Thứ ba 17/03/2026 07:06
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề về chức năng giám sát của Ủy ban Tư pháp

Tóm tắt: Từ khi thành lập và đi vào hoạt động cho đến nay, chức năng giám sát luôn được Ủy ban Tư pháp của Quốc hội quan tâm thực hiện. Trong bài viết, tác giả bàn luận về một số vấn đề lý luận cũng như thực tiễn thực hiện chức năng giám sát của Ủy ban Tư pháp.

Tóm tắt: Từ khi thành lập và đi vào hoạt động cho đến nay, chức năng giám sát luôn được Ủy ban Tư pháp của Quốc hội quan tâm thực hiện. Trong bài viết, tác giả bàn luận về một số vấn đề lý luận cũng như thực tiễn thực hiện chức năng giám sát của Ủy ban Tư pháp.

Abstract: The supervision function has been paid attention to and implemented by the Justice Committee of the National Assembly since its formation and operation until now. In this paper, the author discusses some theoretical as well as practical issues of implementing supervision function of the Justice Committee.


1. Khái niệm chức năng giám sát của Ủy ban Tư pháp

Về từ ngữ, giám sát được hiểu là “theo dõi việc thực hiện những điều đã cam kết, quy định”[1] hay cụ thể hơn giám sát là việc “theo dõi, xem xét, đánh giá”, bao gồm: Hành vi quan sát (theo dõi, xem xét, cân nhắc) và hành vi phán quyết (đánh giá) đối với hoạt động (hành vi) của đối tượng chịu sự giám sát[2]. Xét từ góc độ tổ chức nhà nước, giám sát là một hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, là một phương thức đảm bảo quyền lực nhà nước được thực hiện đúng trong phạm vi, thẩm quyền, hình thức mà pháp luật đã quy định. Vì vậy, theo quy định pháp luật, giám sát được hiểu là “việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý”[3].

Trong lịch sử các học thuyết về Nhà nước thì vấn đề giám sát quyền lực luôn được nghiên cứu gắn bó hữu cơ với việc xây dựng cơ chế tổ chức quyền lực nhà nước; bất kỳ Nhà nước nào cũng tìm cách thiết lập một cơ chế giám sát hữu hiệu nhất để đảm bảo quyền lực nhà nước được sử dụng có hiệu quả, ngăn chặn sự vi phạm và chống lại sự lạm quyền từ phía các cơ quan công quyền. ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp[4]. Chính yêu cầu thống nhất, phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực là cơ sở cần thiết phải có sự giám sát của Quốc hội đối với hoạt động của Nhà nước.

Trong khi đó, theo Từ điển Luật học “chức năng của một cơ quan là những phương diện, loại hoạt động cơ bản để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình”[5] hay chức năng là phương diện hoạt động chủ yếu của một thiết chế (cơ quan, tổ chức)[6]. Khi nói đến chức năng của cơ quan nhà nước, có học giả cho rằng nó thể hiện lĩnh vực hoạt động chủ yếu của cơ quan nhà nước đó, nói cách khác đó là “địa hạt công việc nhà nước” mà cơ quan nhà nước đó phụ trách và chịu trách nhiệm thực hiện hiệu quả[7]. Khi tiếp cận theo khoa học tổ chức nhà nước, chức năng được hiểu là những phương diện hoạt động chủ yếu của tổ chức và nó được cụ thể hóa thành các nhiệm vụ, quyền hạn (bao gồm cả nhiệm vụ, quyền hạn của người đứng đầu)[8]. Như vậy, về cơ bản các quan điểm đều thống nhất rằng, chức năng của một cơ quan, tổ chức là những phương diện, loại hoạt động cơ bản, chủ yếu của cơ quan, tổ chức đó. Khi nói đến chức năng thì đó không phải là các hoạt động cụ thể, hoạt động thực tiễn mà các hoạt động cụ thể này chỉ là hình thức thể hiện của chức năng. Chức năng luôn gắn liền với bản chất, vai trò và mục đích của cơ quan, tổ chức và nó không phải là bất biến mà thay đổi cùng với sự phát triển, thay đổi bản chất, vị trí, vai trò của cơ quan, tổ chức trong từng giai đoạn, thời kỳ lịch sử nhất định.

Từ những khái niệm trên, có thể hiểu đơn giản, chức năng giám sát của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội Việt Nam chính là một phương diện, lĩnh vực hoạt động chủ yếu của Ủy ban, biểu hiện ở các hoạt động của Ủy ban nhằm theo dõi, xem xét hoạt động của đối tượng giám sát thuộc thẩm quyền trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý, góp phần tham mưu, giúp Quốc hội thực hiện tốt chức năng giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước.

2. Đặc điểm chức năng giám sát của Ủy ban Tư pháp

Thứ nhất, chức năng giám sát của Ủy ban Tư pháp luôn bám sát và phục vụ việc thực hiện các chức năng của Quốc hội mà trọng tâm là chức năng giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước

Chức năng của một cơ quan, tổ chức luôn phải bám sát và góp phần thực hiện chức năng chung của cơ quan, tổ chức mà cơ quan đó trực thuộc. Theo pháp luật hiện hành, Quốc hội có chức năng là lập hiến, lập pháp, giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước[9]. Ủy ban Tư pháp là cơ quan của Quốc hội[10], một bộ phận thuộc cơ cấu tổ chức bên trong của Quốc hội, nên các chức năng, nhiệm vụ của Ủy ban Tư pháp cũng phải nằm trong khuôn khổ và phục vụ mục đích thực hiện các chức năng của Quốc hội. Căn cứ vào quy định của pháp luật, Ủy ban Tư pháp (cũng như các Ủy ban khác của Quốc hội) có các chức năng thẩm tra, giám sát và kiến nghị. Từ kết quả thực hiện các chức năng này, Ủy ban Tư pháp sẽ đưa ra các kiến nghị, đề xuất giúp Quốc hội thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

Vì vậy, có thể khẳng định, chức năng giám sát của Ủy ban Tư pháp phải được tiến hành trong phạm vi hoạt động và chức năng của Quốc hội; phải xuất phát từ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban Tư pháp do Hiến pháp và pháp luật quy định[11]. Quốc hội có chức năng giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước, trong đó có lĩnh vực tư pháp và phòng, chống tham nhũng nên mới có thể quyết định giao chức năng, thẩm quyền giám sát về lĩnh vực tư pháp và giám sát việc phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng cho Ủy ban Tư pháp. Trong trường hợp Quốc hội có sự thay đổi chức năng, nhiệm vụ thì chức năng của Ủy ban Tư pháp cũng sẽ phải điều chỉnh thay đổi tương ứng.

Đặc điểm này còn được thể hiện rõ trong các quy định của pháp luật hiện hành. Theo đó, giám sát của Quốc hội được xác định là tổng thể các hoạt động bao gồm: Giám sát tối cao của Quốc hội, giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và các đại biểu Quốc hội[12]. Hiệu quả giám sát của Quốc hội được bảo đảm bằng hiệu quả giám sát tối cao của Quốc hội, giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và các đại biểu Quốc hội[13]. Nói cách khác, giữa chức năng giám sát của Quốc hội và chức năng giám sát của Ủy ban Tư pháp có mối quan hệ chặt chẽ, nằm trong một quy trình, chỉnh thể thống nhất. Vì Quốc hội có chức năng giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước và xuất phát từ yêu cầu phân công, phân nhiệm trong tổ chức nhằm bảo đảm hiệu quả giám sát nên Quốc hội quy định cho các Ủy ban, trong đó có Ủy ban Tư pháp thực hiện một số thẩm quyền giám sát. Ngược lại, khi Ủy ban Tư pháp thực hiện chức năng giám sát chính là thực hiện một khâu của quy trình giám sát của Quốc hội, qua đó giúp Quốc hội thực hiện tốt chức năng giám sát tối cao của mình tại kỳ họp.

Thứ hai, chức năng giám sát có liên quan chặt chẽ với các chức năng thẩm tra và kiến nghị của Ủy ban Tư pháp

Theo quy định hiện hành, Ủy ban Tư pháp có ba chức năng chính là thẩm tra, giám sát và kiến nghị. Trong đó, thẩm tra chính là việc Ủy ban Tư pháp tiến hành các hoạt động xem xét và bày tỏ quan điểm, đánh giá về các vấn đề trước khi trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định. Kiến nghị chính là việc Ủy ban Tư pháp đề xuất với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền để giải quyết về một vấn đề cụ thể thuộc thẩm quyền quyết định của mình. Giữa các chức năng này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó có thể thấy thẩm tra và giám sát là hai phương diện hoạt động chính, còn chức năng kiến nghị gần như là chức năng phái sinh từ hai chức năng trên; rất hiếm khi chức năng kiến nghị được thực hiện mà không dựa trên kết quả của việc thực hiện các chức năng giám sát hay thẩm tra.

Thông qua việc thực hiện chức năng giám sát, Ủy ban Tư pháp có thể thu thập thông tin thực tiễn để phục vụ việc thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết, bảo đảm các quy định được Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành hợp hiến, hợp pháp và phù hợp với thực tiễn; đồng thời, có thể kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xử lý văn bản quy phạm pháp luật, quyết định sửa chữa, khắc phục các thiếu sót, tồn tại, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Thông qua việc thực hiện chức năng thẩm tra, Ủy ban Tư pháp sẽ phát hiện những ưu điểm cũng như tồn tại, hạn chế trong hệ thống pháp luật, tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, bổ trợ tư pháp, từ đó có kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền để khắc phục; đồng thời, phát hiện những dấu hiệu sai sót, vi phạm hoặc những vấn đề mới sẽ được triển khai thực hiện để làm căn cứ theo dõi, tiến hành hoạt động giám sát. Thông qua việc thực hiện chức năng kiến nghị của mình, căn cứ các nội dung kiến nghị được cơ quan có thẩm quyền, cơ quan hữu quan chấp nhận thực hiện, Ủy ban Tư pháp có thể đánh giá về chất lượng, hiệu quả việc thực hiện các chức năng thẩm tra và giám sát của mình để có giải pháp khắc phục hạn chế, nâng cao hiệu quả thẩm tra, giám sát.

Thứ ba, chức năng giám sát của Ủy ban Tư pháp phải đáp ứng yêu cầu bảo đảm tính độc lập của Tòa án

Theo quy định của Hiến pháp, “thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của thẩm phán, hội thẩm”[14]. Đây là nguyên tắc quan trọng, đảm bảo tính khách quan, sự công minh của thẩm phán, hội thẩm trong hoạt động xét xử. Khi xét xử, thẩm phán, hội thẩm chỉ dựa trên quy định của pháp luật mà không chịu những hạn chế, những ảnh hưởng không phù hợp, dụ dỗ, sức ép, đe dọa hay can thiệp sai trái, trực tiếp hay gián tiếp từ bất cứ một nguồn nào hay vì bất cứ một lý do nào.

Trong khi đó, khi thực hiện chức năng giám sát, Ủy ban Tư pháp phải tiến hành các hoạt động xem xét, đánh giá về hoạt động của các cấp Tòa án, qua đó phát hiện những sai sót, hạn chế trong hoạt động của Ngành Tòa án nhân dân để kiến nghị biện pháp khắc phục, chấn chỉnh về tổ chức, hoạt động của các cấp Tòa án, góp phần xây dựng Ngành Tòa án trong sạch, vững mạnh, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Như vậy, để bảo đảm tính độc lập trong hoạt động xét xử của Tòa án, một trong những yêu cầu đặt ra khi tiến hành hoạt động giám sát là Ủy ban Tư pháp trong bất cứ hoàn cảnh nào, vì bất cứ lý do gì cũng không được gây sức ép, chi phối quan điểm, ý kiến, phán quyết của Hội đồng xét xử; không được can thiệp, tác động tới các thành viên của Hội đồng xét xử để buộc họ phải xét xử theo ý chí của mình. Muốn đạt được yêu cầu này, Ủy ban Tư pháp không được tiến hành giám sát khi vụ án đang trong quá trình xét xử; không được nêu hay kiến nghị về quan điểm đánh giá chứng cứ, quan điểm áp dụng pháp luật của Hội đồng xét xử trong giải quyết vụ án... Ủy ban Tư pháp cần xác định rõ mục tiêu của hoạt động giám sát là hướng đến việc hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật, tổ chức bộ máy, năng lực đội ngũ cán bộ, qua đó góp phần nâng cao chất lượng xét xử, chứ không phải là làm thay hoạt động xét xử của Tòa án.

3. Nội dung và các hình thức thực hiện chức năng giám sát của Ủy ban Tư pháp

Căn cứ quy định của Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 và các văn bản pháp luật có liên quan, nội dung chức năng giám sát của Ủy ban Tư pháp thể hiện qua các hoạt động sau:

- Giám sát việc thực hiện luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về hình sự, tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án, bổ trợ tư pháp, phòng, chống tham nhũng, tổ chức bộ máy của cơ quan tư pháp; giám sát hoạt động của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các bộ, cơ quan ngang bộ trong việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, bổ trợ tư pháp.

- Giám sát việc phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng[15].

- Giám sát văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thuộc lĩnh vực Ủy ban phụ trách[16]. Đó là các văn bản về hình sự, tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án, bổ trợ tư pháp, phòng, chống tham nhũng, tổ chức bộ máy của cơ quan tư pháp.

- Giám sát việc thực hiện ngân sách nhà nước, công tác phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân thuộc lĩnh vực Ủy ban phụ trách[17].

- Giám sát hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác (ngoài các đối tượng là Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các bộ, cơ quan ngang bộ) khi Ủy ban xét thấy cần thiết[18].

- Hoạt động giám sát khác theo sự phân công của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội[19].

Để thực hiện các hoạt động giám sát nêu trên, Ủy ban Tư pháp sử dụng các hình thức sau:

- Thẩm tra báo cáo của Chính phủ về công tác phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm, công tác thi hành án; thẩm tra các báo cáo công tác của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; chủ trì thẩm tra báo cáo của Chính phủ về công tác phòng, chống tham nhũng; thẩm tra đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về việc phê chuẩn, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; đề nghị của Chủ tịch nước về đại xá; các báo cáo, đề nghị, tờ trình khác theo sự phân công của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

- Theo dõi, đôn đốc việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực Ủy ban Tư pháp phụ trách; nghiên cứu, xem xét nội dung văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

- Giám sát chuyên đề;

- Tổ chức hoạt động giải trình;

- Giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân;

- Kiến nghị về việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn[20].

4. Một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện chức năng giám sát của Ủy ban Tư pháp

Một là, về phạm vi nội dung chức năng giám sát

Phạm vi giám sát của Ủy ban Tư pháp là rất rộng, khối lượng công việc thực tế ngày càng tăng, trong khi đa số thành viên Ủy ban Tư pháp hoạt động kiêm nhiệm, nên các hoạt động chủ yếu do Thường trực Ủy ban xem xét, chuẩn bị và gần như đóng vai trò quyết định. Số lượng thành viên trong Thường trực Ủy ban Tư pháp còn ít[21] nên không thể bao quát được hết các hoạt động của Ủy ban. Ủy ban còn thiếu các thành viên am hiểu, có kiến thức chuyên sâu về những lĩnh vực đặc thù. Cơ chế, chính sách còn chưa đáp ứng yêu cầu để có thể huy động các chuyên gia giỏi, am hiểu về từng lĩnh vực nên thực tế Ủy ban Tư pháp chưa có đủ điều kiện giám sát toàn diện, chuyên sâu ở nhiều lĩnh vực. Tham khảo kinh nghiệm của Quốc hội/Nghị viện một số nước cho thấy, lĩnh vực giám sát việc phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng, giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo đã được giao cho một cơ quan phụ trách (Ví dụ: Thanh tra Quốc hội Thụy Điển, Đan Mạch, Canada…). Vì vậy, để bảo đảm hiệu quả thực chất trong công tác giám sát của Ủy ban Tư pháp, đáp ứng yêu cầu chuyên môn hóa hơn nữa trong hoạt động của Quốc hội, cần thiết phải nghiên cứu, tách thêm một số nhiệm vụ (như giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; giám sát việc thực hiện ngân sách nhà nước của các cơ quan tư pháp...) và giao cho cơ quan khác của Quốc hội thực hiện.

Hai là, về việc Ủy ban Tư pháp có hay không được giám sát việc giải quyết các vụ án cụ thể

Về vấn đề này, quan điểm tán thành thì cho rằng, Ủy ban Tư pháp hoàn toàn có thẩm quyền tiến hành giám sát đối với việc giải quyết các vụ án cụ thể và hoạt động này là cần thiết, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; đồng thời Ủy ban Tư pháp có được những căn cứ xác đáng trong việc đánh giá chất lượng hoạt động, nhất là việc tuân thủ pháp luật trong hoạt động của các cơ quan tư pháp. Thực tế cho thấy, Ủy ban Tư pháp không làm thay các cơ quan hữu quan trong việc sửa chữa những sai sót vi phạm trong các bản án, quyết định của Tòa án mà thông qua hoạt động giám sát, Ủy ban Tư pháp đưa ra những kết luận kiến nghị để các cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết[22].

Tuy nhiên, một số ý kiến khác cho rằng, việc giám sát vụ án cụ thể có thể phải đi đến kết luận đúng sai thì khó tránh khỏi việc đánh giá chứng cứ vụ án[23]; việc chất vấn thiết chế công lý còn có thể gây ra những méo mó về thể chế, Tòa án sẽ có xu hướng xử cho vừa lòng Quốc hội, chứ không còn vô tư phụng sự công lý[24]. Ngay trong quá trình nghiên cứu, đề xuất việc thành lập Ủy ban Tư pháp, có ý kiến cho rằng, cần phải quy định chặt chẽ quyền hạn, chức năng của Ủy ban Tư pháp, bởi vì cách thức hoạt động của Ủy ban Pháp luật thời gian qua đã dần dần biến thành một cấp tòa thứ tư sau phúc thẩm và giám đốc thẩm khi xét lại các bản án của Hội đồng thẩm phán; như thế đã biến cuộc xét xử thành vô cùng tận, không bao giờ kết thúc[25].

Mỗi quan điểm trên đây đều có khía cạnh hợp lý để nghiên cứu. Tuy nhiên, để bảo đảm tính độc lập trong hoạt động xét xử, tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai, việc tổ chức thực hiện chức năng giám sát của Ủy ban Tư pháp cần tập trung vào các vấn đề ở tầm “vĩ mô”, giám sát trách nhiệm chính trị của người đứng đầu các cơ quan tư pháp để từ đó đề xuất, kiến nghị các biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp, chứ không nên sa đà vào các vụ việc cụ thể, không nên đánh giá tính đúng, sai trong phán quyết của Tòa án. Xu hướng này cũng phù hợp với cơ cấu tổ chức, tính chất hoạt động và năng lực thực tiễn của Ủy ban Tư pháp trong giai đoạn hiện nay.

ThS. Cao Mạnh Linh

Văn phòng Quốc hội







[1]. Nguyễn Văn Đạm (1999), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội, tr. 327.

[2]. Quốc hội Việt Nam và Cơ quan hợp tác và phát triển quốc tế Thụy điển (SIDA), Nghiên cứu đánh giá hiệu quả thực hiện Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015, Hà Nội, 2007.

[3]. Khoản 1 Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015.

[4]. Khoản 3 Điều 2 Hiến pháp năm 2013.

[5]. Nguyễn Văn Đạm (1999), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội, tr.168.

[6]. Từ điển Luật học, Nxb. Bách khoa từ điển Việt Nam, tr. 162.

[7]. PGS.TS. Tô Văn Hòa, Trường Đại học Luật Hà Nội, Một số điểm mới về vị trí, chức năng của Quốc hội trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. http://moj.gov.vn/qt/cacchuyenmuc/ctv/news/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemId=17, truy cập ngày 17/5/2016.

[8]. TS. Tạ Ngọc Hải, Viện Khoa học tổ chức Nhà nước, Khái niệm, phân loại và các đặc trưng cơ bản của tổ chức từ giác độ khoa học tổ chức nhà nước, http://isos.gov.vn/Thongtinchitiet/tabid/84/ArticleId/779/language/vi-VN/Khai-niem-phan-loai-va-cac-dac-trung-co-ban-cua-to-chuc-tu-giac-do-khoa-hoc-to-chuc-nha - nước.aspx/, truy cập ngày 12/5/2016.

[9]. Khoản 2 Điều 1 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014.

[10]. Điều 66 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014.

[11]. TS. Nguyễn Đình Quyền, Giám sát của Ủy ban Tư pháp đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 5/2011.

[12]. Khoản 5 Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015.

[13]. Khoản 2 Điều 10 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015.

[14]. Khoản 2 Điều 103 Hiến pháp năm 2013.

[15]. Xem khoản 4 Điều 71 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014.

[16]. Xem khoản 5 Điều 71 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014.

[17]. Khoản 6 Điều 79 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014.

[18]. Khoản 2 Điều 4 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015.

[19]. Điểm c khoản 1 Điều 4 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015.

[20]. Điều 37 đến Điều 45 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015

[21]. Khóa XII có 08 đại biểu là Thường trực Ủy ban/34 thành viên Ủy ban, chiếm tỷ lệ 24%; khóa XIII có 09 đại biểu là Thường trực Ủy ban/30 thành viên Ủy ban, chiếm tỷ lệ 30%; khóa XIV có 09 đại biểu là Thường trực Ủy ban/39 thành viên Ủy ban, chiếm tỷ lệ 23%.

[22]. Nguyễn Đình Quyền, Giám sát của Ủy ban Tư pháp đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 5/2011.

[23]. Nguyễn Mạnh Cường - Hoàng Nam Hải, Cơ chế giám sát hoạt động của các cơ quan tư pháp trên thế giới và ở Việt Nam, sách “Cải cách tư pháp vì một nền tư pháp liêm chính”, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014, tr. 232.

[24]. Nguyễn Sỹ Dũng, Bàn về Quốc hội và những thách thức của khái niệm, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2017, tr 90.

[25]. Theo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh số 8/9/2006.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: