Thứ hai 13/04/2026 09:29
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề về chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở

Trong những năm qua, cùng với quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, công tác tổ chức thực hiện pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống luôn được Đảng

Trong những năm qua, cùng với quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, công tác tổ chức thực hiện pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống luôn được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản để ghi nhận, bảo đảm quyền được thông tin pháp luật, quyền được tiếp cận và sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, hỗ trợ, giúp đỡ công dân thực hiện các quyền, nghĩa vụ, tham gia quản lý nhà nước và xã hội [1]. Đặc biệt, để khắc phục vướng mắc, bất cập từ thực trạng tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở, nâng cao hơn nữa trách nhiệm của Nhà nước trong công tác này, đáp ứng nhu cầu nâng cao nhận thức pháp luật, phát huy vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội, từng bước hình thành ý thức tự giác tuân thủ, chấp hành Hiến pháp và pháp luật, ngày 13/01/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg ban hành Quy định về chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở (gọi tắt là Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg) với nhiều giải pháp quan trọng để bảo đảm quyền thông tin pháp luật, quyền tiếp cận pháp luật và sử dụng pháp luật để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, thúc đẩy sự hình thành, phát triển mạng lưới hỗ trợ, giúp đỡ người dân trong tiếp cận pháp luật để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp.

Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg được ban hành có ý nghĩa rất quan trọng, nó đã khẳng định vị trí, vai trò của chuẩn tiếp cận pháp luật trong đời sống chính trị - pháp lý, gắn với phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng của đất nước và từng địa phương, tạo lập khung pháp lý để tăng cường hơn nữa các điều kiện, các biện pháp bảo đảm thực hiện đầy đủ các quyền con người, quyền công dân, nhất là quyền được thông tin pháp luật, quyền được tiếp cận, sử dụng pháp luật; nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành, mà trước hết và chủ yếu là chính quyền cấp cơ sở trong thi hành pháp luật, thực thi công vụ, giải quyết các thủ tục hành chính, cải thiện và hỗ trợ phát triển mạng lưới tổ chức dịch vụ pháp lý, thông tin pháp luật, mạng lưới hỗ trợ pháp luật tại cộng đồng dân cư. Bên cạnh đó, Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg đãthiết lập một Bộ công cụ với 8 tiêu chí và 41 chỉ tiêu cụ thể đểgiúp chính quyền cơ sở và người dân có điều kiện đánh giá một cách có hệ thống, đồng bộ, toàn diện thực trạng tiếp cận pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được thực thi nghiêm chỉnh, thống nhất để từ đó có giải pháp thúc đẩy, nâng cao trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong triển khai các thiết chế tiếp cận pháp luật, đáp ứng nhu cầu nâng cao nhận thức pháp luật, khẳng định vị trí, phát huy vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội, bảo vệ các quyền con người, quyền công dân, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển bền vững. Muốn được công nhận là địa phương đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, thì địa phương phải đạt mức điểm chuẩn chung đã được liệt kê trong Quy định về chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở [2] được ban hành kèm theo Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg.

1. Đánh giá địa phương đạt chuẩn tiếp cận pháp luật

Về mc đích đánh giá: Việc đánh giá địa phương đạt chuẩn tiếp cận pháp luật nhằm thúc đẩy, nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong việc triển khai các thiết chế tiếp cận pháp luật, bảo đảm điều kiện đáp ứng nhu cầu nâng cao nhận thức pháp luật, thực hiện, bảo vệ và phát huy quyền và lợi ích hợp pháp của công dân ngay tại cơ sở; phát huy vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Về nguyên tắc thực hiện: Việc đánh giá, công nhận, xếp hạng, biểu dương, khen thưởng địa phương đạt chuẩn tiếp cận pháp luật phải công khai, minh bạch, dân chủ, đúng tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật; bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan; gắn với thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; mang tính lâu dài, bền vững, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn và được thực hiện đồng bộ từ trung ương đến địa phương.

Về đối tượng đánh giá: Việc đánh giá địa phương đạt chuẩn tiếp cận pháp luật được đánh giá đối với 03 cấp hành chính, bao gồm: Xã, phường, thị trấn (sau đây viết tắt là xã, phường); quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây viết tắt là quận huyện); tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây viết tắt là tỉnh, thành phố).

Về chủ thể đánh giá: Việc đánh giá địa phương đạt chuẩn tiếp cận pháp luật được thực hiện kết hợp giữa việc tự đánh giá của chủ thể đánh giá với việc thẩm tra của cấp trên trực tiếp của đối tượng đánh giá. Căn cứ kết quả tự đánh giá và thẩm tra, Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh sẽ quyết định công nhận cấp huyện, cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Bộ trưởng Bộ Tư pháp công nhận, xếp hạng đối với cấp tỉnh đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Với cách đánh giá này, chủ thể đánh giá được xác định đối với mỗi cấp như sau:

Đối với cấp xã: UBND cấp xã sẽ tự đánh giá kết quả đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của địa phương mình và gửi kết quả tự đánh giá về UBND cấp huyện để thẩm tra kèm theo văn bản đề nghị xem xét, công nhận cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Sau khi thẩm tra, nếu xét thấy cấp xã đủ điều kiện, UBND cấp huyện sẽ hoàn tất hồ sơ và có văn bản đề nghị Chủ tịch UBND cấp tỉnh xem xét, công nhận và thực hiện việc khen thưởng đối với xã đủ điều kiện đạt chuẩn tiếp cận pháp luật [3].

Đối với cấp huyện: UBND cấp huyện sẽ tự đánh giá kết quả đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của địa phương mình và gửi kết quả tự đánh giá về UBND cấp tỉnh để thẩm tra, xem xét, công nhận cấp huyện đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. UBND cấp tỉnh xem xét, đánh giá, công nhận và khen thưởng đối với cấp huyện đạt chuẩn tiếp cận pháp luật [4].

Đối với cấp tỉnh: UBND cấp tỉnh sẽ tự đánh giá kết quả đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của địa phương mình và gửi kết quả tự đánh giá về Bộ Tư pháp để tiến hành việc thẩm tra, đánh giá. Căn cứ kết quả tự đánh giá của cấp tỉnh, Bộ Tư pháp sẽ xem xét, đánh giá, xếp hạng và cấp giấy chứng nhận tỉnh, thành phố đạt chuẩn tiếp cận pháp luật [5].

Về quy trình, thời điểm đánh giávà thời hạn gửi báo cáo đánh giávề cơ quan cấp trên: Việc đánh giá 03 cấp hành chính xã, huyện, tỉnh đạt chuẩn tiếp cận pháp luật được thực hiện theo quy trình lấy kết quả đánh giá cấp xã đạt chuẩn trên địa bàn làm căn cứ để đánh giá đối với kết quả đạt chuẩn của cấp huyện và cấp tỉnh. Tại mỗi cấp đánh giá đều có sự tham gia tư vấn của Hội đồng đánh giá tiếp cận pháp luật cấp mình làm cơ sở, để người có thẩm quyền đánh giá quyết định việc đề xuất, công nhận địa phương đạt chuẩn. Việc đánh giá địa phương đạt chuẩn được thực hiện mỗi năm một lần, tính từ ngày 01 tháng 7 của năm trước đến ngày 30 tháng 6 của năm đánh giá. Kết quả tự đánh giá của UBND xã, phường gửi báo cáo UBND quận, huyện trước ngày 31 tháng 7 của năm đánh giá. UBND quận, huyện có trách nhiệm thẩm tra gửi báo cáo đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố khen thưởng xã, phường, đạt chuẩn tiếp cận pháp luật và tặng Bằng khen đối với xã, phường tiêu biểu về tiếp cận pháp luật cấp tỉnh trước ngày 20 tháng 8 của năm đánh giá. UBND cấp tỉnh gửi báo cáo kết quả đánh giá và đề nghị Bộ Tư pháp tặng Bằng khen đối với xã, phường, tiêu biểu về tiếp cận pháp luật toàn quốc trước ngày 20 tháng 9 của năm đánh giá. Điểm số tự đánh giá và quy định có liên quan đến việc đánh giá phải được niêm yết công khai tại trụ sở UBND để nhân dân biết và giám sát.

Về chủ thể đánh giá, biểu dương và đề nghị khen thưởng: Đối với cấp xã tiêu biểu về tiếp cận pháp luật cấp tỉnh: UBND cấp tỉnh sẽ xem xét, đánh giá và biểu dương, đồng thời đề nghị Chủ tịch UBND cấp tỉnh tặng Bằng khen. Đối với cấp xã tiêu biểu về tiếp cận pháp luật toàn quốc, cấp huyện tiêu biểu, cấp tỉnh tiêu biểu: Bộ Tư pháp sẽ xem xét, đánh giá và biểu dương, tặng Bằng khen hoặc đề nghị Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen.

Về kết quả khi địa phương được công nhn đạt chuẩn tiếp cn pháp lut: Cấp xã, huyện, tỉnh đạt chuẩn được cấp giấy chứng nhận; mức khen thưởng tương đương với mức tiền thưởng danh hiệu tập thể lao động xuất sắc.

2. Biểu dương địa phương tiêu biểu về tiếp cận pháp luật

Về đối tượng biểu dương: Việc biểu dương địa phương tiêu biểu về tiếp cận pháp luật được thực hiện đối với 03 cấp xã, huyện, tỉnh khi thỏa mãn các điều kiện để được biểu dương tiêu biểu. Số xã, phường được biểu dương tiêu biểu về tiếp cận pháp luật cấp tỉnh được lựa chọn không quá 15% số xã, phường đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của tỉnh; được biểu dương tiêu biểu về tiếp cận pháp luật toàn quốc với điều kiện mỗi tỉnh 01 đơn vị cấp xã, phường vàtổng số được công nhận không quá 3% số xã, phường đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của toàn quốc. Số quận, huyện được đề nghị biểu dương tiêu biểu về tiếp cận pháp luật toàn quốc không quá 10% số quận, huyện đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; số tỉnh, thành phố tiêu biểu được biểu dương tiêu biểu về tiếp cận pháp luật toàn quốc không quá 20% số tỉnh, thành phố đạt chuẩn tiếp cận pháp luật.

Về quy trình và thời điểm đánh giá, biểu dương tiêu biểu: Việc đánh giá, đề nghị biểu dương địa phương tiêu biểu về tiếp cận pháp luật được thực hiện 02 năm một lần. Mốc thời gian được tính từ ngày 01 tháng 7 của hai năm trước đến 30 tháng 6 của năm đánh giá; kết quả đánh giá và đề nghị biểu dương tiêu biểu về tiếp cận pháp luật được gửi cùng với hồ sơ đánh giá tiếp cận pháp luật của địa phương trong năm đánh giá tiêu biểu về tiếp cận pháp luật.

Về kết quả khi địa phương được công nhn tiêu biểu về tiếp cn pháp lut: Địa phương được biểu dương tiêu biểu về tiếp cận pháp luật thì được khen thưởng theo chuyên đề. Theo đó, xã, phường được biểu dương tiêu biểu về tiếp cận pháp luật cấp tỉnh được Chủ tịch UBND cấp tỉnh xem xét tặng Bằng khen; xã, phường, thị trấn được biểu dương tiêu biểu về tiếp cận pháp luật toàn quốc được UBND cấp tỉnh đề nghị Bộ trưởng Bộ Tư pháp xem xét, tặng Bằng khen; được Bộ trưởng Bộ Tư pháp xem xét, đề nghị Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen. Huyện, quận tiêu biểu về tiếp cận pháp luật toàn quốc được UBND cấp tỉnh đề nghị Bộ trưởng Bộ Tư pháp tặng Bằng khen; được Bộ trưởng Bộ Tư pháp đề nghị Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen trong số 10 Bằng khen cho cấp huyện được biểu dương tiêu biểu về tiếp cận pháp luật trong toàn quốc; tỉnh, thành phố được biểu dương tiêu biểu về tiếp cận pháp luật toàn quốc được Bộ Tư pháp đề nghị Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen

3. Các điều kiện bảo đảm triển khai thực hiện

Để triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng địa phương đạt chuẩn tiếp cận pháp luật theo Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg, theo chúng tôi cần phải thực hiện tốt một số điều kiện sau đây:

Thứ nhất, người dân và mỗi cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị phải nhận thức đúng đắn và đầy đủ về mục đích, ý nghĩa, vị trí, vai trò của chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở, để từ đó thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ có liên quan; tổ chức thực thi tốt các hoạt động công vụ thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Để thực hiện tốt yêu cầu này, các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp cần nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò, ý nghĩa của việc triển khai thực hiện nhiệm vụ này, coi đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, trong đó chính quyền cơ sở giữ vai trò nòng cốt. Từ nhận thức đúng đắn đó, cần tiếp tục tăng cường hơn nữa công tác chỉ đạo tuyên truyền, phổ biến, quán triệt sâu sắc nội dung, nhiệm vụ, quy định về chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở đến toàn thể cán bộ, công chức trong cả hệ thống chính trị mà trước hết và chủ yếu là đội ngũ cán bộ chủ chốt, trực tiếp được giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến chuẩn tiếp cận pháp luật ở cơ sở của các sở, ban, ngành, UBND cấp huyện, cấp xã, cơ quan, đơn vị và nhân dân để thống nhất nhận thức, nâng cao trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, hướng dẫn, triển khai và tổ chức thực hiện nhiệm vụ này, cả trước mắt và lâu dài, bảo đảm thiết thực, hiệu quả, không phô trương, hình thức.

Thứ hai, các bộ, ngành, địa phương, nhất là chính quyền các cấp và đội ngũ công chức cấp xã, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND các cấp phải nâng cao chất lượng, hiệu quả thực thi công vụ gắn với việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, để khi công dân, tổ chức thực hiện các quyền, nghĩa vụ thì hoạt động công vụ phải đáp ứng đầy đủ yêu cầu của người dân trên cơ sở các quy định của pháp luật với chất lượng tốt nhất; tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị mình phụ trách trong triển khai thực hiện, chủ động phối hợp với Ngành Tư pháp để triển khai thực hiện tốt Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg, kịp thời phát hiện vướng mắc, bất cập để đề xuất, tham mưu, trình cơ quan có thẩm quyền hoàn thiện thể chế, chính sách về xây dựng địa phương đạt chuẩn tiếp cận pháp luật.

Thứ ba, cần tiếp tục đánh giá hiệu quả thực thi công vụ của từng chức danh, cơ quan, đơn vị, rà soát các chỉ tiêu, tiêu chí tiếp cận pháp luật thuộc phạm vi lĩnh vực được giao để đề ra các giải pháp nhằm cải thiện điều kiện tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở. Để thực hiện tốt yêu cầu này, cấp ủy, chính quyền địa phương cần tiếp tục rà soát các chỉ tiêu, tiêu chí tiếp cận pháp luật và căn cứ vào điều kiện thực tế của địa phương để đề ra giải pháp khắc phục tồn tại, hạn chế, nhằm xây dựng địa phương đạt chuẩn vàtiêu biểu về tiếp cận pháp luật ở cả ba cấp xã, huyện, tỉnh; chỉ đạo, phân công nhiệm vụ cho các sở, ban, ngành, UBND cấp huyện trong việc tham mưu, giúp UBND cấp tỉnh theo dõi, hướng dẫn, chỉ đạo, đôn đốc việc thực hiện các tiêu chí, chỉ tiêu cụ thể; chỉ đạo, hướng dẫn UBND cấp huyện, cấp xã thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao theo quy định; xác định cụ thể mục tiêu, tỷ lệ cấp xã, huyện, tỉnh phấn đấu đạt chuẩn và tiêu biểu về tiếp cận pháp luật hằng năm.

Thứ tư, tiếp tục rà soát, hoàn thiện các thiết chế được giao nhiệm vụ xây dựng địa phương đạt chuẩn tiếp cận pháp luật và bộ máy bảo đảm thực hiện các thiết chế pháp luật; bố trí đủ nguồn lực kinh phí, cơ sở vật chất gắn với trách nhiệm xây dựng địa phương đạt chuẩn vàtiêu biểu về tiếp cận pháp luật theo Quyết định số 09/2013/ QĐ-TTg. Cần tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ của Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch cấp xãđể có đủ nguồn lực tham mưu thực hiện tốt nhiệm vụ giúp UBND cùng cấp quản lý nhà nước về xây dựng địa phương đạt chuẩn và tiêu biểu về tiếp cận pháp luật, thực hiện đánh giá, công nhận địa phương đạt chuẩn; thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thực hiện nhiệm vụ xây dựng địa phương đạt chuẩn và tiêu biểu về tiếp cận pháp luật. UBND các cấp cần sớm thành lập Hội đồng đánh giá tiếp cận pháp luật của cấp mình; chỉ đạo, hướng dẫn thành lập Hội đồng đánh giá tiếp cận pháp luật của cấp dưới để tham mưu, giúp chính quyền đánh giá, công nhận địa phương đạt chuẩn và tiêu biểu về tiếp cận pháp luật.

Thứ năm, sơ kết, tổng kết, đánh giá kết quả triển khai thực hiện theo quy định để kịp thời phát hiện những vướng mắc, bất cập, vấn đề mới phát sinh, phân tích, làm rõ nguyên nhân; rút ra những mô hình, cách làm hay, hiệu quả để nhân rộng hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung hoàn thiện thể chế, chính sách về xây dựng địa phương đạt chuẩn tiếp cận pháp luật.

Do nhiệm vụ xây dựng địa phương đạt chuẩn tiếp cận pháp luật có phạm vi rất rộng, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành; một số nội dung còn dẫn đến cách hiểu khác nhau, quy trình còn phức tạp; nhiều tiêu chí, chỉ tiêu còn định tính, thiếu định lượng cụ thể, thậm chí không khả thi; một số chính quyền cơ sở cũng chưa chuẩn bị đầy đủ tinh thần và điều kiện để triển khai thực hiện. Để khắc phục tình trạng này, Thời gian qua, Bộ Tư pháp đã và đang phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành và 05 địa phương được chọn thí điểm triển khai thực hiện tốt việc làm thử, kịp thời đánh giá những tác động (cả tích cực và tiêu cực) cũng như hiệu quả của việc triển khai thực hiện nhiệm vụ này. Căn cứ kết quả làm điểm, sớm tổng kết, đánh giá và báo cáo Thủ tướng Chính phủ, đồng thời kiến nghị, đề xuất việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg phù hợp với thực tế, bảo đảm Quy định về chuẩn tiếp cận pháp luật thực sự là phương pháp hữu hiệu góp phần đưa pháp luật vào đời sống.

TS. Đỗ Xuân Lân

Tài liệu tham khảo:

[1]. Như: Luật Luật sư, Luật Trợ giúp pháp lý, Luật Phổbiến, giáo dục pháp luật, Luật Hòa giải ởcơ sở, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Luật Tiếp công dân, Luật Báo chí, Luật Xử lý vi phạm hành chính và nhiều văn bản khác. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản, chương trình, Đề án để tổchức triển khai thực hiện; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương, nhất là Ngành Tư pháp tăng cường, đẩy mạnh hơn nữa công tác, phổbiến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý, tư vấn pháp luật, tiếp tục thúc đẩy phát triển thị trường dịch vụpháp lý, nhất là tại các địa bàn trọng điểm và hỗ trợ, ưu tiên triển khai thực hiện đối với một số đối tượng đặc thù thuộc diện Nhà nước và xã hội phải quan tâm giúp đỡ.

[2]. Xem thêm Điều 6 Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg - Điều kiện công nhận, xếp hạng, biểu dương địa phương đạt chuẩn và tiêu biểu về tiếp cận pháp luật.

[3]. Xem Điều 7 Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg - Quy trình đánh giá, công nhận và biểu dương khen thưởng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn và tiêu biểu về tiếp cận pháp luật

[4]. Xem Điều 8 Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg - Quy trình đánh giá, công nhận và biểu dương khen thưởng quận, huyện đạt chuẩn và tiêu biểu về tiếp cận pháp luật.

[5]. Xem Điều 9 Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg - Quy trình đánh giá, công nhận và biểu dương khen thưởng quận, huyện đạt chuẩn và tiêu biểu về tiếp cận pháp luật.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Theo dõi chúng tôi trên: