này bao gồm: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả.
Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Ngày 30/7 hằng năm được Đại hội đồng Liên hợp quốc chọn là Ngày Thế giới phòng, chống mua bán người (World Day Against Trafficking in Persons) nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về những hậu quả nghiêm trọng của tội phạm mua bán người, đồng thời kêu gọi các quốc gia tăng cường hợp tác, triển khai các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh và bảo vệ nạn nhân.
"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

Ngày 23/3/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội (Chỉ thị số 09-CT/TU). Theo đó, Thành phố xác định rõ việc định vị hình ảnh và giá trị cốt lõi của Thủ đô với 09 đặc trưng "Thủ đô văn hiến - kết nối toàn cầu - thanh lịch, hào hoa - phát triển hài hòa - thanh bình, thịnh vượng - chính quyền phục vụ - doanh nghiệp cống hiến - xã hội niềm tin - người dân hạnh phúc", lấy "Văn hiến - bản sắc - sáng tạo" làm trục giá trị xuyên suốt.

Theo dõi chúng tôi trên: